Tác giả: Mai Tùng Hạc

[ChanhKien.org]

Mạnh Hạo Nhiên (689–740) là một đại thi nhân thời Thịnh Đường, nổi danh ngang hàng với Vương Duy. Ông cùng Vương Duy được hậu thế gọi chung là “Vương – Mạnh”, hai người họ là những nhân vật tiêu biểu của trường phái thơ điền viên thời Đường. Thơ của ông phần lớn nổi tiếng với đề tài ẩn dật và cuộc sống điền viên. Phong cách thơ thanh đạm, tự nhiên của ông tạo thành một trường phái riêng của thơ Đường, được xưng tụng là “độc đáo đặc sắc” [1], “thần vận siêu nhiên” [2], phẩm cách cao siêu, được người đời sau hết sức tôn sùng. Nhiều bài thơ của ông “gặp cảnh liền ngâm vịnh, không cố gắng gò ép tìm cái khác lạ” [3], “được lĩnh hội từ sự giác ngộ trong tĩnh lặng, vì vậy lời thơ tuy thanh đạm mà không nhạt” [4]. Nói cách khác, sự cao diệu trong thơ ông bắt nguồn từ sự tu dưỡng nội tâm, chứ không phụ thuộc vào sự khéo léo hay vụng về của câu chữ và bút pháp.

Bài “Thu đăng Vạn Sơn ký Trương Ngũ” của ông là một minh chứng tiêu biểu cho những đặc điểm nói trên. Toàn bài thơ hòa quyện giữa tình và cảnh, dung hợp thành một thể, tình cảm phiêu dật mà chân thành, cảnh sắc thì thanh đạm mà tươi đẹp. Bài thơ “Hạ nhật Nam Đình hoài Tân Đại” của ông giàu ý vị, được “ca ngợi là thanh tuyệt một thời” [4], khi ngâm đọc lại thấy “vang lên âm thanh cung thương của tiếng kim thạch” [5]. Bài “Đề Nghĩa Công thiền phòng” mang phong vị cổ nhã, tiêu sái ngoài cõi tục; thủ pháp tự nhiên, sáng sủa, lời thơ thanh đạm mà tú lệ. Đối với bài “Tống Đỗ Thập Tứ chi Giang Nam”, người đời sau từng khen rằng: “Nói đây là thơ của Mạnh Hạo Nhiên, chi bằng nói đây là Mạnh Hạo Nhiên của thơ ca thì đúng hơn”. [6] Còn bài “Độ Chiết Giang vấn chu trung nhân” được Tô Thức bình là “gửi gắm ý vị sâu xa vào trong sự đạm bạc” [7]. Bài “Vãn bạc Tầm Dương vọng Lư Sơn” có màu sắc đạm bạc, tự nhiên không để lộ vết tích, “toát lên một vẻ không linh thuần khiết”, được hậu thế ca ngợi là “ống tiêu của trời”. Bài “Quá cố nhân trang” thì “thanh đạm đến mức không còn nhìn thấy dấu vết của thơ” [8], “cái diệu của bố cục khiến người đọc không còn nhận ra kỹ pháp câu chữ” [4], nghệ thuật đã thấm sâu vào toàn bộ huyết mạch của tác phẩm, tạo nên vẻ đẹp tự nhiên, như vốn sinh thành từ tạo hóa. Còn “Xuân Hiểu” thì hầu như bất cứ ai từng đọc qua vài bài thơ Đường đều có thể thuộc lòng: Xuân miên bất giác hiểu, Xứ xứ văn đề điểu. Dạ lai phong vũ thanh, Hoa lạc tri đa thiểu. (Tạm dịch: Giấc ngủ đêm xuân không biết trời sáng, Nơi nơi đều nghe thấy tiếng chim hót. Đêm qua trong gió mưa, Chẳng hay hoa rụng nhiều hay ít?) Hơn một nghìn năm qua, bài thơ này vẫn luôn được người đời truyền tụng và bàn luận. Dường như chỉ trong vỏn vẹn hai mươi chữ đã ẩn chứa một kho tàng nghệ thuật vô tận. Tình cảm của thi nhân hòa nhập vào cảnh vật, thấu đạt trọn vẹn cái thú chân thực và sự thuần túy của thiên nhiên. Đây là một trong những bài thơ đạt đến vẻ tự nhiên nhất. Mỗi lần ngâm đi ngâm lại, người ta không khỏi cảm khái trước câu: “Văn chương vốn do thiên phú, người tài hoa chỉ tình cờ lĩnh hội được”.

Mạnh Hạo Nhiên sinh ra trong một gia đình có truyền thống thư hương, “gia thế trọng Nho phong”, nhiều đời học “Kinh Thi”, noi theo “Lễ Ký”, luôn lấy tinh thần “quân tử phải tự cường không ngừng” làm lời răn dạy. Hơn nữa, ông còn có học vấn và thành tựu rất cao về từ phú [9]. Trước tuổi bốn mươi, ông luôn sống cuộc đời ẩn cư tại Giản Nam viên, gần núi Nghiễn Sơn ở Tương Dương. Về sau, ông lên kinh ứng thí nhưng không đỗ, rồi du ngoạn vùng Ngô – Việt, sau đó lại trở về cuộc sống ẩn dật và chuyên tâm tu luyện. Ngoài mấy năm cuối đời từng làm quan dưới trướng Trương Cửu Linh, gần như cả cuộc đời ông đều sống trong cảnh ẩn cư. Ông đặc biệt yêu thích non nước, du sơn ngoạn thủy, nuôi dưỡng tính tình là nội dung cơ bản trong cuộc sống của ông. Ông sống giữa cánh rừng rộng lớn, bốn bề vắng lặng, không nghe thấy tiếng huyên náo nơi phố thị; khi thì buông cần câu cá bên khe núi phía bắc, khi thì mở cửa sổ phía nam lắng nghe “tiếng hát” của những người tiều phu đang đốn củi. Ông ghi lại những cảm ngộ của cuộc sống ẩn cư, rồi cùng những người bạn thích tĩnh tâm suy ngẫm đem ra đàm đạo. Trên ngọn núi mây trắng lững lờ trôi, người ẩn sĩ tự tìm niềm vui trong lòng mình; leo lên nơi cao, phóng tầm mắt ra xa, để tâm cảnh theo cánh nhạn bay dần vào cõi hư không tĩnh lặng. Ông đặc biệt ngưỡng mộ Đào Uyên Minh, cho rằng lối sống ẩn cư của Đào Uyên Minh là một cuộc sống điền viên cao nhã: tự mình cày cấy, buông cần, sống thanh nhàn tự tại, tự cung tự túc, uống rượu tiêu dao, thú vị vô cùng. Không có người phàm tục đến quấy nhiễu, nhờ đó bồi dưỡng được khí tiết thanh cao của các bậc cao nhân nhã sĩ thời xưa. Ngoài ra, ông còn luôn noi theo các ẩn sĩ cổ đại, vừa đọc sách vừa luyện kiếm; sách và kiếm đã bầu bạn với ông suốt mấy chục năm. Ông cũng thỉnh thoảng trồng ít rau, chăm chút tre trúc và cây cối trong vườn, nhưng mục đích chủ yếu không phải để mưu sinh, mà là để nuôi dưỡng khí chất cao thượng của bản thân [10].

Năm bốn mươi tuổi, Mạnh Hạo Nhiên vào kinh dự thi, cùng một nhóm thi nhân tụ hội ngâm vịnh xướng họa. Chỉ với hai câu thơ: “Vi vân đạm Hà Hán, sơ vũ trích ngô đồng” (Mây mỏng nhạt trên dải Ngân Hà, mưa thưa nhỏ giọt trên cây ngô đồng) ông đã khiến cả hội trường đều khâm phục, danh tiếng thơ ca nhanh chóng vang xa. Đương thời, Tể tướng Trương Cửu Linh cùng Vương Duy và nhiều quan lại trong kinh thành yêu thích thi ca đều kết giao bằng hữu với ông. Quận thú Hàn Triều Tông ban đầu ra sức ca ngợi tài năng của ông với các vị quan lớn, rồi hẹn ngày sẽ dẫn ông đến để tiến cử. Đến ngày đã hẹn, Mạnh Hạo Nhiên lại đang cùng một nhóm bạn uống rượu, đàm luận thi ca, không khí vui vẻ. Có người nhắc ông rằng: “Ông đã có hẹn trước với Hàn công, nếu không đến, e rằng sẽ thất lễ với người ta”. Ông không vui đáp: “Ta đã uống rượu, thân tâm đang khoan khoái, còn bận tâm những chuyện khác làm gì”. Thế là một cơ hội rất tốt để bước vào con đường làm quan đã vuột mất. Nhưng về sau, ông cũng không hề hối tiếc. Mức độ “ưa vui mà quên danh lợi” của ông quả thực khiến người đời không khỏi cảm thán [1].

Sự việc này, ngoài việc cho thấy tính cách phóng khoáng, không câu thúc của Mạnh Hạo Nhiên, e rằng còn hàm chứa sự tự tin của ông: ông cho rằng mình không cần người khác tiến cử, chỉ dựa vào chân tài thực học cũng đủ để thăng tiến trên con đường công danh. Thế nhưng, khi kỳ thi tiến sĩ được công bố, ông lại bất ngờ thi trượt. Đối với ông, đây là một đòn giáng vô cùng nặng nề, bởi lẽ ông từng “học hành ba mươi năm, đóng cửa chuyên tâm nơi bờ nam sông Hán”[11], tích lũy một bụng tài học, lại được các đại thi nhân và các quan lớn như Vương Duy, Trương Cửu Linh hết lời ca ngợi, tiến cử, khiến danh tiếng thi ca đã vang khắp kinh thành. Lần thất bại này quả thật là “được nâng càng cao thì ngã càng đau”. Trong nỗi buồn bã và thất vọng, ông định dâng thư lên hoàng đế, nhưng rồi lại do dự không quyết, bụng đầy oán thán mà không biết giãi bày cùng ai. Trong tâm trạng phức tạp ấy, ông đã viết bài thơ “Tuế mộ quy Nam Sơn”: “Đừng dâng thư lên cửa khuyết phương Bắc nữa, Hãy trở về túp lều tranh nơi Nam Sơn. Không có tài nên bị bậc minh quân ruồng bỏ, Lắm bệnh nên bạn cũ cũng dần xa. Tóc bạc giục tuổi già kéo đến, Tiết xuân lại thúc một năm sắp hết. Ôm mãi nỗi sầu, suốt đêm không ngủ, Chỉ có trăng soi qua cửa sổ giữa rừng thông vắng lặng”. Bề ngoài, trong bài thơ ông liên tiếp tự trách, tự trách mình hết lần này đến lần khác; nhưng xét đến tận đáy lòng, lại là tầng tầng lớp lớp tâm trạng oán trời trách người: “Còn dâng thư lên hoàng đế làm gì nữa? Thôi trở về túp lều tranh của mình ở Nam Sơn đi! Vì không có tài nên mới bị bậc minh quân ruồng bỏ; vì lắm bệnh nên bạn bè cũng dần xa lánh, thật là đã rơi vào bước đường cùng! Mái đầu đã bạc, lòng cầu công danh lại tha thiết mà vẫn thi trượt; ngay cả mùa xuân tươi đẹp cũng như đang đẩy con người đến tuổi già và cái chết! Nỗi sầu không sao xua tan khiến người ta thao thức suốt đêm không ngủ, vậy mà gió thông, trăng sáng vẫn xuyên qua khung cửa, đem cái trống vắng của sân khuya và đêm tĩnh mịch phủ lên một cõi lòng vốn đã quá đỗi cô quạnh!”

Tương truyền, có lần Mạnh Hạo Nhiên được Vương Duy mời vào nội thự. Đúng lúc ấy, Đường Huyền Tông ngự đến. Huyền Tông yêu cầu Mạnh Hạo Nhiên đọc thơ cho mình nghe, ông bèn đọc bài “Tuế mộ quy Nam Sơn”. Nghe xong, Huyền Tông nổi giận nói: “Khanh không cầu làm quan, chứ trẫm nào từng ruồng bỏ khanh, sao lại vu oan cho trẫm?” [12] Có thể thấy, Huyền Tông đã nhận ra, ẩn sau những lời thơ hàm súc, uyển chuyển của ông là cả một bụng đầy oán thán và bất mãn, đồng thời cho rằng ông đang “vu oan” mình, nên long nhan hết sức không vui. Không cần phải nói, một cơ hội tốt đẹp nhất để được hoàng đế chú ý và trực tiếp cất nhắc vào con đường làm quan lại một lần nữa vuột khỏi tay ông.

Đòn đả kích nặng nề này đã trở thành bước ngoặt quan trọng trong tư tưởng của Mạnh Hạo Nhiên. Nó giống như một gậy cảnh tỉnh, bất ngờ đánh thức ông, khiến ông hạ quyết tâm sẽ sống cuộc đời ẩn dật lâu dài. Ông quyết định rời kinh thành, trước tiên đi du ngoạn Giang Nam một chuyến, rồi trở về quê hương sống cuộc đời quy ẩn. Trước khi rời kinh, ông để lại một bài thơ gửi người bạn tri kỷ Vương Duy, dùng những lời lẽ đau xót, tâm tình oán cảm và những giọt nước mắt cay đắng để bày tỏ nỗi lòng sau khi đích thân nếm trải sự lạnh nhạt của thế thái nhân tình. Ông cảm thán rằng tri âm quá ít, đồng thời bày tỏ quyết tâm kiên quyết trở về cuộc sống ẩn cư [13].

Ông chu du khắp nhiều danh thắng ở vùng Giang Nam (Ngô, Việt), đặc biệt là những nơi nổi tiếng của các bậc ẩn sĩ. Nỗi bất mãn và chán nản do tài cao mà thi trượt đã tìm được sự an ủi lớn nhất ở nơi những di tích lịch sử của các bậc tiên hiền ẩn cư. Ngược lại, lòng tưởng nhớ và ngợi ca đối với các bậc tiên hiền ấy càng làm cho khát vọng và quyết tâm quy ẩn của ông thêm kiên định. Lúc đầu, những giằng xé mãnh liệt trong nội tâm vẫn chưa thể buông bỏ, lòng đầy mê mang, không nhìn thấy tương lai, bàng hoàng như vừa đánh mất điều gì. Nhưng khi nghĩ đến các bậc tiên hiền ẩn cư, đặc biệt là ẩn sĩ Thượng Trường (Thượng Tử) thời Đông Hán và cao tăng Huệ Viễn (Viễn Công) thời Đông Tấn, họ là những bậc cao nhân xuất thế mà ông từ lâu vẫn luôn kính ngưỡng và khâm phục, vì thế ông không khỏi muốn bày tỏ nỗi lòng với các vị ẩn sĩ và cao tăng ấy: “Sớm muộn gì ta cũng sẽ đến cùng các vị chia sẻ thú thanh nhã của cuộc sống ẩn dật giữa núi rừng”. Khi thuyền đậu ở Tầm Dương, phóng tầm mắt về Lư Sơn, giữa lúc hoàng hôn buông xuống, tiếng chuông từ Đông Lâm Tinh Xá, nơi “Viễn Công” từng tu hành, vang vọng đến, ông lại nhớ về sự tích của cao tăng Viễn Công, trong lòng dâng lên niềm kính ngưỡng và hoài niệm. Đối với Bàng Đức Công, vị ẩn sĩ nổi tiếng cuối đời Đông Hán đã lánh đời, đưa cả gia quyến về ẩn cư ở Lộc Môn, ông cũng hết sức tôn kính, cảm khái rằng: “Dấu tích quy ẩn đến nay vẫn còn, nhưng phong thái cao khiết ấy đã xa khuất biết bao”. Trong quan niệm của ông, sống ẩn cư chính là cách tốt nhất để gột sạch mọi “trần lự” (những lo toan và vướng bận của cõi tục) [14].

Tuy nhiên, đối với nhiều người ẩn cư, cuộc sống ẩn dật không phải là điểm kết thúc của việc lánh xa cõi bụi trần, mà chỉ là điểm khởi đầu của con đường siêu thoát khỏi thế tục. Một khi đã ẩn mình nơi núi rừng, xa rời cảnh huyên náo, ảnh hưởng của xã hội người thường ngày càng giảm bớt, sức hấp dẫn to lớn của việc tu luyện rất có thể sẽ đưa người ẩn cư tiến thêm một bước, từ một người ẩn sĩ trở thành một người tu luyện. Biểu hiện đầu tiên của sự chuyển biến ấy thường là dần dần mất đi hứng thú đối với những “vật ngoài thân” như danh, lợi, tiếng tăm và vinh hoa nơi thế gian, Mạnh Hạo Nhiên cũng đã tự mình trải nghiệm điều này: “Nay ta chỉ mong được sống cuộc đời của một người nông phu tự cày cấy, tự nuôi sống mình; chỉ cần có rượu để uống, còn ai màng đến danh lợi thế gian nữa! Ta thà vui đùa cùng chim âu trên mặt nước, bầu bạn với chim én bên sông, làm một kẻ nho sĩ tự do cất tiếng ca cuồng, còn hơn phải nịnh bợ quyền quý, a dua theo kẻ có thế lực để làm những điều khiến bản thân phải hổ thẹn”. [15]

Nhân loại từ xưa đến nay chưa bao giờ ngừng theo đuổi những cảnh giới tốt đẹp hơn. Tư tưởng chán ghét cõi đời và rời xa thế tục chính là nấc thang tự nhiên nhất dẫn con người đến con đường tu luyện và “phản bổn quy chân”. Mạnh Hạo Nhiên bắt đầu ca ngợi việc tu luyện và những người tu luyện: “Những vị ‘ngạo lại’ như Trang Tử tuyệt đối không phải là người tầm thường; những bậc danh sĩ, danh lưu chân chính ở thế gian phải là những người đắc Đạo trong giới tu luyện”. Ông còn nói: “Có ai mà không ngưỡng mộ những bậc Thần Tiên đã đắc Đạo chứ?” Đồng thời, ông cũng kết giao rộng rãi với những người trong giới tu luyện. Mỗi khi nhắc đến họ, giọng điệu của ông luôn tràn đầy sự kính ngưỡng: “Người bạn của ta sống ở núi Lộc Môn, tay cầm chiếc quạt lông trắng, chân đi đôi dép cỏ màu xanh, thường thong dong dạo bước bên dòng suối trong khe núi”. Khi cùng Lý Ngự sử đến thăm Thông Thiền thượng nhân, ông viết: “Ta thấy căn phòng xây bằng đá dường như từ lâu chưa từng có người đặt chân đến, vậy mà trên chiếc giường dây của thiền sư lại có một con hổ đang ngủ say”. Ông cũng nhắc đến người bạn tu Đạo là Thái Nhất Tử trên núi Thiên Thai: “Ông sống gần Xích Thành, hằng ngày ‘ăn mây tía, uống khí trời’, không dùng khói lửa nhân gian”. Mạnh Hạo Nhiên còn kể: “Ta đã đích thân đến núi Thiên Thai bái kiến ông và được biết ông thường gặp các vị Tiên vào lúc gà gáy, mặt trời vừa mọc. Tuy ở nơi Xích Thành, nhưng ông tiêu dao tự tại ngao du giữa mây trời. Ngay cả rêu xanh, cỏ dại nơi ông cư ngụ cũng khác với chốn nhân gian, còn thác nước thì như ranh giới ngăn cách hẳn với cõi tục. Ta thật chỉ muốn được mãi mãi thong dong trong cảnh giới ấy!”[16]

Trước tuổi bốn mươi, Mạnh Hạo Nhiên sống trọn trong cảnh ẩn cư, ngày ngày đọc sách, luyện kiếm, tâm cảnh nhàn tản, hầu như không phải chịu áp lực nào về tinh thần hay tình cảm. Đến năm bốn mươi tuổi, ông vào kinh ứng thí, trước thì được mọi người hết lời tán dương, khiến ông như đang ở trên mây; nhưng ngay sau đó lại bất ngờ ngã xuống vì liên tiếp gặp những thất bại nặng nề. Sự thăng trầm dữ dội về tâm lý và cảm xúc ấy tất yếu dẫn đến những rối loạn về sức khỏe. Hơn nữa, theo y học cổ truyền Trung Quốc, “bệnh do lục dâm thì dễ chữa, bệnh do thất tình thì khó trị”. Qua thơ của ông có thể thấy, dường như ông là một người thường xuyên mắc bệnh [17]. Bất kỳ ai mắc bệnh, đặc biệt là người mang bệnh lâu ngày hoặc bệnh nặng, khi mới bước vào con đường tu luyện đều có nguyện vọng mãnh liệt là trừ bệnh khỏe thân. Mạnh Hạo Nhiên cũng biểu hiện rất rõ ở phương diện này. Ông từng nhắc đến việc vào hang núi tìm “thạch tủy” và lên vách núi thu hái mật ong rừng. “Thạch tủy” là một loại đan dược được các đệ tử Đạo gia thời bấy giờ đặc biệt ưa dùng; tương truyền nếu uống được loại thạch tủy thượng phẩm thì có thể khiến người ta lập tức bay lên. Mật ong rừng, ngoài công dụng bồi bổ cơ thể, còn là chất nền quan trọng để luyện nhiều loại đan dược (do chứa lượng lớn sữa ong chúa). Ông cũng nhiều lần nhắc đến việc đi hái “chi thảo”. “Chi thảo”, thường gọi là linh chi, bao gồm hai loại lớn là nấm linh chi và cỏ linh chi. Nấm linh chi có tác dụng rất lớn trong việc điều hòa và cân bằng các chức năng của cơ thể; còn cỏ linh chi thì theo truyền thuyết có thể giúp con người trường sinh bất lão, thậm chí cải tử hoàn sinh. Từ đó có thể suy đoán rằng thứ Mạnh Hạo Nhiên hái được có lẽ chỉ là nấm linh chi, bởi nếu thực sự là cỏ linh chi như trong truyền thuyết thì cơ thể ông hẳn đã không còn mang bất cứ bệnh tật nào nữa. Ngoài ra, ông còn hơn một lần bày tỏ mong muốn được học từ một vị đạo sĩ phương pháp “luyện đan dịch” [18].

Mạnh Hạo Nhiên có rất nhiều bạn bè thuộc cả Đạo gia lẫn Phật gia, vì vậy tư tưởng của hai nhà Phật và Đạo đều có ảnh hưởng rất lớn đến ông. Quá trình bước vào con đường tu luyện của ông cũng giống như nhiều người khác, là một quá trình nhận thức về tu luyện không ngừng được nâng cao. Xét từ phương diện Đạo gia, ban đầu ông chỉ mong muốn “trừ bỏ phiền não” và học “Đạo trường sinh”; đây cũng là phương diện thần kỳ của tu luyện mà người thường ở tầng thứ này dễ nhận thấy nhất. Ông cũng từng nói đến việc nuôi dưỡng “hạo khí”, thực hành tịch cốc dựa trên học thuyết “Ngũ hành”, rồi tiến thêm một bước đến việc “dưỡng điềm tố” (giữ tâm hồn thanh đạm, chất phác); ban ngày một mình tĩnh tọa, nhập định suy ngẫm để lĩnh hội đạo lý tu luyện. Cuối cùng, ông đề cập đến “huyền diệu lý” và “tâm tọa vong”. Có thời gian, ông còn mong muốn trở thành một “vũ nhân” (người đắc Đạo, có thể bay lên). Mãi đến cuối đời, khi Vương Xương Linh đến thăm, ông vẫn nhắc rằng mình rất yêu thích đọc những sách Đạo gia như “Thần Tiên Lục”, “Sơn Hải Kinh” và các thư tịch cùng loại [19].

Tuy nhiên, trong thơ của mình, Mạnh Hạo Nhiên lại thuật lại một cách hết sức tỉ mỉ ảnh hưởng của Thiền sư Trạm đối với quá trình ông bước vào tu luyện Phật gia. Ông viết rằng: “Từ thuở nhỏ, ta đã nghe nói đến ‘vô sinh lý’, vì vậy luôn mong được hiểu rõ những việc của chính mình qua bao đời bao kiếp. Nhưng giữa cuộc sống thế tục, thật khó để vừa lo toan việc đời vừa thực hiện được nguyện vọng trong tâm. Mãi đến khi tuổi già, sau khi quyết tâm sống cuộc đời ẩn cư lâu dài, ta mới tình cờ kết giao với Thiền sư và thường xuyên qua lại. Thương xót ta còn chìm đắm trong biển khổ, Thiền sư dùng những lời nói “phương tiện” phù hợp với khả năng tiếp nhận của ta để chỉ điểm, phá mê cho ta. Sau đó, ngài lại giảng giải cho ta “vi diệu pháp” gieo vào tâm ta hạt giống “thanh tịnh”, khiến ta bỗng nhiên thoát khỏi sự quấy nhiễu của “phiền não” và từ đó nảy sinh lòng yêu mến sâu sắc đối với cuộc sống khổ tu nơi núi rừng. Sớm tối ta đều đến thỉnh giáo Thiền sư những điều còn nghi hoặc trong lòng; qua nhiều lần đàm luận, ta ngày càng hiểu rõ thêm nhiều đạo lý tu luyện. Thiền sư có học vấn và tài năng xuất chúng về ngôn ngữ, văn chương, thật khiến người ta khâm phục. Thiền phòng luôn đóng kín, giữ một bầu không khí “hư tĩnh”. Chung quanh trồng hoa, trồng các loại dược thảo, bốn mùa xanh tốt. Trên một phiến đá phẳng, ta gảy đàn, làm thơ, mặc cho bọt nước từ thác đổ xuống và suối chảy tung toé trên đầu và thấm ướt y áo. Có khi gặp gỡ các bạn “pháp lữ” (bạn đồng tu), cùng nhau luận Đạo, đàm huyền suốt từ đêm đến sáng. Đó chính là vì suốt cuộc đời ta vẫn luôn ngưỡng mộ và theo đuổi cảnh giới ‘chân ẩn’, đồng thời không ngừng tìm cầu những điều linh diệu”.[20]

Mặc dù chúng ta không thể khẳng định rằng Mạnh Hạo Nhiên từng chính thức bái sư trong Phật môn hay đã trải qua nghi thức quy y nào, nhưng qua những bài thơ còn lưu lại của ông, quả thực có thể thấy ông đã hai lần gọi các vị tăng nhân Phật giáo là “ngã sư” (thầy của ta), đồng thời gọi những Phật tử hoặc cư sĩ cùng mình luận bàn Phật lý là “pháp lữ”, thậm chí gọi bữa cơm chay dùng khi đến thăm các vị tăng là “pháp diên” (tiệc chay trong chốn Phật môn). Những cách xưng hô ấy tuyệt nhiên không phải là điều mà một người chỉ có hứng thú với Phật giáo từ bên ngoài có thể tùy tiện sử dụng, huống chi ông còn trịnh trọng đưa chúng vào thơ của mình để lưu truyền rộng rãi, khiến thiên hạ không ai là không biết (thơ của ông lưu truyền rất phổ biến, và chính ông cũng ý thức được điều đó)[21]. Hơn nữa, trong một số bài thơ, ông xác thực đã bày tỏ nguyện vọng mãnh liệt, thậm chí là quyết tâm quy y Phật môn: “Nguyện được cam lộ thấm nhuần, vui mừng đón nhận gió lành ban. Nương tựa nơi sơn môn này, còn ai có ý noi theo Khổng Khâu được nữa?”; “Nguyện gửi thân nơi núi này, bỏ lại cả thân mình lẫn cuộc đời”; “Đời sau được gặp Đức Di Lặc, một lòng hồi hướng quy y… Nguyện nhờ nước công đức, từ đây gột sạch bụi trần trong tâm”. [22]

Điều quan trọng hơn cả là, tu luyện là tu sửa tâm của con người, hoàn toàn không liên quan đến những nghi thức như quy y. Bất kỳ ai, chỉ cần có thể không ngừng đề cao tâm tính của mình, sửa đổi lời nói và hành vi theo chính tín, chính niệm và chính Pháp lý, thì người ấy đã ở trên con đường tu luyện. Đương nhiên, nhiều người tu luyện chân chính sẽ cùng với sự thăng hoa của tâm tính và sự không ngừng nâng cao nhận thức đối với Pháp lý mà xuất hiện một số công năng và thể nghiệm siêu thường (các nhà nghiên cứu hiện đại gọi đó là “trải nghiệm tôn giáo”). Qua thơ của Mạnh Hạo Nhiên, chúng ta cũng có thể nhận thấy sự biến đổi về tâm tính, cũng như những công năng và thể nghiệm siêu thường của ông, đều thay đổi một cách rõ rệt theo thời gian tu luyện. Ban đầu, chỉ là sự lĩnh hội đối với Pháp lý ngày càng sâu sắc hơn, nhận ra rằng cần buông bỏ “trần niệm”, hòa hợp với “Chân Như”, và hiểu rằng mọi sự nơi thế gian đều là hư ảo. Theo thời gian dài tĩnh tọa, đặc biệt là sau thời gian “bế quan” tĩnh tu, thiên mục của ông dần khai mở, trước mắt xuất hiện một số dị tượng, lần đầu tiên thể nghiệm được sự huyền diệu của trạng thái tĩnh định, nhưng vẫn chưa thể nhìn thấy đầy đủ những tín tức ở không gian khác [23]. Khi thiên mục hoàn toàn khai mở, vô số tín tức trọn vẹn từ nhiều đời nhiều kiếp đồng loạt hiện ra, khiến người ta không sao tiếp nhận xuể. Ông cảm nhận được rằng từ khi sinh mệnh của mình xuất hiện đã trải qua vô số kiếp; có lúc nhìn thấy những việc của tiền kiếp, tựa như đang nhớ lại những ngày thơ ấu chơi cát bên bãi biển. Nhìn thấy những việc thiện mình từng làm đã tích lũy công đức, ông càng thêm kiên định đạo tâm tu luyện. Trong lúc tĩnh tọa, ông cảm thấy mình tiến gần đến các tầng trời, giữa không trung tràn ngập hương thơm kỳ diệu của thiên hoa rơi xuống [24]. Khi định lực tiếp tục tăng lên, toàn bộ thân tâm của ông dung hợp làm một với cảnh tượng nhìn thấy trong trạng thái tĩnh định, nhờ đó có thể lĩnh ngộ những Pháp lý huyền diệu, nhưng lại rất khó dùng ngôn ngữ để diễn tả, từ đó bước vào cảnh giới “quên lời”. Lúc ấy, ngoại cảnh hầu như không còn khả năng quấy nhiễu; ngay cả khi đang tĩnh tọa nghe tiếng “vượn hú” cũng không còn phân tâm, trái lại càng khiến “tâm ngoài cõi trần” trở nên thanh tịnh hơn. Khi gặp những vị cao tăng có tu vi thâm hậu, ông có thể nhìn thấy nội tâm “thanh tịnh” của họ tựa như “hoa sen”, biết rằng “tâm bất nhiễm” của họ không hề vướng bận dù chỉ một hạt bụi trần [25]. Sau khi thiên mục được sử dụng trong thời gian dài, ông cũng không còn cảm thấy mới lạ nữa, dần dần buông bỏ cả sự chấp trước vào việc “nhìn thấy”. Thêm vào đó, cùng với sự lĩnh hội ngày càng sâu sắc đối với tư tưởng “vô vi”, ông mong muốn “quán Không”, dần sinh tâm chán ngán đối với những cảnh tượng “hữu hình”. Đến lúc này, điều ông mong mỏi chỉ là đặt cả thân lẫn tâm vào trong trạng thái hư tịch tuyệt đối, giữ cho tâm cảnh mãi mãi ở trong một cảnh giới “nhàn hòa” cao độ [26].

Trong bài thơ “Tặng Mạnh Hạo Nhiên”, Lý Bạch kính cẩn tôn xưng Mạnh Hạo Nhiên là “Mạnh phu tử”, đồng thời bày tỏ một cách cụ thể lòng khâm phục, yêu mến, thậm chí là ngưỡng mộ sâu sắc của mình đối với ông: “Mạnh phu tử phong lưu, tiêu sái, danh tiếng vang khắp thiên hạ, khiến ta vô cùng ngưỡng mộ. Từ thuở thanh xuân cho đến khi tóc mai đã điểm sương, trước xe ngựa lộng lẫy và mũ áo vinh hiển của hàng quyền quý, ông vẫn có thể từ bỏ con đường công danh để chọn cuộc sống ẩn dật, lấy gió thông mây trắng làm bạn, sống cuộc đời của bậc cao nhân ẩn sĩ, biểu hiện khí tiết thanh cao đáng kính. Trong những đêm trăng sáng, ông thường nâng chén trước gió, say sưa đến quên mình; có khi lưu luyến giữa muôn hoa mà quên cả đường về, đến chuyện của hoàng đế cũng chẳng buồn bận tâm. Phẩm chất không màng danh lợi, tự nguyện sống đạm bạc của ông cao vời như núi lớn, cao đến mức chỉ biết cúi đầu vái lạy trước nhân cách thuần khiết, thơm ngát ấy để bày tỏ lòng kính phục và ngưỡng mộ của mình”. [27]

Bản thân Lý Bạch cũng rất yêu thích cầu Tiên, học Đạo và sống ẩn cư. Ông là một “Trích Tiên nhân” phóng khoáng, không chịu gò bó, từng tự miêu tả mình rằng: “Nằm ngủ trong quán rượu giữa Trường An, vua gọi cũng chẳng lên thuyền, tự xưng mình là Tiên trong chén rượu”. [28] Chính vì vậy, sự tôn kính mà Lý Bạch dành cho Mạnh Hạo Nhiên cũng phản ánh sự đồng điệu sâu sắc về tư tưởng và tình cảm giữa hai người bạn lớn này.

Chú thích:

[1] “Lời tựa tập thơ Mạnh Hạo Nhiên”, quyển đầu.

[2] Hồ Ứng Lân: “Thi Tẩu”.

[3] Bì Nhật Hưu: “Dĩnh Châu Mạnh Đình ký”.

[4] Thẩm Đức Tiềm: “Đường thi biệt tài”.

[5] Nghiêm Vũ: “Thương Lãng thi thoại”.

[6] Văn Nhất Đa: “Đường Thi tạp luận”.

[7] “Cổ kim thi thoại” hoặc “Tống thi thoại tập dật”.

[8] Văn Nhất Đa: “Mạnh Hạo Nhiên”.

[9] Bài “Thư hoài di kinh ấp cố nhân”: “Tổ tiên vốn từ đất Trâu Lỗ, Gia thế bao đời trọng nếp Nho. Noi theo Thi Lễ, truyền gia huấn, Kế nghiệp cha ông chẳng dám lơ. Ngày đêm luôn tự mình gắng sức, Thơ phú văn chương cũng khá thông”. (quyển một).

[10] Bài “Thính trịnh ngũ âm đàn cầm”: “Lòng ta vốn hướng về non nước, nghe tiếng đàn này càng hợp với chí nguyện từ lâu”. Bài “Nhân việc ở vườn Giản Nam tặng Thượng nhân họ Giảo”: “Bốn bề rừng nội mênh mang, Chẳng nghe thành thị rộn vang tiếng người. Khe Bắc buông một cần câu, Hiên Nam vọng tiếng tiều phu hát rừng. Ghi chuyện ẩn cư nơi thanh vắng, Tìm người tĩnh lặng cùng hàn huyên”. Bài “Thu đăng Vạn Sơn gửi Trương Ngũ”: “Giữa mây trắng núi Bắc, Ẩn sĩ tự mình vui. Ngắm núi rồi leo lên, Tâm theo cánh nhạn khuất” (quyển một). Bài “Nằm bệnh ở vườn họ Lý”: “Ta yêu thú vui của Đào Uyên Minh, Vườn rừng chẳng vướng chút tình tục lụy”. Bài “Đề am vườn của người ẩn sĩ họ Trương”: “Cày ruộng câu cá tự thỏa lòng, Chén rượu vui thú chẳng hề vơi. Cửa không khách tục tới lai vãng, Người giữ phong thái thuở Thượng Hoàng” (quyển bốn). Bài “Dự tiệc tại nhà Trương Ký Thất”: “Nào ai biết kẻ mang sách và kiếm, năm tháng chỉ lặng lẽ trôi qua” (quyển hai). Bài “Từ Lạc Dương đến đất Việt”: “Ba mươi năm tất bật ngược xuôi, sách và kiếm đều chưa thành tựu” (quyển ba). “Lời tựa tập thơ Mạnh Hạo Nhiên” viết: “Tưới rau, trồng tre để giữ gìn khí tiết thanh cao” (quyển đầu).

[11] Mưa dầm ở đất Tần, nhớ quê, tặng Viên Tả Thừa và Hạ Thị Lang (quyển 2)

[12] Đường Trích Ngôn (quyển 11)

[13] “Lưu biệt Vương Duy”: “Lặng lẽ còn chờ đợi chi, Sớm sớm lại trở về không. Muốn tìm cỏ thơm lên đường, Tiếc thay cách biệt cố nhân. Giữa đường ai kẻ giúp ta? Tri âm thế gian vốn hiếm. Chỉ đành ôm giữ tịch liêu, Khép cánh cửa nơi quê nhà”.

[14] “Trên thuyền trở về phương Nam gửi Viên Thái Chúc”: “Đào Nguyên ở nơi đâu? Kẻ lữ khách đang lạc mất bến đường” (quyển 3); “Cảm hoài trên sông lúc tiết trời sớm lạnh”: “Muốn hỏi đường ra khỏi bến mê, Mặt nước mênh mang dưới chiều tà vô tận” (quyển 4); “Từ hồ Bành Lễ nhìn núi Lư Sơn”: “Từ lâu đã muốn noi theo Thượng Tử, Huống chi nay lại tưởng nhớ Viễn Công… Xin nhắn với người ở ẩn nơi núi đá rằng, Đến cuối cùng chí hướng của ta cũng sẽ cùng một đường với họ. “Chiều neo thuyền ở Tầm Dương ngắm Lư Sơn”: “Từng đọc truyện về Viễn Công, Mãi ngưỡng mộ dấu chân ngoài cõi bụi trần. Tinh xá Đông Lâm ngay gần đó, Chiều xuống chỉ nghe vang tiếng chuông không”. “Lên núi Lộc Môn hoài cổ”: “Xưa nghe Bàng Đức Công, Lên núi hái thuốc rồi không trở lại… Dấu tích ẩn cư nay vẫn còn đó, Nhưng phong thái cao khiết đã xa vời vợi”. “Qua bãi Thất Lý”: “Vẫy tay vui cùng dòng nước róc rách, Từ đây gột sạch mọi lo nghĩ bụi trần”.

[15] “Gặp mưa ở Đông Bi, ngẫu hứng gửi tặng Tạ Nam Trì”: “Tâm ý của ta vốn đặt nơi việc cày cấy”; “Từ Lạc Dương đến đất Việt”: “Cứ vui với chén rượu trong tay, nào ai luận bàn danh tiếng ở cõi đời” (quyển 3); “Mưa dầm khổ sở ở đất Tần, nhớ quê gửi tặng Viên Tả Thừa và Hạ Thị Lang”: “Cưỡi ngựa tung vó chẳng phải việc ta, Vui đùa cùng chim âu mới thực là lòng ta”; “Họa thơ Tống Thái Sử về đình mới ở lầu Bắc”: “Nguyện theo chim én trên sông mà đến chúc mừng, Thẹn chẳng muốn theo các quan trong phủ mà chạy chầu. Muốn biết người cuồng ca là ai, Ấy chính là một kẻ Nho sinh quê mùa nơi gò vườn” (quyển 2).

[16] “Đình nước của đạo sĩ họ Mai”: “Vị quan ngạo nghễ chẳng phải quan tầm thường, Bậc danh lưu chính là người thuộc dòng tu Đạo”; “Tiễn Trương Tham dự khoa Minh Kinh, kiêm về Kính Châu thăm người thân”: “Có ai mà chẳng ngưỡng vọng bậc Thần Tiên” (quyển 3); “Vương Quýnh đến thăm”: “Nhà ta ở núi Lộc Môn, thường dạo chơi nơi khe suối đầm nước. Tay cầm quạt lông trắng, chân đi giày cỏ xanh” (quyển 1); “Cùng Lý Thị Ngự đến yết kiến thiền sư Thông”: “Thạch thất không người lui tới, chỉ thấy hổ nằm ngủ trên giường dây” (quyển 3); “Tìm đến núi Thiên Thai làm thơ”: “Người bạn của ta là Thái Nhất Tử, ăn mây ráng mà nằm nơi Xích Thành” (quyển 3); “Gặp Thái Nhất Tử ở Thiên Thai tại đất Việt”: “Trong động tiên gặp người cõi tiên, dừng thuyền mà hướng về phía trước bái lạy. … Núi này vốn là nơi ta hằng ngưỡng mộ, biết bao giờ mới được nghe những chuyện linh dị. … Gà gáy thấy mặt trời mọc, mỗi khi đều được gặp tiên nhân. Qua lại nơi Xích Thành, tiêu dao ngoài tầng mây trắng. Rong rêu nơi đây khác hẳn cõi nhân gian, thác nước tạo thành một cõi trời riêng. … Mãi mãi từ đây dạo chơi, biết đến bao giờ mới có thể đạt tới nơi mình mong muốn” (quyển 1).

[17] “Khỏi bệnh ghé qua tinh xá chùa Long Tuyền trình bày với hai vị thượng nhân Dịch Nghiệp”, “Cuối xuân nằm bệnh gửi Trương Bát Tử Dung”, “Nằm bệnh ở vườn nhà, Thái Chúc họ Tất đến thăm” (quyển 1); “Đầu năm nằm bệnh trong quán ở Lạc Thành, ôm lòng nhớ về quê”, “Tiễn Vương Xương Linh về Lĩnh Nam”: “Đã mang trong mình chứng bệnh trầm kha” (quyển 2); “Hồi mộ quy Nam Sơn”: “Nhiều bệnh nên bạn cũ ngày càng xa cách”; “Một lần nữa cảm tạ bài thơ Lý Thiếu Phủ gửi tặng”: “Dưỡng bệnh dưới mái tranh nơi Hoành Sơn” (quyển 3); “Tiệc ở trai mới của Trương Biệt Giá”: “Thân suy bệnh yếu, chỉ hận mình bất tài”; “Nằm bệnh trong vườn họ Lý” (quyển 4).

[18] “Khỏi bệnh ghé qua tinh xá chùa Long Tuyền trình bày với hai vị thượng nhân Dịch Nghiệp”: “Vào rừng tìm hái nấm linh chi, men theo khe núi, dây tùng la càng thêm um tùm. … Vào động dò xem thạch tủy, men bên vách núi hái mật ong”; “Nghỉ đêm tại quán Đồng Bách trên núi Thiên Thai”: “Tạm nghỉ dưới bóng cây Đồng Bách, hái những thứ tinh túy, tìm cỏ linh chi”; “Gặp đạo sĩ Vân Công trong núi”: “Bao giờ ta lại trở về suối Thanh Khê, theo người luyện đan dịch” (quyển 1).

[19] “Nghỉ đêm tại quán Đồng Bách trên núi Thiên Thai”: “Nguyện cởi bỏ mũ áo quan trường, từ đây lìa xa phiền não. Bước cao vượt qua bốn vách núi, theo dấu huyền diệu mà gặp Tam Lão. Nỗi lòng du ngoạn xa xôi của ta, cũng muốn học theo đạo trường sinh này” (quyển 1); “Một lần nữa cảm tạ bài thơ Lý Thiếu Phủ gửi tặng”: “Dưỡng bệnh dưới mái tranh nơi Hoành Sơn, vốn bởi trong lòng vẫn giữ khí hạo nhiên chân chính. Ngũ hành sắp đến lúc cấm lửa, mới cách mười bước đã mong tìm đến mùa xuân” (quyển 3); “Làm thơ ở nhà người nông dân”: “Nhà tranh tồi tàn cách xa chốn huyên náo bụi trần, chỉ mong trước hết giữ gìn sự đạm bạc thanh nhàn. … Ban ngày ngồi mãi mà chẳng mấy khi ngộ được điều gì, chỉ ngưỡng mộ chim hồng bay vút tận trời xanh” (quyển 1); “Du ngoạn Quán Tinh Tư, đề thơ tại phòng của quán chủ”: “Dần dần thấu hiểu đạo lý huyền diệu, càng hiểu sâu được cái tâm của cảnh giới tọa vong” (quyển 3); “Sắp đến Thiên Thai, ở lại từ biệt Lý Chủ bạ ở Lâm An”: “Người cõi tiên ở Đan Khâu, ta cũng từ đây mà ra đi”; “Cùng Vương Xương Linh dự tiệc với Hoàng Thập Nhất”: “Rèm sách ghi chép phù lục của Thần Tiên, bình phong vẽ bản đồ núi biển” (quyển 1).

[20] “Trở về núi tặng thiền sư Trạm”: “Thuở nhỏ đã nghe về đạo lý vô sinh, thường muốn quán xét thân này. Tâm niệm và dấu tích hiếm khi cùng được như ý, đường đời gập ghềnh phần nhiều chìm trong cõi bụi trần. Cuối chặng đường đời trở về khe núi xưa, tình cờ được làm hàng xóm với Chi Công. Mừng được kết giao cùng người nơi chốn lâm hạ, cùng tôn quý bậc hiền tài nơi chiếu tiệc. Nghĩ đến chúng sinh đang lênh đênh trong biển khổ, bèn dùng phương tiện chỉ bến mê. Dẫn dắt bằng pháp nhiệm màu, kết thành nhân thanh tịnh. Phiền não nghiệp chướng chợt buông bỏ, tình với núi rừng càng thêm sâu đậm. Sớm đến hỏi nghĩa còn nghi hoặc, chiều lại đàm đạo mà lĩnh hội lẽ chân thanh tịnh. Mực bút tinh diệu, được xưng là tuyệt tác từ xưa, văn từ hoa mỹ khiến người đời kinh ngạc. Thiền phòng khép kín, vắng lặng hư không, hoa cỏ thuốc quý nối tiếp suốt đông xuân. Đá phẳng làm chiếu đặt đàn và nghiên, dòng suối đổ xuống tung nước ướt áo khăn. Muốn biết ý nghĩa của sinh diệt, sớm tối chỉ thấy hải âu đã thuần quen”; “Tìm thiền sư Trạm ở Hương Sơn”: “Bạn đồng đạo vui mừng gặp gỡ, đàm luận thanh tao đến sáng chẳng ngủ. Bình sinh ngưỡng mộ người chân tu ẩn dật, nhiều ngày tìm hiểu những điều linh dị” (quyển 1).

[21] “Du ngoạn chùa Lan Nhã ở Tây Sơn của thiền sư Minh”: “Thầy ta ở dưới núi ấy, ngồi thiền giảng nói về đạo lý vô sinh. … Đàm luận lẽ Không với người tiều phu, truyền pháp cho sơn tinh” (quyển 1); “Cảm thu ở đất Tần, gửi thiền sư”: “Đất Bắc chẳng phải nơi ta nguyện đến, Đông Lâm khiến ta nhớ đến thầy ta” (quyển 3); “Tìm thiền sư Trạm ở Hương Sơn”: “Bạn đồng đạo vui mừng gặp gỡ, đàm luận thanh tao đến sáng chẳng ngủ” (quyển 1); “Cùng Lý Thị Ngự đến yết kiến thiền sư Thông”: “Dẫu nơi xuất thế hay nhập thế có khác nhau, cùng vui vẫn ở nơi pháp hội” (quyển 3).

[22] “Nghe nói Lan Nhã của Phù Công cách phía Tây chùa Vân Môn sáu bảy dặm là nơi u tịch nhất, cùng Tiết Bát tìm đến”, “Tìm thiền sư Trạm ở Hương Sơn” (quyển 1); “Ngày mồng tám tháng Chạp lễ bái tại chùa Thạch Thành, huyện Thiện” (quyển 2);

[23] “Nghe nói Lan Nhã của Phù Công cách phía Tây chùa Vân Môn sáu bảy dặm là nơi u tịch nhất, cùng Tiết Bát tìm đến”: “Bậc thượng nhân sao còn vướng bận? Mọi niệm bụi trần đều đã buông bỏ. Bốn tầng thiền hợp với chân như, hết thảy đều là hư giả”; “Nghỉ đêm tại chùa Thúy Vi ở núi Chung Nam”: “Đóng cửa ẩn tu đã lâu chìm trong tĩnh lặng, nay chống gậy lên cao ngắm cảnh. Bèn tìm đến phòng người ẩn sĩ, mới biết được cái diệu của người thanh tĩnh” (quyển 1);

[24] “Lên tháp Phù Đồ chùa Tổng Trì”: “Trải qua bao kiếp từ địa vị sơ địa, thuở nhỏ từng nhớ chuyện vun cát làm tháp. Một phen thấy được công đức, lòng hướng đạo càng thêm sâu. Ngồi mà cảm thấy chư thiên đều tận cùng, hương Không đưa những cánh hoa rơi” (quyển 2).

[25] “Đề thơ tại tân đình của Lai Xà Lê”: “Bỏ chấp vào hình tướng thì tự nhiên ngộ được huyền lý, quên lời mà đạo lý ắt tự đầy đủ. Trong tĩnh lặng thì có được gì? Ngâm vịnh cũng chỉ là việc luống công” (quyển 2); “Chèo thuyền trên sông Vũ Lăng”: “Ngồi nghe tiếng vượn nhàn kêu, lòng ngoài cõi bụi trần càng thêm thanh tịnh”; “Thiền sư Nghĩa Công ở chùa Đại Vũ”: “Hãy ngắm lấy hoa sen thanh khiết, rồi mới biết được tấm lòng chẳng nhiễm bụi trần” (quyển 3);

[26] “Cùng Diêu Sứ quân đề thơ tại phòng của thượng nhân Huệ”: “Đến xem bài kệ của đồng tử, được nghe kinh của Pháp Vương. Hiểu được đạo lý thì biết thế nào là vô vi, quán xét lẽ Không mà chán ghét những hình tướng hữu hình”; “Đình Nam của Viễn thượng nhân vào cuối xuân”: “Lấy hư tịch mà nuôi dưỡng sự nhàn hòa” (quyển 3);

[27] Lý Bạch: “Tặng Mạnh Hạo Nhiên”: “Ta yêu Mạnh phu tử, phong thái thanh cao vang danh thiên hạ. Tuổi trẻ bỏ mũ áo công danh, đến khi đầu bạc vẫn nằm giữa mây thông. Say dưới ánh trăng, nhiều lần say rượu đến mức nhập Thánh; mê cảnh hoa cỏ, chẳng màng phụng sự quân vương. Núi cao biết lấy gì mà ngưỡng vọng? Chỉ đành cúi mình kính chào hương thơm thanh khiết ấy”;

[28] Đỗ Phủ: “Ẩm trung Bát Tiên”.

Những bài thơ, văn được trích dẫn trong bài này, ngoài các nguồn đã ghi rõ, đều có thể tham khảo trong Mạnh Hạo Nhiên tập, do Vương Vân Ngũ chủ biên, thuộc bộ “Tủ sách Căn bản Quốc học (400 loại)”, Nhà xuất bản Thương Vụ, Đài Loan, bản in lần thứ nhất, tháng 9 năm Dân Quốc 57 (1968).

Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/20630