Tác giả: Mai Tùng Hạc
[ChanhKien.org]
Vương Bột (650 – 676), tự Tử An, là người đứng đầu trong “Sơ Đường Tứ Kiệt” – bốn tài tử kiệt xuất đầu thời Đường, thường được gọi là “Vương Dương Lư Lạc”, gồm Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương. Thơ của ông có phong cách thanh tân, mới mẻ; còn các bài phú càng khiến ông trở thành một đại danh gia thời Sơ Đường. Ông cùng Lư Chiếu Lân và những người khác đều cố gắng thay đổi phong cách thơ đương thời vốn “tranh nhau cấu tứ phù phiếm, đua nhau chạm trổ câu chữ”. Bài thơ “Đằng Vương Các Thi Tự” mà ông viết năm 27 tuổi là kiệt tác trứ danh trong thể từ phú; còn bài “Đằng Vương Các Thi” đính kèm ở cuối bài tự lại là tuyệt phẩm của thơ Đường, hơn nữa thủ pháp trong bài thơ còn có ảnh hưởng khá lớn đến các thi nhân đời sau. Riêng bài thơ “Tiễn Đỗ Thiếu Phủ đi nhậm chức ở Thục Châu” của ông lại càng được công nhận là tuyệt phẩm thơ Đường, trong đó hai câu: “Hải nội tồn tri kỷ, Thiên nhai nhược tỉ lân” (Khắp bốn biển, còn người tri kỷ, Nơi thiên nhai, như xóm láng gần) được xem là vần thơ nổi danh thiên cổ có thể thẩm thấu cổ kim và có sức lay động lòng người nhất trong các bài thơ Đường.
Vương Bột sinh ra trong một gia đình thi thư có nhiều đời làm quan. Ông nội ông là Vương Thông, một tú tài xuất sắc thời nhà Tùy, từng giữ các chức như Ti hộ thư Tả quận Thục và Thục vương thị độc. Sau này ông từ quan về quê, chuyên giảng dạy và viết sách ở Long Môn. Tác phẩm của ông có “Nguyên Kinh” và “Trung Thuyết”, được giới nho sĩ thời đó hết sức ca ngợi. Cha ông là Phúc Trĩ, từng lần lượt giữ các chức Thái Thường Bác Sĩ, Tư công Ung Châu, huyện lệnh hai huyện Giao Chỉ và Lục Hợp, Trường sử Tề Châu… Về cuối đời ông bắt đầu hứng thú với huyền học (tức tu luyện) [1][2]. Vương Bột bẩm sinh thông minh, ngộ tính hơn người, là một thần đồng trưởng thành sớm [1]. Năm sáu tuổi ông đã có thể viết văn rất hay; chín tuổi đọc “Hán Thư” do Nhan Sư Cổ chú giải đã có thể chỉ ra sai sót trong sách [3]; mười tuổi chỉ trong một tháng đã đọc thông “Lục Kinh” mà không gặp bất kỳ trở ngại nào. Ngay cả người bạn cũng có xuất thân thần đồng như ông là Dương Quýnh cũng cho rằng tri thức của ông là do tiên thiên mà có (“Huyền nhiên thiên đắc, Tự phù tích huấn) [1]. Năm mười bốn tuổi, ông được tiến cử dưới danh tiếng thần đồng, đứng đầu trong kỳ khảo hạch và được ban chức Triêu Tán Lang; năm mười sáu tuổi, Bái Vương triệu ông vào phủ làm chức Tu soạn của Bái phủ, đối đãi với ông hết sức quý trọng; đến năm mười tám tuổi, do khi ấy phong trào chọi gà rất thịnh hành, việc chọi gà giữa các vương gia lại càng náo nhiệt phi thường, Vương Bột đùa vui viết một bài “Hịch gà của Anh Vương” (“thảo phạt con gà của Anh Vương”), khiến hoàng đế vô cùng tức giận, lập tức đuổi ông khỏi vương phủ [3]. Sau đó ông đi du ngoạn khắp vùng Tứ Xuyên, “viễn du Giang Hán, lên xuống núi Mân Nga”, được linh khí sông núi hun đúc khải ngộ, nên văn thơ tiến bộ cực nhanh, “cơ trí như được Thần trợ giúp, mỗi ngày đều đổi mới sự nghiệp”. Mỗi bài văn ông viết ra đều khiến người khác kinh ngạc tán thưởng, đặc biệt bài “Bia miếu Phu Tử Ích Châu” được xem là “Tầm vóc hùng vĩ vượt xa người thường, xứng là kỳ bảo hiếm thấy qua nhiều đời”. [1]. Sau này ông lại được trọng dụng làm quan, nhưng vì giết một tên quan nô phạm tội mà suýt khiến bản thân mất mạng, còn liên lụy khiến cha ông cũng bị giáng chức [2]. Từ đó ông bỏ quan về nhà, chuyên tâm viết sách [1]. Năm 27 tuổi (tuổi mụ 28), ông đến Giao Chỉ thăm cha, thì do “vượt biển đắm nước, kinh hãi mà qua đời” [4].
Một đời người của Vương Bột tuy ngắn ngủi, chỉ sống 27 năm, nhưng đồng thời lại là một cuộc đời đầy biến hóa và phong phú. Những việc ông gặp và làm trong 27 năm ấy không hề ít hơn một người sống đến 80 tuổi. Là một thần đồng trưởng thành sớm, tư tưởng của ông không chỉ vượt xa bạn bè cùng trang lứa mà thậm chí còn vượt qua rất nhiều người trưởng thành uyên bác, vì thế ông không dễ được người khác thấu hiểu và tiếp nhận. Nếu chúng ta tưởng tượng ông là một người sống đến 81 tuổi, chỉ có điều “tốc độ” sống của ông nhanh gấp ba lần người thường: những việc người thường cần ba năm để trải qua và hoàn thành thì ông chỉ cần một năm là hoàn thành rồi. Nhìn một đời của ông theo cách như vậy thì sẽ dễ lý giải hơn nhiều. Tài hoa siêu thường và sinh mệnh cực ngắn của ông tạo thành một sự tương phản quá lớn, khiến suốt hàng nghìn năm nay, những người biết đến ông vẫn luôn tiếc nuối, cảm thán không thôi. Tuy nhiên, nếu nhìn cuộc đời ông từ góc độ tu luyện thì ngược lại sẽ cảm thấy tự nhiên hơn nhiều, không có gì đáng tiếc cả. Bởi vì đời người của bất kỳ người tu luyện nào cũng luôn được an bài theo con đường tu luyện thích hợp nhất đối với người đó. Trong lịch sử, có những người đắc Đạo khi còn rất trẻ đã rời khỏi thế gian này dưới hình thức “cái chết”. Trong cuộc đời ngắn ngủi mà nhiều biến động ấy của Vương Bột, điều chúng ta nhìn thấy là một con đường tu luyện phong phú đa sắc màu, cũng phong phú như chính cuộc đời của ông vậy.
Vương Bột từ nhỏ đã là một đứa trẻ hiếu thảo. Cha ông rất yêu thương con và thường dạy ông rằng: “Làm con mà không biết y thuật, người xưa cho là bất hiếu”. Ông ghi nhớ lời ấy trong lòng, âm thầm đi khắp nơi tìm danh y, hy vọng học được y đạo cao minh để trở thành người con hiếu thảo. Năm 661 (hoặc 660), khi ấy ông mới khoảng mười một, mười hai tuổi, ông đã bất ngờ gặp được một cơ duyên tuyệt hảo vượt xa kỳ vọng của mình: Ông gặp được Tào Phu Tử tại Trường An. Tào Phu Tử tên Nguyên, tự Đạo Chân, tự xưng là người kinh thành. Ông có thể giống như Biển Thước, chỉ cần nhìn khí sắc từ xa đã thấy rõ lục phủ ngũ tạng của con người; lại cũng có thể giống như Hoa Đà thực hiện những đại phẫu thuật như mổ ngực, rửa ruột. Theo lời ông kể sau khi thu nhận Vương Bột làm đồ đệ truyền thừa, trên thực tế ông chính là truyền nhân trực hệ của “Hoàng Đế Bát Thập Nhất Nan Kinh”. Bộ sách này là mật tịch thời thượng cổ, do Kỳ Bá truyền cho Hoàng Đế; từ Hoàng Đế truyền xuống tiếp tục qua 53 đời truyền nhân mới đến tay Tào Phu Tử. Trong 53 đời truyền nhân ấy có vị truyền nhân thứ 36 là Biển Thước, người đầu tiên chỉnh lý chương cú của sách gốc; còn vị truyền nhân thứ 46 chính là Hoa Đà. Tuy y thuật của Tào Phu Tử cao siêu xuất Thần, nhưng ông vô cùng cẩn trọng kín đáo, nên rất ít người biết đến ông. Khi gặp Vương Bột, ông khẽ vỗ nhẹ vào cậu rồi nói: “Không có dục vọng”. Vương Bột cúi lạy ông lần nữa, thành tâm xin được làm học trò của ông. Việc này ngay cả người thân trong nhà Vương Bột cũng không cho biết. Tào Phu Tử dạy ông “Chu Dịch Chương Cú”, “Hoàng Đế Tố Vấn”, “Nan Kinh”, còn có “Tam Tài Lục Giáp”, “Minh Đường Ngọc Quỹ”… tổng cộng học suốt 15 tháng. Khi chia tay, Tào Phu Tử dặn ông: “Đạo âm dương không thể tùy tiện nói với người khác; kỹ nghệ châm cứu cũng không thể tùy tiện truyền cho người khác. Đừng đắc ý quên mất mà hiển thị bản thân, mà nên đề cao bản thân một cách âm thầm”. Vương Bột làm theo lời thầy dạy, âm thầm tự học thêm năm năm nữa, cuối cùng “đã có cái tâm bước vào chính điện để nhìn thấy huyền áo”, rồi lại “ngước nhìn thái hư, dẫn dắt nguyên khí”, cảm thấy tất cả những ô uế trong thân thể mình đều đã biến mất, tinh khí bên trong trở nên trong sáng thanh tịnh. Vì thế ông nảy sinh nguyện vọng từ bỏ cuộc sống người thường để tu thành Thần Tiên [10].
Sau hơn sáu năm tu vi “từ y nhập Đạo” như đã nói ở trên, có lẽ vì đã tu xuất được công năng nhìn thấy tạng phủ bên trong, Vương Bột bắt đầu cảm thấy “nhân gian nhơ bẩn”, người đời không thanh sạch [12][14], từ đó nảy sinh tâm trạng chán ghét thế tục, muốn rời xa cõi đời [17][18]. Ông từng nói rằng mình “đã chán cõi nhân gian” [19], và hướng tới cuộc sống tu Đạo ẩn cư lánh đời [6][14]. Lại thêm việc đôi khi có những người bạn tu Đạo kể cho ông nghe các câu chuyện thần kỳ [5], đôi khi ông cũng mộng thấy mình du ngoạn cùng với Tiên nhân [6], càng khiến ông thêm khát vọng rời xa trần tục, sống cuộc đời Thần Tiên “tắm mình trong khói núi mây chiều” [14][17]. Khi ấy các Đạo sĩ lại rất thích dùng “thạch tủy”, cho rằng ăn vào có thể giúp phi thăng, điều này cũng khiến lòng ông nao nức không thôi [8]. Ông cũng hiểu rằng tư tưởng của mình có mâu thuẫn với cuộc sống hiện thực. Trong bài “Tựa du Sơn Miếu” viết năm 20 tuổi, ông nói rằng bản thân thường học sách Tiên, đọc rộng các sách Đạo gia, nhưng vì phụng sự trưởng bối và người thân nên vẫn phải mưu cầu cơm áo; mà làm quan thì lại bị danh lợi trói buộc, cuối cùng sẽ hủy mất chân tính và căn cơ tiên thiên trong xã hội người thường [16]. Nhưng dù vậy, ông rốt cuộc vẫn là người có đạo tâm kiên định. Ông tin rằng mình “tự có thể gặp được Tiên gia” [9], hạ quyết tâm “thanh tịnh, trong sạch, giữ vững đạo”, không màng được mất ở thế gian mà “ôm giữ chính đạo” cho đến khi đạt tới “an chân, thủ phác… tận trung thực hành đạo” [19][21]. Bởi vì ông đã nhận thức được rằng: “Điều mà Thần minh coi trọng chính là Đạo”. Chỉ có “Đạo” mới là thứ mà sinh mệnh thực sự của ông coi là trân quý và theo đuổi [20]. Hơn nữa ông còn cảm nhận sâu sắc rằng “Đạo” cao thâm không thể dò lường [23]. Ở độ tuổi khoảng hai mươi, lại thêm tài hoa xuất chúng, đó vốn là thời cơ tốt nhất để tranh lấy công danh, lập nên sự nghiệp. Thế nhưng ông lại xem nhẹ vinh hoa phú quý nơi thế gian, cho rằng tu Đạo là “thượng sách”, còn “mưu cầu phú quý” chỉ là “hạ sách” [28]. Nếu một người sau khi có tuổi, trải qua nhiều gian truân và mài giũa của cuộc đời rồi mới quay về hướng Đạo, thì đó là điều tự nhiên và cũng không quá khó. Nhưng một đại tài tử đang độ thanh xuân rực rỡ mà có thể buông bỏ được mất thế gian, một lòng kiên định nơi Đạo, thì thực sự là điều vô cùng hiếm có.
Vương Bột từng nói rằng: “Ban đầu tôi học Chu lễ, đôi lúc cũng thích đọc sách Nho gia; nhưng về sau đọc sách Đạo gia mới cảm thấy phù hợp với chân tính của mình” [19]. Những lời ông ca ngợi Khổng Tử trong bài “Bia miếu Phu Tử Ích Châu” cũng rất đáng để suy ngẫm: “Thánh nhân lập giáo … hoàn thành biến hóa mà vận hành quỷ thần, quan sát âm dương mà nương tựa trời đất… tìm kiếm mọi huyền diệu trong cõi trọng huyền, gom góp mọi tinh hoa nơi thái tố”. Rồi ông còn dẫn “Kinh Dịch” rằng: “Thánh nhân dùng Thần Đạo để giáo hóa mà khiến cho vạn vật đều quy phục” [24]. Ông đứng trên góc độ Đạo gia để nâng Khổng Tử lên cao hơn; còn những “đại Nho” đời sau, đặc biệt từ thời Tống trở đi, lại đứng trên lý luận tầng thấp của Nho gia mà kéo Khổng Tử xuống thấp hơn. Thế nhưng phần lớn người đời sau lại cho rằng chính những “đại Nho” ấy mới là người kế thừa và phát huy tư tưởng bác đại của Khổng Tử!
Khi truyền dạy cho Vương Bột, điều đầu tiên Tào Phu Tử giảng cho ông là “Chu Dịch Chương Cú”, vì thế ông không chỉ tinh thông mà còn cực kỳ am hiểu “Chu Dịch”, gồm cả những thứ mà người thời đó cho là rất khó như toán quái, suy tính vạn niên lịch…, ông đều rất thành thạo. Thậm chí ông còn từng suy tính và biên soạn một bộ “Đại Đường Thiên Tuế Lịch”, chuẩn bị sẵn cho người đời Đường một bộ lịch có thể dùng suốt một nghìn năm [2]. Nhưng những thứ ấy vẫn chưa khiến nhận thức của ông về Đạo tiến sâu thêm, cũng chưa khiến việc tu luyện của ông tiến thêm một bước. Sự lĩnh ngộ sâu hơn của ông về Đạo lại đến từ việc vận dụng đạo lý của “Kinh Dịch” theo hướng hoàn toàn ngược lại với người thường. Mà bước nhảy vọt trong nhận thức ấy, cũng giống như lần ông gặp Tào Phu Tử, lại đến từ một cơ duyên kỳ lạ ngoài sức tưởng tượng. Ngay trong khoảng thời gian ông chuyên tâm nghiên cứu “Chu Dịch”, có một đêm ông nằm mơ thấy Khổng Tử đến nói với mình: “Dịch có Thái Cực, con hãy gắng lên”. Sau khi tỉnh dậy, ông ngẫm đi ngẫm lại, cuối cùng hiểu ra được ý nghĩa trong đó, rồi viết ra nhiều bài luận có tính phát huy sáng tạo đối với “Chu Dịch”. Ông từng viết năm quyển “Chu Dịch Phát Huy” cùng nhiều tác phẩm như “Thứ Luận”… nhưng về sau đều thất lạc. Tuy nhiên, bước nhảy vọt trong nhận thức lần này của ông, đến nay vẫn có thể nhìn thấy đôi chút dấu vết qua một số bài văn còn lưu lại. Trong bài “Bát Quái Bốc Đại Diễn Luận”, ông từng nói: “Khi con người không còn suy nghĩ tính toán, cũng không còn yêu thích bất cứ thứ gì, thì đã cách cảnh giới Thái Cực không còn xa nữa; mọi thứ có thể nhìn thấy đều sinh ra từ Lưỡng Nghi, mà khi con người quên sạch toàn bộ những thứ hữu hình ấy, đó chính là Thái Cực” [22]. Người từng đọc “Chu Dịch” đều biết: “Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng”. Nhưng người thường đều thuận theo con đường “sinh phát” ấy mà đi xuống dưới, cho đến khi thuộc nằm lòng 64 quẻ, rồi đem nó dùng vào các sự việc của người thường. Người thường luôn coi trọng “vật” và “dụng”; đây cũng chính là điều Lão Tử nói: “Khi cái mộc mạc bị phân tán thì trở thành khí cụ”. Nhưng người tu luyện thì phải “phản phác quy chân”, buông bỏ “vật” và “dụng”, vì vậy phải đi ngược lại: từ muôn hình vạn tượng nơi thế gian quay về 64 quẻ, rồi từ 64 quẻ quay về Tứ Tượng, Lưỡng Nghi rồi trở về Thái Cực. Thái Cực chính là “Có”, chính là “Một”, cũng chính là “Phác”. Quá trình này hoàn toàn ứng với “lời điên truyền Đạo” của Trương Tam Phong: “Thuận là phàm, nghịch là Tiên, chỉ cần đảo ngược lại mà thôi”. Vậy mà hơn một nghìn năm trước, Vương Bột là một thanh niên chỉ khoảng hai mươi tuổi đã có nhận thức siêu thường như thế về “Đạo”, đặc biệt là về “Dịch”. Điều này quả thật khiến rất nhiều người tu Đạo từ thời điểm đó cho đến tận ngày nay phải cảm thấy hổ thẹn không thôi.
Đến đây, con đường tu luyện của Vương Bột lẽ ra đã rất rõ ràng: từ y mà nhập Đạo, từ “Dịch” mà đề cao; lại luôn được những bậc siêu phàm nhập thánh đích thân chỉ dạy hoặc điểm hóa trong mộng, hơn nữa đã tu đến mức xem nhẹ hồng trần, buông bỏ danh lợi, giữ Đạo không đổi. Không còn nghi ngờ gì nữa, ông hẳn phải là một người tu luyện của Đạo gia. Thế nhưng, sau khi đã “hết lần này đến lần khác” khiến chúng ta kinh ngạc, ông lại tiếp tục “lần thứ ba” khiến người ta kinh ngạc thêm một lần nữa: Ông lại toàn tâm toàn ý bước vào tu Phật!
Nhưng lần này không giống hai lần trước, cơ duyên đột ngột khiến ông bước sang tu Phật đã không được hậu thế ghi chép lại. Vì phần lớn tác phẩm của ông đều đã thất lạc, nên cuốn “Vương Tử An Tập” hiện còn lưu truyền thực ra là kết quả được người đời Minh, vào năm Canh Thìn thời Sùng Trinh khi khắc in tác phẩm của “Sơ Đường Tứ Kiệt”, gom góp từ một ít đoạn văn tàn khuyết còn sót lại mà thành. Vì vậy, chúng ta không thể biết chính xác ông bắt đầu quyết tâm tu Phật từ khi nào. Nhưng căn cứ theo “Vương Tử An Tập”, ít nhất có thể biết rằng đến năm 20 tuổi ông vẫn chưa quyết ý tu Phật [16][28]. Do đó, việc ông chính thức bước vào tu Phật có lẽ xảy ra vào một thời điểm nào đó giữa tuổi 20 và 27. Trong mười bài văn bia mà ông để lại, ngoại trừ bài nổi tiếng “Bia miếu Phu Tử Ích Châu”, thì chín bài còn lại đều là văn bia viết cho chùa chiền Phật giáo. Mà hai bài cuối cùng trong “Vương Tử An Tập” lại chính là “Thích Ca Như Lai Thành Đạo Ký” và “Thích Ca Phật Phú”. “Thích Ca Như Lai Thành Đạo Ký” là một bài phú rất dài, kể lại quá trình Đức Phật Thích Ca Mâu Ni phát tâm tu Đạo và cuối cùng đắc Đạo. Vì trong đó sử dụng rất nhiều thuật ngữ chuyên môn của Phật gia nên người bình thường rất khó để đọc hiểu. Bởi vậy, đại sư Huệ Ngộ nổi tiếng ở Tiền Đường đã đặc biệt viết chú giải chi tiết cho tác phẩm này; nguyên văn cộng với phần chú giải dài tổng cộng 26 trang [26]. “Thích Ca Phật Phú” là một bài phú ngắn ca ngợi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Hai câu cuối của bài: “Nay ta hồi hướng về Bồ Tát, Một lòng quy mệnh nơi viên tịch” chính là lời thệ nguyện quyết tâm tu Phật của Vương Bột [27]. Trong phần chú giải cho “Thích Ca Như Lai Thành Đạo Ký”, đại sư Huệ Ngộ còn nhắc tới hai tác phẩm khác của Vương Bột là “Thích Ca Họa Tượng Ký” và “Duy Ma Họa Tượng Bi”, vốn đều là tác phẩm nổi danh “thịnh hành trong thiên hạ” thời bấy giờ, nhưng hiện nay sách đều đã không còn nữa. Ngoài ra, Vương Bột còn từng viết lời tựa cho “Tứ Phần Luật Tông Ký” [13]. Đây là một bộ sách giảng về Bát Chính Đạo của Phật gia, toàn bộ tác phẩm dài tới hàng trăm nghìn chữ.
-
- Tài liệu tham khảo**
[1] (Đường) Dương Quýnh: “Lời tựa cũ cho Đường Vương Tử An Tập”, đầu quyển; (tên sách xem ở cuối)
[2] (Hậu Tấn) Lưu Hú: “Truyện Vương Bột”, phụ lục;
[3] (Tống) Tống Kỳ: “Truyện Vương Bột”, phụ lục;
[4] “Niên biểu thi nhân”, “Từ điển giám thưởng thơ Đường”;
[5] “Hoài Tiên (kèm lời tựa)”, quyển 2;
[6] “Chợt mộng du tiên”: “Thói tục không phải quê hương ta, Bao giờ mới thoát khỏi bụi mê”, quyển 2;
[7] “Tiễn Đỗ Thiếu Phủ đi nhậm chức ở Thục Châu”: “Thành đây giữ đất Tam Tần, Khói gió xa trông chốn Ngũ Tân. Cùng bùi ngùi mang nỗi biệt ly, Đều là kẻ làm quan xa xứ. Khắp bốn biển, còn người tri kỷ, Nơi thiên nhai, như xóm láng gần. Hà tất ngậm ngùi nơi rẽ lối, Giống tuồng nhi nữ, lệ đầy khăn”, quyển 3;
[8] “Ngày thu du quán Tiên Du tặng đạo sĩ”: “Đợi ta gặp được thạch tủy, Theo ông cưỡi hồng nhạn bay cao”, quyển 3;
[9] “Tặng Lý Thập Tứ (bốn bài)” (bài thứ hai): “Cả đời cùng thơ và rượu, Tự thấy mình hợp với Tiên gia”, quyển 3;
[10] “Lời tựa Hoàng Đế Bát Thập Nhất Nan Kinh”, quyển 4;
[11] “Lời tựa Tục Thư”, quyển 4;
[12] “Lời tựa nhớ bạn nơi sơn đình”: “Gối cao trăm năm, nhìn sinh linh nơi nhơ bẩn”, quyển 4;
[13] “Lời tựa Tứ Phần Luật Tông Ký”, quyển 4;
[14] “Lời tựa ngày thu dạo hồ sen”: “Nhân gian nhơ bẩn, ôm chí phong vân được mấy người? Cõi tục rối ren, người anh kỳ có được bao nhiêu? Khói mây gọi ta, xa xa hướng về cửa Đạo thuật”, quyển 5;
[15] “Đằng Vương Các Tự”: “Người quân tử an vui trong cảnh nghèo, bậc đạt nhân hiểu thiên mệnh”, quyển 5;
[16] “Lời tựa du Sơn Miếu”, quyển 5;
[17] “Lời tựa tiệc tại nhà người anh họ”: “Ta bất hạnh, sống giữa dòng tục mà lại thích khói mây”, quyển 6;
[18] “Lời tựa tiễn Vũ Văn Minh”: “Các vị đều thích điều thiện, còn hạ quan thì ghét thói tục”, quyển 7;
[19] “Lời tựa tạm biệt Đạo Vương tại nhà Biện Công khi vào Lạc Dương cuối thu”: “Thuở đầu học Chu lễ, ngẫu nhiên yêu thích Nho tông; Về sau đọc Lão Trang, mới thấy hợp với chân tính”; “Đã chán cõi nhân gian”; “An chân giữ phác… tận trung thực hành đạo”, quyển 7;
[20] “Lời tựa tiệc tiễn Tiết Thăng Hoa trong đêm thu tại Miên Châu”: “Điều mà Thần Minh coi trọng chính là Đạo”, quyển 7;
[21] “Mười bài luận Bí lược Bình Đài” – “Trinh Tu” (bài 2): “Ôm giữ chính trực mà thủ Đạo”; “Thanh tịnh, trinh chính, giữ vững Đạo”, quyển 10;
[22] “Bát Quái Bốc Đại Diễn Luận”: “Không nghĩ ngợi, không ham thích, thì Thái Cực chưa từng xa vậy. Thấy nó thì là Lưỡng Nghi, quên nó thì là Thái Cực”; “Nếu không phải sách của thánh nhân thì không đọc, Nếu không phải lời của thánh nhân thì không lấy”, quyển 10;
[23] “Tán Bí lược Bình Đài” – “Trinh Tu thứ hai”: “Đạo hợp với huyền cực”, quyển 12;
[24] “Bia miếu Phu Tử Ích Châu”, quyển 13;
[25] “Bia chùa Long Hoài huyện Cửu Lũng, Bành Châu”, quyển 13;
[26] “Thích Ca Như Lai Thành Đạo Ký”, chú giải của đại sư Huệ Ngộ ở Tiền Đường, phụ lục;
[27] “Thích Ca Phật Phú”: “Nay ta hồi hướng về Bồ Tát, một lòng quy mệnh nơi viên tịch”, phụ lục;
[28] “Di Sự” (“Thuật hoài mô phỏng thơ cổ”): “Ta sinh hai mươi năm, Mang chí hướng đã hơn mười năm. Hạ sách là cầu phú quý, Thượng sách là ôm hoài Thần Tiên”, phụ lục.
Những bài thơ và văn được trích dẫn trong bài này, ngoài những tác phẩm đã chú rõ tên sách, đều có thể tham khảo trong “Vương Tử An Tập”, thuộc bộ “Quốc học cơ bản tùng thư (400 loại)” do Vương Vân Ngũ chủ biên, do nhà xuất bản Thương Vụ xuất bản tại Đài Loan, bản in tháng 9 năm Dân Quốc 57.
Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/20171