Động dung mạo, chính nhan sắc, xuất từ khí: Sửa sang dung mạo, chỉnh lại nét mặt, nói lời lễ phép

[ChanhKien.org]

Nguyên văn

Hán Việt

Tăng Tử hữu tật, Mạnh Kính Tử vấn chi. Tăng Tử ngôn viết: “Điểu chi tương tử, kỳ minh dã ai; nhân chi tương tử, kỳ ngôn dã thiện. Quân tử sở quý hô đạo giả tam: Động dung mạo, tư viễn bạo mạn hĩ ; chính nhan sắc, tư cận tín hĩ; xuất từ khí, tư viễn bỉ bội hĩ. Biên đậu chi sự, tắc hữu tư tồn.” (Luận ngữ – Thái Bá đệ bát)

Phiên âm

Zēngzǐ yǒu jí, Mèng Jìngzǐ wèn zhī. Zēngzǐ yán yuē: “Niǎo zhī jiàng sǐ, qí míng yě āi; rén zhī jiàng sǐ, qí yán yě shàn. Jūnzǐ suǒ guì hū dào zhě sān: Dòng róngmào, sī yuǎn bào màn yǐ; zhèng yánsè, sī jìn xìn yǐ; chū cí qì, sī yuǎn bǐ bèi yǐ. Biān dòu zhī shì, zé yǒu sī cún.” (“Lúnyǔ·Tài Bó dì bā”)

Chú âm

曾 (ㄗㄥ) 子 (ㄗˇ) 有 (ㄧㄡˇ) 疾 (ㄐㄧˊ),孟 (ㄇㄥˋ) 敬 (ㄐㄧㄥˋ) 子 (ㄗˇ) 问 (ㄨㄣˋ) 之 (ㄓ)。曾 (ㄗㄥ) 子 (ㄗˇ) 言 (ㄧㄢˊ) 曰 (ㄩㄝ):“鸟 (ㄋㄧㄠˇ) 之 (ㄓ) 将 (ㄐㄧㄤ) 死 (ㄙˇ),其 (ㄑㄧˊ) 鸣 (ㄇㄧㄥˊ) 也 (ㄧㄝˇ) 哀 (ㄞ);人 (ㄖㄣˊ) 之 (ㄓ) 将 (ㄐㄧㄤ) 死 (ㄙˇ),其 (ㄑㄧˊ) 言 (ㄧㄢˊ)也 (ㄧㄝˇ) 善 (ㄕㄢˋ)。君 (ㄐㄩㄣ) 子 (ㄗˇ) 所 (ㄙㄨㄛˇ) 贵 (ㄍㄨㄟˋ) 乎 (ㄏㄨ) 道 (ㄉㄠˋ) 者 (ㄓㄜˇ) 三 (ㄙㄢ):动 (ㄉㄨㄥˋ) 容 (ㄖㄨㄥˊ) 貌 (ㄇㄠˋ),斯 (ㄙ) 远 (ㄩㄢˇ) 暴 (ㄅㄠˋ) 慢 (ㄇㄢˋ) 矣 (ㄧˇ);正 (ㄓㄥˋ) 颜 (ㄧㄢˊ) 色 (ㄙㄜˋ),斯 (ㄙ) 近 (ㄐㄧㄣˋ) 信 (ㄒㄧㄣˋ) 矣 (ㄧˇ);出 (ㄔㄨ) 辞 (ㄘˊ) 气 (ㄑㄧˋ),斯 (ㄙ) 远 (ㄩㄢˇ) 鄙 (ㄅㄧˇ) 倍 (ㄅㄟˋ) 矣 (ㄧˇ)。笾 (ㄅㄧㄢ) 豆 (ㄉㄡˋ) 之 (ㄓ) 事 (ㄕˋ),则 (ㄗㄜˊ) 有 (ㄧㄡˇ) 司 (ㄙ) 存 (ㄘㄨㄣˊ)。” (论 (ㄌㄨㄣˊ) 语 (ㄩˇ) · 泰 (ㄊㄞˋ) 伯 (ㄅㄛˊ) 第 (ㄉㄧˋ) 八 (ㄅㄚ)》)

Chú thích

1. 孟敬子 (Mạnh Kính Tử): chỉ đại phu nước Lỗ Mạnh Tôn Tiệp.

2. 问 (vấn): đi thăm hỏi.

3. 动容貌 (động dung mạo): ngoại hình và cử chỉ phù hợp với lễ.

4. 暴慢 (bạo mạn): thô bạo, ngang ngược.

5. 正颜色 (chính nhan sắc): giữ cho nét mặt đoan trang, nghiêm túc.

6. 出辞气 (xuất từ khí): nói năng, trò chuyện. Ở đây ý nói rằng khi trò chuyện cần chú ý đến ngôn từ và giọng điệu. “Từ khí” nghĩa là giọng điệu.

7. 鄙倍 (bỉ bội): 鄙 (bỉ) nghĩa là thô bỉ, lỗ mãng. 倍 (bội) đồng âm với từ “背” (bội-quay lưng) nghĩa là làm trái với lẽ thường.

8. 笾豆之事 (biên đậu chi sự): ý chỉ những vật dụng được sử dụng trong hoàn cảnh cụ thể. Biên (cái giỏ) và đậu (cái đĩa có đế) là hai vật dụng được sử dụng để bày biện trong việc cúng tế và lễ nghi thời cổ đại.

9. 有司 (hữu tư): chỉ một vị quan chuyên cai quản một công việc nào đó. Ở đây ý nói là vị quan cai quản việc tế tự, lễ nghi.

Dịch nghĩa

Khi Tăng Tử lâm bệnh nặng, Mạnh Kính Tử đã đi thăm hỏi ông. Tăng Tử nói với ông rằng: “Khi con chim gần chết thì tiếng hót của nó vô cùng bi ai; khi con người ta gần chết thì sẽ nói những lời thiện lương. Một người quân tử cần chú ý đến ba đạo lý này trong việc đối nhân xử thế: Biết giữ cho tướng mạo và cử chỉ của mình phù hợp với lễ thì có thể tránh được sự thô bạo, ngang ngược của người khác; giữ cho vẻ mặt đoan trang thì sẽ đến gần với sự thành tín; giữ cho lời nói và giọng điệu cẩn trọng, đúng mực thì có thể tránh được những lời lẽ thô tục trái đạo lý của người khác. Còn những việc nhỏ nhặt như cúng tế và lễ tiết thì đều có những vị quan chuyên trách đảm nhiệm.”

Nghiên cứu và phân tích

Chương này chủ yếu nói về cốt cách của người quân tử đó là cần chú trọng đến dung mạo, nét mặt, ngôn từ cho thỏa đáng và phù hợp lễ nghi. Tăng Tử và Mạnh Kính Tử vốn có lập trường chính trị đối lập nhau. Ngay cả khi Tăng Tử gần mất, ông vẫn cố gắng thay đổi thái độ của Mạnh Kính Tử, vì thế ông nói rằng: “Người ta khi gần chết sẽ nói những lời thiện lương”. Điều này có nghĩa là lời ông nói với Mạnh Kính Tử không hề có ác ý, đồng thời cũng bảo Mạnh Kính Tử rằng làm người quân tử cần chú ý đến ba phương diện này.

Cho đến nay, những đạo lý này vẫn vô cùng ý nghĩa và là tấm gương soi cho việc tu dưỡng đạo đức, đối nhân xử thế của mỗi người. Người ta thường nói rằng: “Nhân tất tự trọng nhi hậu nhân trọng chi” (Một người phải biết tôn trọng mình trước khi người khác tôn trọng mình). Khi chúng ta xảy ra mâu thuẫn với những người xung quanh, hãy cứ “tự xét lấy mình” xem mình có chỗ nào hành xử chưa hợp lễ. Như vậy thì có thể dễ dàng tìm ra điểm mấu chốt và cải thiện hơn nữa.

Câu hỏi mở rộng

1. Hãy phân tích tại sao Tăng Tử nói rằng “Nhân chi tương tử, kỳ ngôn dã thiện” (Người ta khi gần chết sẽ nói những lời thiện lương)?

2. Hãy chia sẻ một ví dụ cho thấy sự ước thúc của bản thân đã ảnh hưởng đến cảm nhận của người khác về mình như thế nào.

Câu chuyện thành ngữ

Tăng Tử rời chỗ

Trần Y là người Lạc Châu sống vào thời cuối nhà Tùy đầu nhà Đường. Có một lần ông và mấy người anh trai cùng nghe cha giảng chương một trong “Lão Kinh”.

Cha nói: “Người thời xưa không có ghế nên toàn phải ngồi dưới đất. Khi Khổng Tử giảng bài cho các đệ tử của mình thì mọi người cũng đều ngồi trên chiếu. Một hôm, trong khi giảng bài Khổng Tử đột nhiên đưa ra một câu hỏi và gọi đệ tử của ông là Tăng Tử trả lời. Tăng Tử thấy thầy gọi mình trả lời câu hỏi thì vội vã đứng dậy, đứng sang một bên, chắp hai tay, kính cẩn lễ phép trả lời câu hỏi mà Khổng Tử đưa ra”.

“Đây chính là câu chuyện Tăng Tử tị tịch (Tăng Tử đứng ra khỏi chiếu). Các con đã hiểu chưa?”

Mấy anh trai đều nói con hiểu rồi, duy chỉ có Trần Y đứng dậy, chỉnh trang y phục, đứng sang một bên và kính cẩn lễ phép đáp: “Con hiểu rồi.”

Về sau Trần Y đã xuất gia làm hòa thượng và lấy pháp danh là Huyền Trang.

(Trích “Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyền quyển đệ nhất”)

Bài tập

Hãy chia sẻ cảm nghĩ của bạn về câu chuyện Tăng Tử tị tịch (Tăng Tử đứng ra khỏi chiếu).

Gợi ý

– Tinh thần kính trọng thầy của Tăng Tử (phù hợp với tinh thần ước thúc bản thân của chương này).

– Ngộ tính của Huyền Trang.

Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/48868