[ChanhKien.org]
Dĩ đa vấn vu quả: Người hiểu biết nhiều đi hỏi người hiểu biết ít
Nguyên văn
曾子曰:「以能(1)問於不能,以多(2)問於寡,有若無(3),實若虛(4),犯(5)而不校(6),昔者吾友(7),嚐從事於斯矣。”(《論語·泰伯第八》)
Hán Việt
Tăng Tử viết: “Dĩ năng vấn vu bất năng, dĩ đa vấn vu quả, hữu nhược vô, thực nhược hư, phạm nhi bất hiệu, tích giả ngô hữu, thường tùng sự vu tư hỹ.” (Luận ngữ – Thái Bá đệ bát)
Phiên âm
Zēng Zǐ yuē: “Yǐ néng wèn yú bù néng, yǐ duō wèn yú guǎ, yǒu ruò wú, shí ruò xū, fàn ér bù xiào, xī zhě wú yǒu, cháng cóng shì yú sī yǐ.” (Lúnyǔ·Tài Bó dì bā)
Chú âm
曾 (ㄗㄥ) 子 (ㄗˇ) 曰 (ㄩㄝ):「以 (ㄧˇ) 能 (ㄋㄥˊ) 問 (ㄨㄣˋ) 於 (ㄩˊ) 不 (ㄅㄨˋ) 能 (ㄋㄥˊ),以 (ㄧˇ) 多 (ㄉㄨㄛ) 問 (ㄨㄣˋ) 於 (ㄩˊ) 寡 (ㄍㄨㄚˇ),有 (ㄧㄡˇ) 若 (ㄖㄨㄛˋ) 無 (ㄨˊ),實 (ㄕˊ) 若 (ㄖㄨㄛˋ) 虛 (ㄒㄩ),犯 (ㄈㄢˋ) 而 (ㄦˊ) 不 (ㄅㄨˋ) 校 (ㄐㄧㄠˋ),昔 (ㄒㄧ) 者 (ㄓㄜˇ) 吾 (ㄨˊ) 友 (ㄧㄡˇ),嚐 (ㄔㄤˊ) 從 (ㄘㄨㄥˊ) 事 (ㄕˋ) 於 (ㄩˊ) 斯 (ㄙ矣ㄧˇ)。”(《論 (ㄌㄨㄣˊ)語 (ㄩˇ)·泰 (ㄊㄞˋ) 伯 (ㄅㄛˊ) 第 (ㄉㄧˋ) 八 (ㄅㄚ》))
Chú thích
(1) 能 (Năng): Chỉ tài năng ở một phương diện nào đó.
(2) 多 (Đa): Chỉ kiến thức và học vấn sâu rộng.
(3) 有若無 (Hữu nhược vô): Người có tài năng mà không khoe khoang, nhìn giống như người không có tài năng gì đặc biệt.
(4) 实若虚 (Thực nhược hư): Người có học vấn phong phú mà không tự mãn, nhìn giống như không có học vấn gì vậy.
(5) 犯 (Phạm): Mạo phạm.
(6) 校 (Hiệu): Tính toán, so bì.
(7) 吾友 (Ngô hữu): Nghĩa là bạn tôi, ở đây chỉ Nhan Uyên.
Diễn nghĩa
Tăng Tử nói: “Người thông hiểu nghĩa lý nhưng không cậy vào tài năng của mình mà vẫn đi hỏi người không có tài năng; người có hiểu biết sâu rộng nhưng vẫn khiêm tốn đi hỏi người biết ít hơn; người có học thức uyên bác nhưng vẫn tỏ ra như không có gì; người ta vô lễ với mình thì cũng không so đo tính toán. Khi xưa, Nhan Hồi bạn của ta đã làm được như vậy”.
Nghiên cứu và phân tích
Người có năng lực đi hỏi người không có năng lực, người hiểu biết nhiều đi hỏi người hiểu biết ít hơn, không phải là họ giả vờ vô năng hay thiếu hiểu biết, nếu như thế thì chính là “ngụy” (giả dối), không thành thật. Vậy tại sao người có tài thường không tự cảm thấy mình có tài, còn người khác tuy không có tài nhưng lại không thấy họ bất tài? Bởi vì trong tâm họ hiểu rõ sự vô cùng của nghĩa lý. Những gì mình hiểu biết được chẳng qua chỉ là một góc nhỏ của tảng băng chìm nên làm sao dám kiêu ngạo hơn người? Nhìn vào những lời nói và hành động của người khác ta cũng có thể thấy được rất nhiều điều đáng để học hỏi, thậm chí có thể là tấm gương để soi lại bản thân.
Nếu làm được như vậy thì khi có người mạo phạm đến mình ta có thể tự xem lại mình trước. Ngay cả khi người khác không đúng, thì cũng có thể tha thứ cho họ, bởi vì mình cũng có rất nhiều lỗi lầm, người khác chỉ mắc một chút lỗi nhỏ, sao lại phải trách móc nặng nề? Nếu làm được thế chính là “bị xúc phạm mà không so đo, tính toán”.
“Ngô hữu” ở đây có lẽ là chỉ Nhan Tử. Tăng Tử nói rằng Nhan Tử rất nỗ lực về những phương diện này. Khi Tăng Tử nói câu này thì Nhan Tử đã không còn tại thế, nên mới gọi là “tích giả” (người xưa). Câu “tích giả ngô hữu, thường tùng sự ư tư hỹ” (Bạn ta khi xưa đã từng làm được việc này) chan chứa tâm tình hoài niệm cũng như đạo nghĩa trọn vẹn. Từ đó, chúng ta cũng thấy được đạo lý trong việc tương giao giữa những người bạn hiền [1] của người xưa: mặc dù Nhan Tử và Tăng Tử có mối quan hệ thân thiết, nhưng điều mà Tăng Tử không thể quên được không phải là tình bạn khăng khít mà là đức hạnh thuần khiết của Nhan Tử. Vì hai người có chung chí hướng và cùng học theo các bậc thánh hiền, nên giữa họ nhất định có sự hiểu biết sâu sắc về nhau. Mặc dù Nhan Uyên không còn tại thế, nhưng trên con đường tu dưỡng đạo đức, Tăng Tử vẫn luôn coi ông là tấm gương để noi theo. Nhan Tử dường như đã hóa thân thành một hình mẫu của đức khiêm nhường, là động lực cho Tăng Tử thực hành đạo đức và không ngừng phấn đấu để không phải hổ thẹn với người bạn năm xưa. Ở đây có thể nói là tràn đầy mối thâm tình phát ra từ đạo nghĩa giữa những người bạn hiền, và ánh sáng nhân cách cảm thông và soi sáng lẫn nhau giữa những người bạn hiền.
Câu hỏi mở rộng
1, Sự khác nhau giữa khiêm tốn, kiêu ngạo và đạo đức giả là gì?
2, Làm thế nào để có thể trở thành một người khiêm tốn?
3, Tác hại của sự kiêu căng, ngạo mạn.
Câu chuyện lịch sử
Đường Thái Tông khiêm tốn lắng nghe, biết sai liền sửa đổi (1)
Đường Thái Tông là một vị đế vương kiệt xuất hiếm hoi trong lịch sử Trung Quốc. Ông luôn biết lắng nghe và tiếp thu ý kiến của người khác. Cũng có khi, trước những lời can gián thẳng thừng, quyết liệt động chạm tới tâm can, Thái Tông đã không kiềm chế được bản thân, cũng muốn che giấu lỗi lầm và bỏ ngoài tai những lời can gián ấy. Nhưng rốt cuộc, ông vẫn là người có tấm lòng độ lượng và khí chất hơn người, biết lấy quốc gia xã tắc làm trọng, nên khi nghe lời khuyên can liền thay đổi.
Vương Khuê đời nhà Đường, tự Thúc Giới, là người thanh tâm quả dục, phẩm hạnh đoan chính, cương trực thẳng thắn. Sau khi thế tử Lý Kiến Thành được phong làm đông cung thái tử, ông được bổ nhiệm làm người giúp việc cho thái tử. Sau chính biến Huyền Vũ môn, Vương Khuê cũng bị liên đới và lưu đày đến Tuyển châu.
Vào năm Trinh Quán thứ nhất, Đường Thái Tông lên ngôi. Ông biết Vương Khuê rất có tài, nên đã gạt bỏ thù xưa, triệu mời Vương Khuê và phong làm quan nghị gián. Có một lần, khi đang ở trên triều, Thái Tông nói với các quan đại thần rằng: “Quân vương chính trực mà bổ nhiệm quan gian tà, thì không thể có được thiên hạ thái bình; còn một vị quan chính trực phục vụ quân vương gian tà, thì cũng không thể khiến thiên hạ thái bình. Chỉ có cả vua và quan tương ngộ, hòa hiệp như cá với nước, thì trong nước mới an định, thiên hạ mới được thái bình. Ta tuy không thông minh sáng suốt, nhưng mong các ái khanh thường xuyên chỉnh sửa cho ta để có thể có được những kế sách mưu lược hay giúp cho thiên hạ thái bình”.
Vương Khuê theo đó trả lời: “Thần nghe nói rằng, chỉ có cưa đúng theo dây mực thì gỗ mới thẳng, bậc quân vương chỉ khi lắng nghe lời khuyên của quần thần thì mới sáng suốt. Vì vậy, bên cạnh thánh chủ xưa kia cần có bảy vị hiền thần, nếu không nghe theo lời khuyên, họ thậm chí còn lấy cả mạng sống ra để can gián. Bệ hạ là bậc thánh hiền thông minh, làm bề tôi trong triều mà được tự do biểu đạt ý kiến thì đương nhiên họ sẽ tận tụy trung thành”. Thái Tông đã nghe theo và thu được rất nhiều lợi ích, liền quy định quan tam phẩm trở lên, khi vào triều cần phải có quan gián đi cùng. Thái Tông cũng xác thực nghe theo lời khuyên, Vương Khuê vì thế mà càng tích cực chỉ ra lỗi khi thấy lỗi, thấy thiếu sót thì sẽ khuyên.
Tuy nhiên, không phải lúc nào Thái Tông cũng nghe theo lời khuyên. Một lần, quan thái thường thiếu khanh Tổ Hiếu Tôn (một chức quan phụ trách lễ nhạc và các nghi lễ trong triều thời đó) vì dạy thanh nhạc cho các cung nữ không hợp ý Thái Tông, nên ông đã nổi giận, trách mắng Tổ Hiếu Tôn một trận gay gắt. Vương Khuê, Ôn Ngạn Bác thì lại cho rằng trách nhiệm này không phải của Tổ Hiếu Tôn, nên đã khuyên Thái Tông rằng: “Tổ Hiếu Tôn tinh thông âm luật, khi truyền thụ cũng không phải là không tận tâm. Chỉ e rằng người được bệ hạ hỏi đã lừa gạt bệ hạ. Hơn nữa, Tổ Hiếu Tôn là một nhã sĩ, bệ hạ đã không chú ý tới điểm này mà bảo ông ấy dạy nữ nhạc, lại còn trách tội ông ấy. Chúng thần e rằng thiên hạ sẽ vì thế mà cảm thấy kinh sợ”. Thái Tông nghe xong nổi giận trách mắng: “Các khanh đều là tâm phúc của ta, đáng lẽ phải tận trung, chính trực, sao lại bợ đỡ kẻ dưới lừa gạt bề trên, nói lời thay cho Tổ Hiếu Tôn!”
Ôn Ngạn Bác vội vàng quỳ xuống tạ tội, nhưng Vương Khuê thì khăng khăng không bái mà nói rằng: “Thần trước kia hầu hạ cho đông cung thái tử, mắc tội đáng chết nhưng bệ hạ đã khoan dung, tha thứ cho thần, lại còn giao cho chức vụ trọng yếu, mong muốn thần làm hết chức trách. Lời thần nói hôm nay không phải vì bản thân, không ngờ bệ hạ lại nghi ngờ, quở trách vi thần, đây là bệ hạ không phải với thần, chứ không phải thần có lỗi với bệ hạ”. Thái Tông nghe xong không nói gì.
Ngày hôm sau, Thái Tông nói với Phòng Huyền Linh rằng: “Xưa nay, các bậc đế vương rất khó tiếp thu những lời can gián. Năm xưa, Chu Vũ Vương còn không nghe lời khuyên của Bá Di, Thúc Tề. Tuyên Vương là một vị vua hiền tài, nhưng Thuật Bá vô tội mà vẫn bị giết. Ta muốn học theo các bậc thánh hiền đời trước, nhưng tiếc rằng không thể đạt được mức độ như cổ nhân. Hôm qua ta đã trách mắng Vương Khuê và Ôn Ngạn Bác, cảm thấy rất hối hận. Mong rằng các khanh không nên vì thế mà không nói ra những lời khuyên thẳng thắn!”
Đường Thái Tông khiêm tốn lắng nghe, biết sai rồi sửa đổi (2)
Đường Thái Tông rất say mê săn bắn, sau khi lên ngôi vẫn rất hứng thú với săn bắn, thường huy động nhiều binh lính ra ngoài thành đi săn. Không ít các đại thần đã cố gắng khuyên can, nhưng Thái Tông cho rằng đây là việc luyện tập cưỡi ngựa bắn cung, có lợi cho đất nước, nên không nghe lời khuyên.
Một ngày nọ, Thái Tông lại chuẩn bị đi săn, khi ông sắp lên ngựa thì bỗng nhiên quan chủ bạc là Tôn Phục Gia chạy đến, nắm chặt lấy dây cương, kiên quyết ngăn cản không cho Thái Tông ra khỏi thành. Ông nghiêm giọng khuyên can Thái Tông rằng: “Bậc thiên tử ở trong cung thì được bảo vệ nghiêm ngặt, đi ra ngoài thì có đội quân nghi lễ tùy tùng hộ tống, đó không phải là để phô trương mà là vì lợi ích quốc gia và sự tôn nghiêm của triều đình. Việc cưỡi ngựa săn bắn chỉ là thú vui của thiếu gia con nhà giàu. Khi bệ hạ còn làm Tần Vương, thỉnh thoảng đi săn thì cũng không ảnh hưởng gì lớn. Nhưng thân là thiên tử, sao có thể thường xuyên làm như thế được? “Trì sinh điền liệp lệnh nhân tâm phát cuồng” (Ruổi ngựa săn bắt sẽ khiến tâm người ta phát cuồng), lẽ nào bệ hạ đã quên lời cảnh tỉnh này của Lão Tử rồi sao? Đam mê săn bắn không những không có lợi cho đất nước, mà còn không phải là tấm gương tốt cho hậu thế noi theo, thần cho rằng bệ hạ không nên làm như thế!”
Thái Tông không nghe lời khuyên can của Tôn Phục Gia. Vừa vội vàng xoay người lên ngựa, vừa giải thích với Tôn Phục Gia rằng: “Dù hiện nay đất nước đang thái bình, nhưng cũng không thể lơ là chuẩn bị vũ trang được. Ta ra ngoài săn bắn, luyện võ khỏe thân thì có gì là không tốt? Ta ra ngoài lặng lẽ, không làm kinh động đến bách tính thì có điểm nào không thích hợp? Ngươi đừng nhiều lời nữa!”
Tôn Phục Gia nắm chặt dây cương không rời, nghiêm nghị nói: “Hôm nay bệ hạ không nghe lời khuyên can của vi thần mà vẫn nhất định xuất cung, thì cứ để ngựa dẫm lên người thần cũng được. Thần dù có bị ngựa dẫm tan xương nát thịt, cũng sẽ không buông dây cương ra, nếu không bệ hạ cũng không ra được khỏi cung đâu!” Đường Thái Tông lại ra lệnh cho ông buông dây cương, quần thần cũng cố gắng khuyên ông, nhưng Tôn Phục Gia nhất quyết không nghe, thà chết vẫn cứ nắm chặt dây cương không buông, mạnh mẽ nói với Thái Tông: “Dù thần chỉ còn một hơi thở, thì cũng quyết không thể nhìn thấy bệ hạ làm việc mà bậc thiên tử không nên làm”.
Thái Tông thấy Tôn Phục Gia cố chấp như thế liền nổi trận lôi đình, quát lớn: “Ta thân là thiên tử, đứng đầu hàng nghìn vạn dân, lẽ nào lại không có được chút tự do này? Còn phải nhìn vào sắc mặt ngươi mà làm hay sao!” Nói rồi lập tức ra lệnh cho võ sĩ đưa Tôn Phục Gia ra trước ngọ môn chém đầu thị uy dân chúng. Vài võ sĩ nghe lời, liền túm lấy cổ áo của Tôn Phục Gia, trói chéo hai tay rồi lôi ra ngoài. Tôn Phục Gia đối mặt với cái chết cũng không mảy may sợ hãi, lớn tiếng nói: “Thần thà chết vì nói lời khuyên thẳng thắn, xuống âm phủ cùng với Quan Long Phùng (người từng bị vua Hạ Kiệt sát hại vì nói lời thẳng) còn hơn là sống tủi nhục, tận mắt chứng kiến bệ hạ phạm sai lầm mà không chịu sửa”.
Thấy Tôn Phục Gia mạnh mẽ thẳng thắn, không màng đến tính mạng, Thái Tông đã vô cùng cảm động trước tinh thần dũng cảm và tấm lòng trung thành của ông. Thái Tông nhanh chóng xuống ngựa, cười và nói với Tôn Phục Gia rằng: “Ta chẳng qua chỉ là muốn thử lòng can đảm của khanh thôi, khanh dám liều chết can gián, lòng trung thành trong sáng, lẽ nào ta lại có thể đi săn?” Nói rồi, ông lập tức ra lệnh giải tán đội quân đi săn, đồng thời biểu dương Tôn Phục Gia và đề bạt ông lên chức Gián nghị đại phu ngũ phẩm.
[1] Bạn hiền: bản gốc là “sư hữu”, ý là những người bạn không chỉ thân thiết mà còn có phẩm chất cao đẹp khiến ta có thể học hỏi, thỉnh giáo rất nhiều.
Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/48868