Trang chủ Right arrow Văn hóa Right arrow Văn hóa truyền thống

Tinh giải Luận ngữ (73): Lễ

16-03-2026

[ChanhKien.org]

Nguyên văn

Hán Việt

Tử viết: “Cung nhi vô lễ tắc lao, thận nhi vô lễ tắc tỉ, dũng nhi vô lễ tắc loạn, trực nhi vô lễ tắc giảo. Quân tử đốc vu thân, tắc dân hưng vu nhân. Cố cựu bất di, tắc dân bất thâu.” (Luận ngữ – Thái bá đệ bát)

Chú thích

1. Lao (勞): Mệt mỏi

2. Tỉ (葸): Đồng âm với chữ “hỷ” (喜), nghĩa là sợ hãi, nao núng

3. Giảo (絞): Cấp thiết, bức thiết

4. Thâu (偷): Tình cảm thờ ơ, lạnh nhạt

Diễn giải

Khổng Tử nói rằng: “Nếu cứ yêu cầu cung kính mà không biết dùng lễ để tiết chế thì sẽ mệt mỏi; nếu cứ yêu cầu cẩn thận mà không biết dùng lễ để tiết chế thì sẽ trở nên hèn hạ, nhát gan; nếu cứ cậy vào sự dũng cảm mà không biết dùng lễ để tiết chế thì sẽ gây ra rắc rối, họa loạn; nếu cứ cư xử một cách sòng phẳng mà không biết dùng lễ để tiết chế thì sẽ trở nên cay nghiệt mà làm tổn thương người khác. Người ở vị trí cao có thể tiếp đãi nồng hậu với người lớn tuổi thì bách tính tự nhiên sẽ khởi lên tấm lòng nhân hậu. Người ở vị trí cao có thể không lãng quên, bỏ rơi những bằng hữu năm xưa thì bách tính cũng không đối xử lạnh nhạt với nhau”.

Nghiên cứu và phân tích

“Lễ” là một phạm trù quan trọng trong học thuyết tư tưởng của Khổng Tử, một chuẩn mực hành vi xã hội có nguồn gốc từ xa xưa. Dưới cái nhìn của Khổng Tử, “Lễ” là chuẩn tắc ứng xử mà ai ai cũng cần tuân thủ, từ bậc thiên tử cho đến người dân thường. Khái niệm “Lễ” của Khổng Tử bao gồm hai phương diện là tinh thần bên trong và hình thức bên ngoài. Tinh thần bên trong chính là nhân tố duy trì chế độ đẳng cấp tông pháp của thời đó và các quan hệ luân lý tương ứng. Trong “Lễ ký – Ai Công vấn”, ông đã chỉ rõ ra rằng: “Phi lễ, vô dĩ tiết sự thiên địa chi thần dã; phi lễ, vô dĩ biện quân thần thượng hạ trưởng ấu chi vị dã; phi lễ, vô dĩ biệt nam nữ phụ tử huynh đệ chi thân, hôn nhân sơ sổ chi giao dã” (Nếu không có lễ thì con người sẽ không biết thờ phụng Thần linh trong trời đất cho đúng phép tắc, không có lễ thì sẽ không phân biệt được tôn ti giữa quân và thần, giữa kẻ trên người dưới, giữa người già trẻ nhỏ, không có lễ thì sẽ không phân biệt được mối quan hệ nam nữ, cha con, anh em và các quan hệ xa gần trong hôn nhân như vợ chồng, thông gia…). Vì vậy ông cho rằng điều quan trọng hơn cả của lễ không phải ở hình thức bên ngoài mà chính là tinh thần bên trong.

Hình thức bên ngoài của “Lễ” bao gồm các nghi thức lễ tiết như tế tự, quân lữ, cưới hỏi, ma chay, hội minh (thời xưa chư hầu gặp nhau để kết thành đồng minh). Khổng Tử cho rằng, chú trọng tinh thần bên trong của “Lễ” đương nhiên quan trọng, nhưng tinh thần đó rốt cuộc vẫn cần dựa vào hình thức bên ngoài để thể hiện ra. Vì vậy đối với những nghi thức lễ tiết này, Khổng Tử không chỉ chăm chỉ học tập, tự thân thực hành, hơn nữa còn yêu cầu các đệ tử nghiêm ngặt tuân thủ. Ông đã dạy Nhan Uyên rằng “phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động” (không hợp lễ chớ nhìn, không hợp lễ chớ nghe, không hợp lễ chớ nói, không hợp lễ chớ làm) (Trích “Luận ngữ – Nhan Uyên”). Ông nói rằng: “Cung nhi vô lễ tắc lao, thận nhi vô lễ tắc tỉ, dũng nhi vô lễ tắc loạn, trực nhi vô lễ tắc giảo” (Cung kính mà không có lễ thì sẽ mệt mỏi, cẩn trọng mà không có lễ thì sẽ hèn nhát, dũng mãnh mà không có lễ thì sẽ loạn, thẳng thắn mà không có lễ thì sẽ gây tổn thương cho người khác) (Trích “Luận ngữ – Thái bá”).

Chuẩn tắc hành vi mà “Lễ” đề cập đến cũng có tính giáo hóa với cốt lõi là yêu cầu con người thông qua việc tăng cường tu dưỡng và tự giác ước thúc bản thân để đạt được sự hài hòa trong quan hệ giữa người với người nên về mặt tinh thần “lễ” cũng có liên hệ quán thông, hoà quyện lòng nhân đức. Vì vậy Khổng Tử đã kết hợp hai điều này lại, cho rằng “Khắc kỷ phục lễ vi nhân. Nhất nhật khắc kỷ phục lễ, thiên hạ quy nhân yên” (Ước thúc bản thân, để ngôn hành phù hợp với lễ chính là nhân đức. Nếu làm được như vậy dù chỉ một ngày thì thiên hạ cũng sẽ quy hướng về nhân đức) (Trích “Luận ngữ – Nhan Uyên”).

Câu hỏi mở rộng

1. Bạn thử nghĩ lại những lời nói, cử chỉ của mình trong cuộc sống hàng ngày có những cái nào phù hợp với quy phạm của lễ? Những cái nào chưa phù hợp với lễ và cần sửa đổi?

2. Bầu không khí nhân hậu và thiện lương là điều mà ai ai cũng yêu mến, bất kể là ở ngoài xã hội, trong gia đình hay ở trường học, nhưng để có được hoàn cảnh tốt đẹp ấy thì cần phải nhờ nỗ lực của tất cả mọi người. Bạn cho rằng mình có thể làm được những điều đó không?

Câu chuyện thành ngữ

An bộ đương xa (Đi bộ cũng như ngồi xe)

Nhan Xúc là một vị hiền sĩ nước Tề vào thời chiến quốc. Ông là người coi nhẹ công danh lợi lộc, không chỉ hiểu biết sâu rộng, phẩm chất cao thượng mà còn sống rất giản dị.

Một hôm, Tề Tuyên Vương vì ngưỡng mộ danh tiếng mà triệu kiến ông. Tề Tuyên Vương nhìn thấy Nhan Xúc liền nói: “Nhan Xúc hãy qua đây”. Không ngờ, Nhan Xúc cũng đáp lại nhà vua với ngữ điệu tương tự: “Đại Vương xin ngài hãy qua đây”.

Tề Tuyên Vương vô cùng tức giận. Các đại thần bên cạnh Tuyên Vương lần lượt nói với Nhan Xúc rằng: “Đại vương là quân, nhà ngươi là thần, làm sao ngươi dám gọi đại vương với giọng điệu vô lễ thế!” Nhan Xúc nói: “Nếu tôi tiến về phía trước tức là tôi vì tham luyến quyền quý mà bợ đỡ xu nịnh, nhưng nếu đại vương có thể đi qua phía tôi thì chứng tỏ rằng đại vương là một vị minh quân biết chiêu hiền đãi sĩ, như vậy chẳng phải là tốt sao?”

Tề Tuyên Vương nghe xong không kìm nổi sự tức giận lớn tiếng hỏi: “Vậy ngươi nói xem rốt cuộc quân vương hay là kẻ hiền sĩ mới là tôn quý?” Nhan Xúc điềm tĩnh trả lời: “Đương nhiên là kẻ hiền sĩ, điều này là có căn cứ lịch sử. Xưa kia khi Tần Vương tấn công nước Tề đã từng hạ lệnh rằng: ‘Kẻ nào dám đốn củi trong vòng 50 bước quanh mộ của hiền sĩ Liễu Hạ Huệ thì sẽ bị xử tội chết’. Đồng thời còn ra một lệnh khác rằng: ‘Ai dám chém thủ cấp của Tề Vương sẽ được phong hầu và ban thưởng ngàn vàng’. Từ đó có thể thấy rằng ngay cả cái đầu của quân vương một nước cũng không bằng ngôi mộ của một bậc hiền sĩ!”

Tề Tuyên Vương nghe xong tự cảm thấy đuối lý, liền nghĩ cách dùng vinh hoa phú quý để giữ chân Nhan Xúc. Nhưng, Nhan Xúc lập tức từ chối khéo rằng: “Thần vốn quen cảnh cơm canh đạm bạc, mong rằng đại vương cho thần được lui về, thần cảm thấy đi bộ chầm chậm cũng giống như ngồi xe vậy, lùi thời gian ăn cơm để cho bụng đói thêm chút rồi ăn cũng ngon như ăn thịt vậy, thần tự cảm nhận được niềm vui trong thanh tịnh vô vi. Những điều thần tử nên nói thần đều đã nói rồi, xin đại vương hãy cho thần được lui về sống cuộc sống tự lực cánh sinh”. Nói xong ông liền bái biệt Tuyên Vương và rời đi.

Ý nghĩa của câu “An bộ đương xa” là coi việc đi bộ chầm chậm cũng giống như được ngồi trên xe. Người đời sau dùng câu ấy làm thành ngữ để chỉ những người cần cù tiết kiệm, không ham vinh hoa phú quý, biết hài lòng với cuộc sống nghèo khó.

Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/48868

« Bài trước

Ban Biên Tập Chánh Kiến

Mọi bài viết, hình ảnh, hay nội dung khác đăng trên ChanhKien.org đều thuộc bản quyền của trang Chánh Kiến. Vui lòng chỉ sử dụng hoặc đăng lại nội dung vì mục đích phi thương mại, và cần ghi lại tiêu đề gốc, đường link URL, cũng như dẫn nguồn ChanhKien.org.

Loạt bài