Vũ, ngô vô gian nhiên hĩ: Ta quả thực không tìm thấy khuyết điểm nào ở Vũ để phê bình
[ChanhKien.org]
Nguyên văn
子曰:“禹,吾无间(1)然矣。菲(2)饮食而致(3)孝乎鬼神,恶衣服而致美乎黻冕(4);卑(5)宫室而尽力乎沟洫(6)。禹,吾无间然矣。”(《论语·泰伯第八》)
Hán Việt
Tử viết: “Vũ, ngô vô gian nhiên hĩ. Phi ẩm thực nhi trí hiếu hô quỷ thần, ác y phục nhi trí mỹ hô phất miện; ti cung thất nhi tận lực hô câu dật. Vũ, ngô vô gian nhiên hĩ.” (Luận ngữ – Thái Bá đệ bát)
Phiên âm
Zǐ yuē: “Yǔ, wú wú jiàn rán yǐ. Fěi yǐn shí ér zhì xiào hū guǐ shén, è yīfú ér zhì měi hū fú miǎn; bēi gōngshì ér jìn lì hū gōu xù. Yǔ, wú wú jiàn rán yǐ.” (“Lúnyǔ·Tàibó dì bā”)
Chú âm
子 (ㄗ˙) 曰 (ㄩㄝ):“禹 (ㄩˇ),吾 (ㄨˊ) 无 (ㄨˊ) 间 (ㄐㄧㄢˋ) 然 (ㄖㄢˊ) 矣 (ㄧˇ)。菲 (ㄈㄟ) 饮 (ㄧㄣˇ) 食 (ㄕˊ) 而 (ㄦˊ) 致 (ㄓˋ) 孝 (ㄒㄧㄠˋ)乎 (ㄏㄨ) 鬼 (ㄍㄨㄟˇ) 神 (ㄕㄣˊ),恶 (ㄜˋ) 衣 (ㄧ) 服 (ㄈㄨˊ) 而 (ㄦˊ) 致 (ㄓˋ) 美 (ㄇㄟˇ) 乎 (ㄏㄨ) 黻 (ㄈㄨˊ) 冕 (ㄇㄧㄢˇ);卑 (ㄅㄟ) 宫 (ㄍㄨㄥ) 室 (ㄕˋ) 而 (ㄦˊ) 尽 (ㄐㄧㄣˋ) 力 (ㄌㄧˋ) 乎 (ㄏㄨ) 沟 (ㄍㄡ) 洫 (ㄒㄩˋ)。禹 (ㄩˇ),吾 (ㄨˊ) 无 (ㄨˊ) 间 (ㄐㄧㄢˋ) 然 (ㄖㄢˊ) 矣 (ㄧˇ)。”(《论 (ㄌㄨㄣˊ) 语 (ㄩˇ) ·泰 (ㄊㄞˋ) 伯 (ㄅㄛˊ) 第 (ㄉㄧˋ) 八 (ㄅㄚ)》)
Chú thích
1. 间 (Gian): Trong tiếng Hán đồng âm với từ “见” (kiến), có nghĩa là khe hở, khoảng trống. Ở đây ý chỉ không có gì để chê trách.
2. 菲 (Phi): Đạm bạc, không phong phú.
3. 致 (Trí): Dốc sức, nỗ lực.
4. 黻冕 (Phất miện): Trong tiếng Hán đồng âm với từ “福” (phúc) và “勉” (miễn), lễ phục mặc khi tế tự gọi là phất, mũ đội khi tế tự gọi là miện.
5. 卑 (Ti): Thấp bé.
6. 沟洫 (Câu hức): Chữ “洫” (hức) trong tiếng Hán đồng âm với chữ “续” (tục), có nghĩa kênh rạch, kênh mương.
Diễn nghĩa
Khổng Tử nói rằng: “Ta quả thực không tìm thấy khuyết điểm nào ở Vũ để phê bình; ông ấy ăn uống rất đạm bạc nhưng lại hết lòng hiếu kính quỷ Thần; trang phục thường ngày tuy giản dị nhưng khi tế tự thì rất đẹp và chỉn chu, cung thất nơi ông ở sơ sài nhưng lại dốc sức tu sửa cầu cống, kênh mương. Ta quả thực không tìm thấy khuyết điểm nào ở Vũ để phê bình.”
Nghiên cứu và phân tích
Khổng Tử đánh giá rất cao Vua Vũ. Ông thân làm quân vương nhưng lại sống vô cùng giản dị và hết mực kính úy quỷ Thần, là tấm gương mẫu mực của người chấp chính. Sống giản dị thì có thể gần gũi với dân, không đao to búa lớn, không nô dịch người dân xây dựng cung điện hay kiến trúc nguy nga tráng lệ; kính úy quỷ Thần thì có thể thuận theo Thiên lý, lấy đức trị quốc để được quốc thái dân an. Khi câu nói “Trời giúp kẻ tự cường” (Thiên trợ tự trợ giả) thể hiện ở những bậc quân vương anh minh sáng suốt thì chính là thiên hạ được thái bình thịnh trị.
Nhìn lại thời đại hiện nay, không ít người vì xả thân truy cầu công danh lợi lộc, quyền lực tài phú mà đặt cuộc sống của người dân và sự giàu mạnh của quốc gia vào vị trí thứ yếu, thậm chí là không quan tâm. Nghe chuyện xưa ngẫm chuyện nay, câu nói của Khổng Tử vẫn có giá trị tham khảo rất lớn cho những người cầm quyền và các nhà lãnh đạo quốc gia hiện nay.
Câu hỏi mở rộng
1. Trong cuộc sống bạn có chú trọng đến đồ ăn và quần áo không? Tại sao? Trong việc này có ẩn chứa tâm chấp trước (sự cố chấp) nào không?
2. Tại sao một bậc quân vương có thể tiết chế ham muốn hưởng thụ cuộc sống là vô cùng đáng trân trọng?
Bài đọc hiểu
Đại Vũ trị thủy
Đại Vũ sinh vào khoảng ngày 06 tháng 06 năm 2297 trước Công nguyên, mất vào tháng 08 năm 2198 trước Công nguyên, hưởng thọ 100 tuổi. Ông là cháu bốn đời của Hoàng Đế, họ là Tự, tên là Văn Mệnh. Cha của Đại Vũ tên là Cổn.
Tương truyền, vào hơn 4000 năm trước, Thủy Thần nổi giận đã đâm thủng một lỗ lớn trên trời, khiến cho nước trong thiên hà tuôn chảy xuống nhân gian, nuốt chửng hết cả đất đai, ruộng vườn, khắp nơi đều mênh mông biển nước. Thế là, ông Cổn – cha của Đại Vũ được Vua Thuấn gọi đi trị thủy.
Ông Cổn lên trời trộm một túi “tức nhưỡng”. Tức nhưỡng này là đất của Thần, gặp gió liền có thể sinh sôi nảy nở. Cổn vô cùng vui mừng, khi trị thủy, ông liền lấy ra một ít tức nhưỡng, thả xuống nước, sau đó để cho gió thổi, tức nhưỡng liền biến thành những dải đê và đập. Cổn tưởng rằng dùng cách đắp đê đắp đập thì có thể giảm thiểu sự xung phá nước lũ. Nhưng, ông đã nhầm, đất có thể chặn được dòng nước nhỏ nhưng với những cơn hồng thủy hung dữ thì đất lại không thể chặn được. Vì thế cuối cùng những dải đê và đập cũng bị đổ sập, thủy tai thậm chí còn mạnh mẽ hơn trước. Vì Cổn chỉ tin rằng đắp đê mới có thể chặn được lũ lụt nên ông đã không trị được thủy, bị Vua Thuấn xử tội chết.
Sau này, Vũ lớn lên, nhìn thấy cảnh dân chúng sống cực khổ giữa dòng nước lũ cuồn cuộn ngút trời, ông đã hạ quyết tâm đi trị thủy. Vì việc này Đại Vũ đã phải vất vả trèo núi vượt non, đến cả móng chân cũng bị mòn hết, mãi đến năm 30 tuổi mà vẫn chưa kết hôn. Một người con gái ở núi Đồ mà Đại Vũ yêu vẫn luôn chờ đợi ông, cuối cùng nàng cũng chờ được đến ngày Đại Vũ đến đón rước. Nhưng mới kết hôn được bốn ngày thì ông lại lên đường đi trị thủy. Trong “Sử ký” có ghi chép rằng: “Vũ đi trị thủy suốt mười ba năm ròng, đi qua nhà cũng không vào”. Câu nói “Đại Vũ trị thủy, đi qua cửa nhà cũng không vào” đã trở thành câu mà nhà nhà đều biết. Cho đến ngày nay, bốn ngày mà Đại Vũ thành hôn vẫn được coi là những ngày đẹp ở vùng Giang Hoài (khu vực giữa sông Trường Giang và sông Hoài).
Đại Vũ vốn có thần lực, khi ông khơi thông sông Hoàng Hà, vì để ngăn không cho nước sông chảy ngược lại, Đại Vũ đã dùng thần lực xẻ núi Long Môn thành hai nửa để cho nước chảy qua. Thế là từ đó liền có Long Môn, cũng chính là Long Môn trong câu “Cá chép vượt Long Môn”.
Vu Sơn Thần nữ giúp đỡ
Khi Đại Vũ trị thủy đến dãy núi Vu Sơn dài 800 dặm đã gặp phải đá núi rắn chắc dị thường, và những cơn cuồng phong nổi lên đột ngột khiến cho trời đất mù mịt tăm tối, sườn núi chấn động, sóng ở dưới sông cuồn cuộn ngút trời như những đỉnh núi, rất nhiều dân công đào núi đã phải bỏ mạng trong cuồng phong sóng dữ. Suốt mấy tháng ròng vẫn không thể nào khai phá được đá núi chắc như sắt kia, Đại Vũ vô cùng lo lắng.
Người con thứ 23 của Tây Vương Mẫu là Dao Cơ có tâm địa thiện lương và thích đi du ngoạn. Một hôm, nàng mang theo thị nữ và một đoàn tùy tùng từ Đông Hải du ngoạn trở về, ngồi trên đám mây ngũ sắc bay ngang qua núi Vu Sơn. Đại Vũ nhìn thấy Dao Cơ, vội vã hướng lên Trời hành lễ, cầu xin Dao Cơ giúp đỡ. Dao Cơ xót thương những người dân đang khổ sở trong cảnh thủy tai và cảm phục trước tinh thần trị thủy vì dân chúng của Đại Vũ nên đã xúc động đồng ý. Nàng nói với Đại Vũ rằng: “Muốn khoan phá được núi Vu Sơn thì cần dùng lửa thiêu”. Nàng còn phái các Thần tướng Cuồng Chương, Ngu Dư, Hoàng Ma, Đại Ế đi giúp đỡ Đại Vũ trị thủy.
Đại Vũ vô cùng cảm kích trước sự chỉ dẫn của Dao Cơ, lệnh cho người dân ở hai đầu dãy núi Vu Sơn đốt lửa lên. Dao Cơ và các Thần tướng cùng thi triển bản lĩnh, khi thì dùng điện công phá, khi thì đánh sét. Trải qua 49 ngày đêm, núi đá rắn chắc dần dần trở nên mềm hơn, dân công nhanh chóng khoan phá được 800 dặm núi Vu Sơn. Sau đó dòng nước lớn ở Ba Thục có thể chảy ra ngoài và hướng thẳng ra biển lớn.
Núi Vu Sơn sau khi được khoan phá xong đã trở thành thắng cảnh Tam Hiệp của sông Trường Giang. Vì đã dốc hết thần lực để đả thông Tam Hiệp nên Dao Cơ không thể trở về Trời được nữa, chỉ có thể lưu lại nhân gian. Nàng ngày ngày đứng trên vách núi cao chăm chú quan sát. Nhìn thấy những cơn sóng dữ hiểm trở ở Tam Hiệp nhấn chìm rất nhiều thuyền bè qua lại, nàng liền phái hàng nghìn con thủy điểu, thay phiên nhau bay trong những hẻm núi, làm nhiệm vụ dẫn đường cho thuyền bè để đưa mọi người an toàn đi qua hẻm núi.
Dao Cơ đứng trên vách núi cao, ngày qua ngày, năm qua năm, lâu dần, nàng hóa thành một đỉnh núi của dãy núi Vu Sơn, người đời sau gọi là “Đỉnh Thần nữ”. Còn những thị nữ đi theo nàng cũng hóa thành những núi non lớn nhỏ, mãi mãi đi theo Dao Cơ. Đây chính là đỉnh núi thứ 12 của dãy Vu Sơn.
Bài tập
Phương pháp trị thủy của Vũ và Cổn có gì khác nhau? Khi áp dụng hai phương pháp này vào những vấn đề ở nhân gian thì sẽ mang đến những hiệu quả khác nhau như thế nào?
Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/48868