[ChanhKien.org]
Nhân dĩ vi kỉ nhiệm: Coi nhân đức là trách nhiệm của bản thân mình
Nguyên văn
Hán Việt
Tăng Tử viết: Sĩ bất khả dĩ bất hoằng nghị, nhiệm trọng nhi đạo viễn. Nhân dĩ vi kỷ nhiệm, bất diệc trọng hồ? Tử nhi hậu dĩ, bất diệc viễn hồ? (“Luận ngữ – Thái Bá đệ bát”)
Phiên âm
Zēngzǐ yuē: “Shì bù kě yǐ bù hóng yì, rèn zhòng ér dào yuǎn. Rén yǐ wéi jǐ rèn, bù yì zhòng hū! Sǐ ér hòu yǐ, bù yì yuǎn hū!” (“Lúnyǔ · Tài bó dì bā”)
Chú âm
曾 (ㄗㄥ) 子 (ㄗˇ) 曰 (ㄩㄝˋ):“士 (ㄕˋ) 不 (ㄅㄨˋ) 可 (ㄎㄜˇ) 以 (ㄧˇ) 不 (ㄅㄨˋ) 弘 (ㄏㄨㄥˊ) 毅 (ㄧˋ),任 (ㄖㄣˋ) 重 (ㄓㄨㄥˋ) 而 (ㄦˊ) 道 (ㄉㄠˋ) 远 (ㄩㄢˇ)。仁 (ㄖㄣˊ) 以 (ㄧˇ) 为 (ㄨㄟˊ) 己 (ㄐㄧˇ) 任 (ㄖㄣˋ),不 (ㄅㄨˋ) 亦 (ㄧˋ) 重 (ㄓㄨㄥˋ) 乎 (ㄏㄨ)!死 (ㄙˇ) 而 (ㄦˊ) 后 (ㄏㄡˋ) 已 (ㄧˇ),不 (ㄅㄨˋ) 亦 (ㄧˋ) 远 (ㄩㄢˇ) 乎 (ㄏㄨ)!”(《论 (ㄌㄨㄣˋ) 语 (ㄩˇ) · 泰 (ㄊㄞˋ) 伯 (ㄅㄛˊ) 第 (ㄉㄧˋ) 八 (ㄅㄚ)》)
Tư tưởng cốt lõi của chương
Trong chương này, Tăng Tử muốn khích lệ kẻ sĩ cần giữ ý chí kiên định bởi họ sẽ là người gánh vác trọng trách trên con đường dài.
Chú thích
1. Tăng Tử: là đệ tử của Khổng Tử, tên là Sâm, tự là Tử Dư. Ông là người thành Nam Vũ, kém Khổng Tử 46 tuổi.
2. Hoằng nghị: lớn lao và kiên cường.
3. Nhân dĩ vi kỉ nhiệm: là đảo ngược của câu “以仁为己任” (dĩ nhân vi kỉ nhiệm, tức là coi nhân đức là trách nhiệm của bản thân mình)
Diễn nghĩa
Tăng Tử nói: “Người đọc sách không thể không có ý chí lớn lao và kiên cường, bởi họ sẽ gánh vác trách nhiệm lớn lao và bước đi trên con đường dài. Lấy việc hoằng dương nhân đức làm trách nhiệm của bản thân, điều đó chẳng lẽ không lớn lao sao? Cho đến lúc chết mới buông được trọng trách ấy, con đường đó chẳng lẽ không dài sao?”
Nghiên cứu và phân tích
Ở chương này, Tăng Tử đàm luận về kẻ sĩ, ông chỉ ra rằng vì kẻ sĩ coi nhân đức là trách nhiệm trọn đời của mình, “đến chết mới thôi” nên họ cần kiên định không ngừng nghỉ. Vì vào thời xưa, kẻ sĩ là giai tầng đứng đầu trong bốn tầng lớp nhân dân (sĩ, nông, công, thương). Họ gánh trên vai trọng trách quản lý đất nước, giúp đỡ nhân dân nên rất được tôn trọng. Hoài bão lấy nhân đức làm trách nhiệm của bản thân mình chính là mục tiêu mà những kẻ sĩ cần nỗ lực đạt được và kiên định giữ vững suốt đời. Sự kỳ vọng của Tăng Tử vào kẻ sĩ mang tính khích lệ to lớn và ý nghĩa sâu sắc.
Câu hỏi mở rộng
1. Mục đích quan trọng nhất của việc học tập tại trường học là phát huy bản tính lương thiện của con người chúng ta, như là Chân, Thiện, Nhẫn. Nhưng người ta lại thường hay bị cám dỗ bởi những thứ bất hảo của thế giới bên ngoài mà đánh mất đi tấm lòng thiện lương. Theo bạn, cần phải làm thế nào để không bị lôi cuốn bởi những thứ bất hảo đó?
2. Thời xưa, giới trí thức không chỉ lấy “đọc sách” làm trách nhiệm của bản thân, mà còn coi việc “truyền rộng nhân đức” là trọng trách của mình. Theo bạn, trách nhiệm mà giới trí thức ngày nay cần gánh vác là gì?
Tài liệu tham khảo
Câu chuyện đằng sau bài thơ “Quá Linh Đinh dương” của Văn Thiên Tường
Nguyên văn
Hán Việt
Quá Linh Đinh dương
Văn Thiên Tường
Tân khổ tao phùng khởi nhất kinh,
Can qua liêu lạc tứ chu tinh.
Sơn hà phá toái phong phiêu nhứ,
Thân thế phù trầm vũ đả bình.
Hoàng Khủng than đầu thuyết hoàng khủng,
Linh Đinh dương lý thán linh đinh.
Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.
Phiên âm
Guò Língdīng yáng
Wén Tiānxiáng
Xīn kǔ zāo féng qǐ yī jīng,
Gān gē liáo là sì zhōu xīng.
Shān hé pò suì fēng piāo xù,
Shēn shì fú chén yǔ dǎ píng.
Huángkǒng tān tóu shuō huángkǒng,
Língdīng yáng lǐ tàn língdīng.
Rén shēng zì gǔ shuí wú sǐ,
Liú qǔ dān xīn zhào hàn qīng.
Chú âm
过 (ㄍㄨㄛˋ) 零 (ㄌㄧㄥˊ) 丁 (ㄉㄧㄥ) 洋 (ㄧㄤˊ)
文 (ㄨㄣˊ) 天 (ㄊㄧㄢ) 祥 (ㄒㄧㄤˊ)
辛 (ㄒㄧㄣ) 苦 (ㄎㄨˇ) 遭 (ㄗㄠ) 逢 (ㄈㄥˊ) 起 (ㄑㄧˇ) 一 (ㄧ) 经 (ㄐㄧㄥ) ,
干 (ㄍㄢ) 戈 (ㄍㄜ) 寥 (ㄌㄧㄠˊ) 落 (ㄌㄨㄛˋ) 四 (ㄙˋ) 周 (ㄓㄡ) 星 (ㄒㄧㄥ)。
山 (ㄕㄢ) 河 (ㄏㄜˊ) 破 (ㄆㄛˋ) 碎 (ㄙㄨㄟˋ) 风 (ㄈㄥ) 飘 (ㄆㄧㄠ) 絮 (ㄒㄩˋ),
身 (ㄕㄣ) 世 (ㄕˋ) 浮 (ㄈㄨˊ) 沉 (ㄔㄣˊ) 雨 (ㄩˇ) 打 (ㄉㄚˇ) 萍 (ㄆㄧㄥˊ)。
惶 (ㄏㄨㄤˊ) 恐 (ㄎㄨㄥˇ) 滩 (ㄊㄢ) 头 (ㄊㄡˊ) 说 (ㄕㄨㄛ) 惶 (ㄏㄨㄤˊ) 恐 (ㄎㄨㄥˇ),
零 (ㄌㄧㄥˊ) 丁 (ㄉㄧㄥ) 洋 (ㄧㄤˊ) 里 (ㄌㄧˇ) 叹 (ㄊㄢˋ) 零 (ㄌㄧㄥˊ) 丁 (ㄉㄧㄥ)。
人 (ㄖㄣˊ) 生 (ㄕㄥ) 自 (ㄗˋ) 古 (ㄍㄨˇ) 谁 (ㄕㄨㄟˊ) 无 (ㄨˊ) 死 (ㄙˇ),
留 (ㄌㄧㄡˊ) 取 (ㄑㄩˇ) 丹 (ㄉㄢ) 心 (ㄒㄧㄣ) 照 (ㄓㄠˋ) 汗 (ㄏㄢˋ) 青 (ㄑㄧㄥ)。
Dịch nghĩa
Vượt biển Linh Đinh
Tác giả: Văn Thiên Tường
Từ buổi dấn thân vào cuộc đời gian khổ,
Trận mạc dằng dai bốn năm ròng.
Non sông tan nát như bông bay trước gió,
Thân thế chìm nổi tựa bèo tấm trong mưa xối.
Bãi Hoàng Khủng nhắc đến bao kinh hãi,
Biển Linh Đinh trải biết mấy lênh đênh.
Đời người xưa nay ai mà không chết,
Cần để lại tấm lòng son soi vào sử xanh.
Văn Thiên Tường là một vị đại thần của triều đại Nam Tống. Vào thời đó, triều đình Nam Tống hủ bại, quốc lực suy vong. Năm 1274 sau Công nguyên, Quân Mông Cổ từ phương Bắc đã thừa cơ mở cuộc tấn công quy mô lớn, phát động cuộc chiến tranh tiêu diệt nhà Tống. Lúc này, có rất nhiều người sớm đã phản bội và đầu hàng quân Nguyên, nhưng Văn Thiên Tường vẫn kiên quyết với chủ trương chống giặc và đã tự mình dẫn binh đi đánh quân Nguyên. Cuối năm Tường Hưng thứ nhất (tức năm 1278), Văn Thiên Tường bị bắt ở Ngũ Pha Lĩnh, Quảng Đông. Ông từng hai lần uống thuốc độc và tuyệt thực để tự sát nhưng đều không thành. Tháng Giêng năm Tường Hưng thứ 2 (tức năm 1279), thuỷ quân Nguyên Mông xuất phát từ cửa khẩu sông Châu Giang, vượt biển Linh Đinh, tấn công vào Nhai Sơn – cứ điểm cuối cùng của triều Đế Bính nhỏ bé (nay là Tân Hội Nam, Quảng Đông). Văn Thiên Tường bị Trương Hoằng Phạm – bắt đi cùng thuyền. Trương Hoằng Phạm ép ông chiêu dụ tướng nhà Tống đang cố thủ ở Nhai Sơn là Trương Thế Kiệt nhưng ông đã trả lời bằng bài thơ thất ngôn bát cú “Quá Linh Đinh dương” để thể hiện rõ ý chí của mình.
Bài thơ đã khái quát những việc lớn trong cuộc đời Văn Thiên Tường, từ lúc xuất thân khoa bảng, dẫn binh cứu vua, cho đến khi nước mất nhà tan và thật đáng tiếc là bị bắt. Với âm điệu thê lương mà bi tráng, tám câu thơ ngắn gọn, súc tích hàm chứa trong đó tính tự sự, trữ tình, và cũng nói lên được ý chí của bản thân tác giả. Khí tiết của người trí thức đã được tái hiện sống động trên trang giấy.
Năm Chí Nguyên thứ 19 (tức năm 1282 Công nguyên) thời Nguyên Thế Tổ, trước khi Văn Thiên Tường mất ở tuổi 47, ông đã viết bức thư tuyệt mệnh lên đai áo, rằng: “Thân làm tể tướng, mà không cứu được xã tắc, không ổn định được thiên hạ, khiến cho quân bại nước nhục, làm kẻ tù nhân, tội đáng muôn chết từ lâu. Từ ngày bị bắt đến nay, tôi không làm điều gì gian dối. Ngày nay cơ sự thành ra thế này, tôi xin hướng về phương Nam lạy trăm lạy. Xin được nói: Khổng Tử dạy nhân đức, Mạnh Tử dạy thủ nghĩa, giữ được nghĩa cho đến cùng chính là nhân đức trọn vẹn. Đọc sách thánh hiền, ta học được điều gì? Từ nay về sau, không còn phải hổ thẹn. Tống thừa tướng Văn Thiên Tường tuyệt bút”.
Trước khi Văn Thiên Tường chết một ngày, Nguyên Thế Tổ đã cho gọi ông vào triệu kiến, nhưng ông chỉ hành lễ chứ không quỳ. Nguyên Thế Tổ lệnh cho ông quy hàng và ban cho một chức vị ở tỉnh Trung Thư, nhưng ông nói rằng: “Thiên Tường tôi nhận ân huệ ba đời vua Tống với danh hiệu tể tướng trạng nguyên, nay phụng sự hai triều đình khác nhau không phải là nguyện ý của tôi”. Nguyên Thế Tổ hỏi rằng: “Vậy ngươi mong muốn điều gì?”, ông đáp: “Tôi chỉ mong được chết, vậy là đủ rồi!” Thế rồi ông đã khảng khái hy sinh vì nghĩa!
Chú thích bài thơ “Quá Linh Đinh dương”
1. Bãi Hoàng Khủng (Hoàng Khủng than): hiện nay nằm ở Vạn An tỉnh Giang Tây, là một trong 18 bãi đá ngầm của sông Cán, có dòng nước chảy xiết và hiểm trở.
2. Biển Linh Đinh (Linh Đinh dương): nay là vùng vịnh ở cửa sông Châu Giang, nằm giữa thành phố Chu Hải (tỉnh Quảng Đông) và Hồng Kông.
3. Ở câu thơ đầu tiên, ông hồi tưởng lại chuyện năm xưa khi ông 21 tuổi đỗ tiến sĩ và bước vào con đường làm quan.
4. Câu thơ thứ hai viết về việc hai bên đã giao chiến bốn năm kể từ khi khởi binh kháng Nguyên từ thành Cán Châu.
5. Câu thơ thứ ba và thứ tư viết về những gian khổ và mạo hiểm khi dẫn binh đốc chiến, cảm thán về vận nước bấp bênh và số phận thăng trầm. (Tham khảo “Chỉ Nam lục hậu tự”)
6. Câu thơ thứ năm kể lại việc Lâm An gặp nguy vào bốn năm trước, triều đình ra chiếu cần vương, Văn Thiên Tường đã từ Cán Châu băng qua bãi Hoàng Khủng tiến về phương Bắc, vì lo lắng việc nước mà cảm thấy hoang mang, bất an.
7. Câu thơ thứ sáu viết về hoàn cảnh hiện tại sau khi không may bị bắt làm tù binh, lênh đênh trên biển Linh Đinh, để nói lên vận mệnh quốc gia trắc trở.
8. Bãi Hoàng Khủng và biển Linh Đinh là cặp từ đối cả về địa danh và ngữ nghĩa. Một từ gợi lên sự hiểm trở của hình thế bãi sông, còn một từ lại mô tả nỗi khổ cực, nguy khốn trong cảnh tù đày.
9. Câu thơ cuối thể hiện tấm lòng son sắt của bản thân, lấy cái chết để tỏ rõ chí khí.
Chú thích của người dịch: Trong tiếng Hán “Hoàng Khủng” có nghĩa là sợ hãi hoang mang, “Linh Đinh” nghĩa là lẻ loi không nơi nương tựa.
Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/48868