Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính: Không ngồi ở chức vị đó thì không can dự vào công việc của chức vị đó

[ChanhKien.org]

Nguyên văn

子曰:“不在其位,不谋(1)其政。”(《论语·泰伯第八》)

Hán Việt

Tử viết: “Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính”. (Luận ngữ – Thái Bá đệ bát)

Phiên âm

Zǐ yuē: “Bù zài qí wèi, bù móu qí zhèng.” (“Lúnyǔ·Tàibó dì bā”)

Chú âm

子 (ㄗ˙) 曰 (ㄩㄝ):“不 (ㄅㄨˋ) 在 (ㄗㄞˋ) 其 (ㄑㄧˊ) 位 (ㄨㄟˋ),不 (ㄅㄨˋ) 谋 (ㄇㄡˊ) 其 (ㄑㄧˊ) 政 (ㄓㄥˋ)。”(《论 (ㄌㄨㄣˊ) 语 (ㄩˇ) · 泰 (ㄊㄞˋ) 伯 (ㄅㄛˊ) 第 (ㄉㄧˋ) 八 (ㄅㄚ)》)

Chú thích

1. 谋 (Mưu): Tham gia vào việc lên kế hoạch.

Diễn nghĩa

Khổng Tử nói rằng: “Không ngồi ở chức vị đó thì không tham dự vào việc lập kế hoạch của chức vị đó.”

Nghiên cứu và phân tích

Ở đây ý nói rằng không được vượt quá phạm vi quyền hạn của mình. “Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính” đề cập đến vấn đề “danh phận” của Nho gia. Không ngồi ở chức vị đó mà can dự vào công việc của chức vị đó thì dễ bị người ta cho là hành động đi ngược lại với lễ, có vấn đề vượt quyền. Nguyên tắc này có tác dụng quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của xã hội thời bấy giờ (những năm cuối thời kỳ Xuân Thu), hạn chế người dân phạm thượng làm loạn. Từ một phương diện khác mà nói, “Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính” cũng chính là an phận thủ thường. Mỗi người một chức vị, một công việc, chỉ cần làm tốt công việc của mình thì thiên hạ sẽ được thái bình, từ đó có thể giảm bớt hay thậm chí là cắt bỏ đi những quy định pháp luật rườm rà và những chức vị không cần thiết.

Câu hỏi mở rộng

1. Bạn hãy suy nghĩ xem đâu là trường hợp ngoại lệ của “bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính”?

Gợi ý

1. Trong khi làm việc nhóm, nhìn thấy người khác gặp khó khăn.

2. Bạn đã từng đảm nhiệm chức vụ cán bộ lớp nào chưa? Hãy tự chấm điểm xem mình làm tốt hay không và nói rõ nguyên nhân.

Bài đọc hiểu

Danh chính ngôn thuận

Liệt Tử tên là Liệt Ngự Khấu, là nhân vật đại biểu cho Đạo gia thời kỳ đầu Chiến quốc.

Vào thời Chiến quốc, Sử Tật là sứ thần nước Hàn sang nước Sở, Sở Vương hỏi ông ta rằng: “Ngươi đang nghiên cứu học vấn gì?” Sử Tật đáp: “Thần đang nghiên cứu về Liệt Ngự Khấu.” Sở Vương hỏi: “Liệt Ngự Khấu chủ trương điều gì?” Sử Tật trả lời: “Ông ấy chủ trương danh chính.” Sở Vương hỏi tiếp: “Điều này có thể áp dụng vào việc trị quốc không?” Sử Tật thưa: “Đương nhiên có thể.” Sở Vương lại hỏi: “Nước Sở trộm cắp rất nhiều, có thể dùng nó để phòng chống trộm cắp không?” Ông ta trả lời: “Đương nhiên có thể.” Sở Vương hỏi tiếp: “Dùng danh chính phòng chống trộm cắp như thế nào?”

Đúng lúc này có một chú chim khách bay đến đậu trên nóc nhà, Sử Tật nói: “Xin hỏi người nước Sở gọi loài chim này là gì?” Sở Vương nói: “Gọi là hỷ thước.” Sử Tật lại hỏi: “Gọi nó là quạ có được không?” Sở Vương nói: “Không được.” Sử Tật nói: “Hiện nay quốc gia của đại vương có thiết lập các chức quan như trụ quốc, lệnh doãn, tư mã, điển lệnh. Khi bổ nhiệm chức quan hẳn là sẽ yêu cầu họ liêm khiết phục vụ việc công, gánh vác chức vụ của mình. Tuy nhiên, hiện nay trộm cắp ngang nhiên hoành hành mà lại không thể trừ bỏ chính là vì các vị quan không thể đảm nhiệm đúng chức trách của mình, đây gọi là: Quạ không được gọi là quạ, hỷ thước không được gọi là hỷ thước!”.

Câu nói “danh chính ngôn thuận” chính là một thành ngữ lấy từ “Luận ngữ”, ý nói rằng với danh nghĩa chính đáng, thì có thể giảng đạo lý được thông suốt, cũng có nghĩa là khi làm việc thì có đầy đủ cơ sở nền tảng.

(Trích “Chiến quốc sách – Hàn sách nhị”)

Bài tập

Tổng kết lại những nhận thức trong bài này, bạn cho rằng khi nào thì nên chú trọng “danh chính ngôn thuận”? Khi nào thì không cần phải khăng khăng ôm giữ cái quan niệm này? Hãy đưa ra ví dụ thực tế trong cuộc sống để nói rõ.

Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/48868