Tác giả: Mai Tùng Hạc

[ChanhKien.org]

Vi Ứng Vật (737 – 792) là một nhà thơ nổi tiếng vào niên hiệu Đại Lịch dưới triều Đường Đại Tông (766 – 779). Thơ của ông nổi tiếng với đề tài điền viên, phong cảnh thôn dã. Ông được xem là một trong những bậc danh gia của dòng thơ điền viên nối tiếp các nhà thơ Đào Uyên Minh, Nhị Tạ (Tạ Linh Vận, Tạ Diễu), Vương Duy và Mạnh Hạo Nhiên. Thơ của ông mộc mạc, giản dị, cổ xưa, thanh đạm và biến ảo, tự hình thành một phong cách riêng. Trong số các thi nhân đời Đường, ông là người có phong cách gần giống với Đào Uyên Minh nhất.

Bài “Gửi đạo sĩ trong núi Toàn Tiêu” là một kiệt tác thơ Đường mang đậm phong cách của Đào Uyên Minh, được người đời sau ca ngợi là “nhất phiến thần hành”, “nét bút của tạo hóa” [1]. Tô Đông Pha đặc biệt yêu thích bài thơ này, từng cố ý mô phỏng nhưng cuối cùng vẫn không thành công [2]. Xét riêng về thể ngũ ngôn tuyệt cú, ông cùng Lý Bạch và Vương Duy được xem là đạt đến cảnh giới nghệ thuật “nhập vào hóa cảnh” tối cao [3]. Bài “Đêm thu gửi viên ngoại Khâu hăm hai” là tác phẩm tiêu biểu của ông. Bạch Cư Dị từng nhận xét rằng thơ ngũ ngôn của Vi Ứng Vật “cao nhã, nhàn đạm, tự tạo thành một phong cách riêng” [4], trong đó “U cư” là một tác phẩm khá nổi tiếng. Còn “Trừ Châu tây giản” lại là một trong những tuyệt phẩm nổi tiếng nhất của thơ Đường. Cũng giống như “Tĩnh dạ tứ” của Lý Bạch, đây là bài thơ mà trẻ em khi mới bước vào con đường học thơ đều phải học thuộc lòng.

Vi Ứng Vật sinh ra trong một gia đình nhiều đời làm quan. Từ thuở thiếu niên, ông đã hầu cận bên cạnh Đường Huyền Tông dưới thân phận Tam Vệ Lang. Khi ấy ông mới chỉ là một cậu bé mười mấy tuổi, còn chưa hiểu chuyện, lại còn chưa được học hành bao nhiêu, nhưng vì trở thành cận thần của hoàng thượng, được vua sủng ái nên ỷ thế hiếp người, ngang ngược bá đạo. Ngay cả những kẻ phạm pháp đang bị truy nã ông cũng dám đưa về nhà che giấu; thấy cô gái nào xinh đẹp ở vùng lân cận liền bắt về nhà; khi bị người ta tố giác, quan phủ sai người đến bắt, nhưng những người được phái đến thậm chí không dám bước qua cổng nhà ông, chỉ biết đứng ngẩn ngơ dưới bậc thềm bạch ngọc trước cửa nhà. Ông thường xuyên theo hầu Đường Huyền Tông, ung dung hưởng thụ cuộc sống đế vương: có lúc hoàng thượng đưa Dương Quý Phi đến suối nước nóng tắm, ông cũng được đặc cách xuống ngâm mình trong hồ nước ấm; có lúc oai phong lẫm liệt dẫn theo một đoàn tùy tùng đông đảo hộ giá hoàng đế ra ngoài săn bắn; có khi hoàng thượng mở đại yến trong cung, tiếng đàn sáo réo rắt, ca múa tưng bừng, từng đoàn cung nga xinh đẹp như tiên nữ. Mỗi lần uống rượu, ông thường say đến mức ngất ngây như mất cả thần trí. Làm một chức quan như thế thì ngoài hưởng phúc ra hầu như chẳng có việc gì đáng kể phải làm. [5][6]

Thế nhưng cảnh đẹp chẳng kéo dài được bao lâu. Khi Vi Ứng Vật mới mười chín tuổi thì phát sinh loạn An Sử. Đường Huyền Tông chạy vào đất Tứ Xuyên, Dương Quốc Trung bị giết, Dương Quý Phi bị ép phải chết ở gò Mã Ngôi. Biến cố long trời lở đất ấy đối với tư tưởng của ông hẳn đã tạo nên một sự chấn động vô cùng to lớn. Ba năm sau, ông vào trường Thái học đọc sách học tập. Nhưng vì trước kia không chịu đọc sách, đã hai mươi hai tuổi rồi, nên tự cảm thấy: “Việc đọc sách đã muộn”. Ba năm sau, Đường Huyền Tông qua đời, ông mất đi chỗ dựa, dần dần bị người khác bài xích, thậm chí còn bị ức hiếp, từ đó bắt đầu nếm trải cuộc sống gian nan. [6] Tuy khoảng 28, 29 tuổi ông đã giữ chức quan thừa huyện Lạc Dương, nhưng đến năm 42 tuổi vẫn chỉ là một viên Huyện lệnh Lịch Dương nhỏ bé. Lúc ấy đang độ tráng niên nhưng sức khỏe đã suy yếu, đến mức lâm bệnh phải từ quan, lui về ở tại “Thiện Phúc Tinh Xá”. Bốn năm sau, ông được bổ nhiệm làm Thứ sử Trừ Châu; sáu năm sau lại chuyển sang làm Thứ sử Tô Châu; khoảng hai năm sau thì từ nhiệm, định cư tại “Vĩnh Định Tinh Xá” thuộc chùa Vĩnh Định ở Tô Châu và khoảng một năm sau thì qua đời. [5]

Cuộc đời nhiều phen thăng trầm, cùng với việc thân thể đang độ tráng niên mà đã sớm suy yếu, đã đẩy ông vào vòng xoáy của sự suy ngẫm và chuyển biến. Từ những trải nghiệm và chiêm nghiệm trong cuộc sống của mình, cuối cùng ông nhận ra rằng danh lợi, tiếng tăm và vinh hoa ở thế gian đều chỉ như “đất phân”, chẳng những không đáng để theo đuổi mà còn làm ô uế, vấy bẩn con người. Quay đầu nhìn lại người đời, ông thấy họ cũng giống như mình trước kia, không biết “tự xét mình”, “tự ngộ”, suốt một đời tất bật mưu cầu, chìm sâu trong vòng xoáy truy cầu dục vọng không bao giờ dứt, ngày ngày hối hả ngược xuôi như những cơn cuồng phong chợt nổi chợt tan, hành tung bất định. Con người cứ loanh quanh mãi giữa mê và ngộ, cũng giống như trạng thái của ông khi say rượu: rượu ngon một khi đã uống đến say thì chẳng còn bận tâm điều gì nữa, “trăm việc có gì đáng để bàn”. Đôi khi, một tia giác ngộ bất chợt trong cuộc sống giống như “thoáng nhìn thấy ngọn núi xanh từ phương xa”, khiến con người tạm thời tỉnh thức; nhưng thường chưa kịp nắm lấy cơ hội, chưa kịp ngộ thoát khỏi mê cục thì lại rơi trở về trạng thái mê muội mơ hồ trước đây. Cũng như những người vừa mới phát tâm bước vào con đường tu Đạo, ông cảm nhận được sự “ô uế” không sạch của thế gian này: những bậc Tiên nhân thuần khiết, mỹ lệ đã tu luyện đắc Đạo tuyệt đối sẽ không để “xe rồng” của mình hạ xuống chốn ô uế này. [7] Nơi đây đã nhơ bẩn đến vậy thì phải rời đi. Từ việc nhảy ra khỏi vòng thế tục để nhìn rõ sự nhơ bẩn của thế tục, từ đó trong lòng sinh khởi tâm chán ngán, muốn rời đi, đó cũng là điểm khởi đầu chung của rất nhiều người khi bước vào con đường tu Đạo từ xưa đến nay.

Nhưng có tâm chán ngán muốn rời đi thì cũng phải có một con đường tương ứng. Một mặt, Vi Ứng Vật kết giao với nhiều bằng hữu đang tu luyện Phật gia và Đạo gia, cùng họ bàn luận về những vấn đề trong tu luyện; mặt khác, ông tự mình đọc các câu chuyện kinh điển trong tu luyện để trực tiếp lĩnh ngộ ý nghĩa chân chính của việc tu hành. Ông không chỉ thường xuyên thư từ, xướng họa thơ ca và thăm hỏi qua lại với những người bạn ấy, mà còn thường đến ở trong chùa chiền và đạo quán của họ, đàm đạo thâu đêm hoặc lặng lẽ đọc các kinh điển tu luyện. [8] Những sách ông đọc phần lớn là kinh sách của Đạo gia: có lúc bên tai văng vẳng tiếng gió lùa qua rừng thông, dùng lòng thảnh thơi đọc “sách Đạo”; có lúc một mình thưởng thức dòng nước mát trong nơi khe núi, cất cao giọng ngâm “Đạo Đức Kinh” của Lão Tử như ngâm một bài thơ; có lúc sau khi một mình nghiên cứu “Kinh Dịch” trong rừng cây, ông bước ra nhìn đàn hải âu đang nghỉ bên bờ suối, cảm thấy tâm thần an định, thư thái; hoặc vào lúc đêm khuya thanh vắng, trong gian phòng được rừng trúc bao bọc, dưới ngọn đèn đơn độc soi trên án sách, ông chuyên tâm nghiền ngẫm, để cả thân lẫn tâm hòa vào bầu không khí “vô vi”, tận hưởng niềm vui vô hạn của cuộc sống “nhàn cư”; hoặc khi cảm hứng dâng lên vì một sự việc nào đó, ông cầm bút làm thơ, đem cảm ngộ có được từ việc đọc “Đạo Kinh” với tâm thái bình hòa, tĩnh lặng gửi gắm vào những vần thơ. Những kinh điển Đạo gia ấy đều coi trọng việc “dưỡng chân khí”. [9] Coi trọng thanh tĩnh, vô vi và tu một chữ “chân”, đó chính là phương pháp tu luyện điển hình của Đạo gia.

Đọc kinh ngàn lần, nghĩa lý trong đó tự nhiên sẽ hiển lộ. Trong một thời gian dài chuyên tâm đọc những kinh điển Đạo gia ấy, hơn nữa lại là tĩnh tâm xuống mà đọc, con người tự nhiên sẽ dần dần được Pháp lý trong đó biến hóa một cách âm thầm, cuối cùng được dẫn nhập vào hàng ngũ những người tu luyện chân chính. Căn cứ vào những bài thơ Vi Ứng Vật để lại, có thể nhận định rằng chậm nhất là khi 42 tuổi, vì mắc bệnh phải từ quan rồi đến ở tại “Thiện Phúc Tinh Xá”, ông đã hạ quyết tâm muốn trở thành một người tu luyện chân chính: “Ta đang lấy phương pháp ‘huyền mặc’ của Đạo gia, thanh tĩnh vô vi, lánh xa danh lợi làm chuẩn tắc cho hành vi của mình, gạt bỏ sự can nhiễu của ‘danh’ và ‘tích’. Đạo Pháp huyền diệu cao siêu, khiến con người hòa mình vào đó mà vui đến quên cả trở về; Đạo khí xung hòa khiến lòng người trống không thung lũng”; “Rất nhiều vướng mắc và ràng buộc của con người nơi thế gian đều là bởi chấp trước vào tình mà sinh ra. Tuy đến nay ta vừa mới ngộ ra điểm này, quả thực có phần quá muộn, nhưng ta vẫn nguyện thuận theo pháp lý của “Đạo”, làm hết thảy mọi việc chiểu theo yêu cầu của nó. Có như vậy mới có thể giữ tâm tĩnh lặng trong mọi hoàn cảnh, trong sự tĩnh tu mà kết thúc cuộc đời ngắn ngủi và hư ảo này”; “Ta vốn là người không có chí lớn, chẳng thích những nơi náo nhiệt ồn ào, thà ôm giữ sự mộc mạc, chất phác mà nương náu trong tăng xá của ngôi chùa này. Ta cũng kính ngưỡng những bậc phẩm hạnh cao khiết, tài đức hơn người của thời nay, nhưng bản thân lại chỉ nguyện làm một ‘kẻ hồ đồ’ lặng lẽ vô danh… Có thể làm được vô vi thì mới có thể tự do tung hoành như trời biển bao la, nhưng đó vẫn là một mục tiêu xa xôi, cũng không thể câu nệ chấp trước vào kết quả cuối cùng của nó”. [10]

Tuy thời thanh thiếu niên của Vi Ứng Vật trôi qua trong cuộc sống cung đình xa hoa, ngày ngày yến tiệc, nhưng sau khi hạ quyết tâm ôm giữ sự mộc mạc, chất phác để tu luyện, ông thật sự có thể an nhiên sống cuộc đời thanh đạm, tiết kiệm và mong được hưởng niềm vui của cuộc sống ẩn cư, canh điền. Khi sống tại Thiện Phúc Tinh Xá, ngoài vài món đồ gốm cần dùng trong sinh hoạt hằng ngày và một chiếc chăn đơn, ông hầu như không còn gì khác. Một mình sống cô tịch mà vẫn có thể vui vẻ, thậm chí vui đến quên cả đường về, nếu không có việc thật cần thiết thì chẳng muốn trở lại chốn đô thành. Là người làm quan, trong lời nói, cử chỉ và hành vi bên ngoài cần phải giữ gìn, dè dặt hơn một chút, nhưng đối với những chuyện thế tục thì lòng lại thản nhiên, không hề vướng bận. Ông đặc biệt yêu thích núi non sông nước, hễ vào rừng núi là muốn ở lại đó một thời gian. Thấy Đào Uyên Minh thật sự có thể buông bỏ quan trường để trở về làm một người dân bình thường, khiến ông vô cùng ngưỡng mộ và cũng hy vọng một ngày nào đó mình có thể từ quan, lên núi dựng một căn nhà tranh để tu hành. Khi đi ngắm đồng ruộng ngoài đồng quê, băng qua một thôn xóm hoang phế để hái cúc, ông thật lòng mong được như Trường Thư và Kiệt Nịch, hai người cùng cày cấy, sống cuộc đời điềm đạm với một mảnh ruộng, một túp lều tranh của người nông dân. Cuộc sống điền viên mà ông hằng hướng tới chỉ cần có chút rượu để uống, ngoài ra chẳng phải bận tâm điều gì khác; mùa màng đều được bội thu, mọi người có thể vui vẻ mà sống qua ngày. [11]

Vì thường xuyên lui tới núi rừng, chùa chiền hoặc đến thăm các đạo hữu để trải nghiệm cuộc sống ẩn cư trong một khoảng thời gian, lâu dần ông chỉ muốn đi mà không muốn trở về, ý nghĩ dứt hẳn khỏi chốn hồng trần ngày càng trở nên mãnh liệt. Có lúc ông gần như suốt ngày chỉ nghĩ đến việc từ quan về ở ẩn. Tuy một mình đến nơi núi non khe suối có thể tạm thời cảm thấy thư thái, nhưng ở lâu rồi thì đủ mọi vướng bận và ràng buộc của cõi tục lại lần lượt hiện ra, vì thế ông bắt đầu tính đến chuyện sẽ dựng một căn nhà tranh ở nơi nào đó để ít nhất lúc tuổi già có thể ẩn cư lâu dài. Có khi nhìn thấy ông lão lên núi Nam hái thuốc, tự do tự tại, còn mình lại chưa thể lập tức từ quan mà đi, trong lòng ông thật lấy làm hổ thẹn. Có lúc nhàn rỗi không có việc gì, ông chỉ còn biết uống vài chén rượu, lặng lẽ dùng “Đạo” để tự giải thích và khai mở lòng mình, nhưng việc thu xếp hành trang để hoàn toàn quy ẩn thì cuối cùng vẫn là điều không thể tránh khỏi. Ông yêu thích nhất là núi non sông nước, làm thế nào để có thể sớm hôm bầu bạn với non nước. Cắt đứt duyên trần, tiêu dao tự tại, đó mới là điều khiến người tu Đạo có được tâm ý thư thái; còn dải đai quan nơi thắt lưng ông dường như chỉ khiến đầu ông mang thêm tóc bạc mà thôi. Được sống cùng đạo hữu, cùng nhau trao đổi những thể ngộ trong tu luyện là một niềm vui lớn; cớ sao ta còn phải lưu luyến chiếc đai quan bên hông để rồi như con chim bị nhốt trong lồng, mặc cho người khác sai khiến? [12]

Niềm hướng vọng của Vi Ứng Vật đối với núi non, rừng suối có thể nói đã đến mức yêu cả những gì thuộc về nơi ấy. Ông dành một tình cảm đặc biệt cho tiếng chuông chùa nơi sơn tự. Trong tập thơ của ông, khắp nơi đều có thể nghe thấy tiếng chuông vang lên, có một số bài thơ trong đó thuộc hàng danh tác của tập thơ. Theo lời giải thích của chính ông: “Nghe tiếng chuông du dương giữa núi rừng, khiến lòng người nhớ đến việc tu luyện mà khởi lên ‘đạo tâm’; đến lúc chiều tà, tiếng khánh vọng ra từ nơi mây khói cuốn quanh khiến người ta cảm thấy lòng hư không, ý tứ vươn xa”. [13]

Tuy nhiên, sự trói buộc của lưới trần đâu dễ gì phá vỡ như vậy. Trong lòng muốn rời đi, nhưng hoàn cảnh lại không cho đi, đây chính là mâu thuẫn. Đối với người tu luyện, đó cũng là cơ hội để đề cao tâm tính và tầng thứ. Vi Ứng Vật đã tôi luyện bản thân trong mâu thuẫn lúc khởi lúc diệt ấy suốt hơn mười năm, mãi đến khi năm 54 tuổi ông mới có thể từ nhiệm rời khỏi quan trường và định cư tại “Vĩnh Định Tinh Xá” trong chùa Vĩnh Định. Trong hơn mười năm xung đột mâu thuẫn ấy, ông không ngừng vận dụng sự lý giải của mình về “Đạo” để tự khai giải, hết lần này đến lần khác hóa giải xung đột, đồng thời không ngừng đề cao nhận thức của mình đối với Đạo: làm bất cứ việc gì cũng chỉ cần giữ vững “bản tính chân thật” của mình, trong cuộc sống chỉ cầu đủ ăn đủ mặc; “Đạo” có thể thích ứng với bất kỳ nơi nào, chỉ cần không coi thân mình là gánh nặng và luôn bảo trì được huyền lý của “huyền hư” là đủ. Thái độ của ông đối với thế sự và nội tâm cũng giống như chiếc thuyền trôi theo dòng nước, không cố sức chèo ngược dòng. Tuy thân còn ở trong “lưới đời”, nhưng lòng luôn giữ sự thanh tĩnh; những đêm ở cùng các vị cao tăng, ông thậm chí không còn nghĩ đến việc thỉnh giáo cách xử thế nữa. Thanh tĩnh vô vi, một “Đạo tâm” đạm bạc lặng lẽ bất động theo thời gian; khi không có việc gì thì khép hờ cửa, một mình tu tâm. Trong khung cảnh thanh tĩnh tịch mịch, ông đốt hương đả tọa, tĩnh tại “tẩy tịnh tinh thần”; công việc nơi “công môn” dĩ nhiên vẫn là những việc của người thường, nhưng tâm cầu Đạo thì ở đâu cũng đều như nhau. Chỉ cần trong lòng không chấp trước vào việc làm quan, thì ngay giữa chốn huyên náo vẫn có thể an nhiên giữ được đạo tâm. Có lúc ông đang bận rộn giữa một bàn đầy hồ sơ công vụ thì lại có vị tăng từ sơn tự đến thăm. Người từ nơi tĩnh lặng đến, còn ông đang bận giữa chốn ồn ào, nhưng cả hai đều không rời khỏi cảnh giới thiền. Tu Đạo vốn coi trọng “không” và “vô”, không mất thì “không được”; ngay cả câu nói “được cá thì quên nơm” cũng vẫn còn là một cách nói dư thừa, chưa hoàn toàn đạt đến cái “không”. Chỉ cần trong lòng buông bỏ được mọi ràng buộc và vướng mắc của duyên tục đến rồi đi, thì mọi việc mình làm đều có thể hài hòa với thế gian mà không trái nghịch. Khi trong tâm hư không, không còn vướng vật gì, tự nhiên sẽ đạm bạc, vô cầu, hoàn cảnh cũng trở nên yên tĩnh, còn những vọng niệm nơi thế tục cũng tiêu tan. Ở nơi trần thế vẫn có thể tu Đạo; những “dấu tích” của con người nơi thế gian cũng giống như vết bánh xe, không nên chấp trước, nhưng cũng không cần phải chán ghét hay cố tình lảng tránh. [14]

Mâu thuẫn giữa việc từ quan hay tiếp tục làm quan chỉ là một trong những ma nạn trên con đường tu luyện của Vi Ứng Vật. Bất kỳ người tu luyện nào cũng đều sẽ gặp rất nhiều ma nạn, bởi bất kỳ ai cũng có thể đã tạo ra không ít nghiệp lực trong vòng luân hồi đời đời kiếp kiếp, và trong quá trình tu luyện phải hoàn trả toàn bộ hoặc một phần nghiệp ấy dưới hình thức khổ nạn. Trong đó, phổ biến nhất, hầu như không ai tránh khỏi, chính là “nghiệp bệnh”. Rất nhiều người mới bước vào tu luyện đều rất hứng thú và xem trọng việc chữa bệnh, thậm chí có người vì muốn chữa bệnh mà bước lên con đường tu luyện. Mà bất kỳ pháp môn tu luyện tính mệnh song tu nào cũng đều phải bắt đầu bằng việc tịnh hóa thân thể người tu luyện, đặt cơ sở tốt cho sự chuyển hóa của bản thể. Những nhân tố ấy kết hợp lại khiến việc chữa bệnh (thực chất là tịnh hóa thân thể) trở thành bước đầu nhập môn của rất nhiều pháp môn tu luyện. Vi Ứng Vật tuổi còn tráng niên mà thân thể đã sớm suy yếu, sức khỏe không tốt, nên khi mới bước vào Đạo môn đương nhiên ông cũng hy vọng thân thể mình sẽ có sự chuyển biến. Ít nhất ông cũng từng có hai lần uống linh dược để chữa bệnh.

Có một lần, những người bạn tu Đạo hái được một ít “tùng anh” quý hiếm trên nơi “khe biếc, tùng xanh” cao vút tận mây. Vài vị Đạo nhân thức suốt đêm chế thành năm viên “Tùng Anh Hoàn”, sáng sớm liền sai người mang đến cho ông. Vi Ứng Vật bày “đạo tràng” tại nhà, sau khi “trai giới” mới uống “linh dược”. Uống xong, ông “làm thơ thay thư” để tỏ lòng cảm tạ, đồng thời hết lời ca ngợi công hiệu của linh dược: ông cảm thấy thân tâm mình đã hoàn toàn đổi khác, từ đó không những không còn đụng đến “thức ăn tanh hôi”, mà ngay cả cách nhìn đối với “việc đời” cũng thay đổi; đến cả khi nhìn thấy chiếc ấn quan của mình, ông cũng cảm thấy đó là “vật trái với lòng”. Lần khác, ông uống hoàng tinh. Hoàng tinh là một vị thuốc Trung y, dùng phần rễ làm thuốc. Trong “Thần Nông Bản Thảo”, nó được xếp vào loại thượng phẩm, thuộc nhóm dược liệu “uống lâu thì thân thể nhẹ nhàng, kéo dài tuổi thọ”. Các Đạo nhân lên “Tây Sơn” đào rễ hoàng tinh mang về, sau “chín lần hấp”, chín lần phơi, đến nửa đêm giờ Tý mới bắt đầu đun nấu với hỏa hầu thích hợp, “hương thơm ngào ngạt” lan khắp căn phòng. Sau khi dùng thuốc, Vi Ứng Vật cũng vô cùng xúc động, cảm thấy mình đã không còn là một kẻ “tục sĩ”, tâm trí đã du ngoạn ngoài “cõi trần”, đồng thời hy vọng cuối cùng có thể “cởi bỏ ấn tín và dây thao”, từ quan tu Đạo, “mãi cùng trời đất trường tồn”, tu thành đắc Đạo. [15] Xét từ việc Vi Ứng Vật suốt cả cuộc đời về sau luôn kiên định đạo tâm, hai lần dùng linh dược này cho dù không thật sự có hiệu quả thần kỳ như ông mô tả, ít nhất cũng phải mang lại những hiệu quả rõ rệt mà ông có thể cảm nhận được.

Nhưng nghiệp bệnh của một con người trong suốt cuộc đời thuộc về nhiều tầng thứ khác nhau, nên trong rất nhiều pháp môn tu luyện cũng không thể một lần mà tiêu trừ sạch sẽ. Người tu luyện tuy đã được tịnh hóa thân thể ở một tầng thứ nhất định, nhưng khi tiếp tục được tịnh hóa ở tầng thứ cao hơn vẫn có thể xuất hiện “phản ứng nghiệp bệnh”. Vi Ứng Vật ít nhất cũng từng trải qua một lần “phản ứng nghiệp bệnh” khá nghiêm trọng. [16]

Ngoài nghiệp bệnh mà hầu như ai cũng có thể gặp, thì trong hoàn cảnh đặc thù của mỗi người tu luyện, mỗi sự việc đều có thể trở thành ma nạn và cửa ải trên con đường tu luyện. Có thời gian sau khi nhậm chức, hơn một tháng liền, ngày nào ông cũng từ sáng đến tối xem xét, xử lý hồ sơ vụ án, “rối ren như gỡ một mớ tơ vò”. Ngay cả lúc một mình ngồi yên trong núi, vào những thời khắc thanh tĩnh nhất, vốn đang cố gắng gạt bỏ mọi suy nghĩ trần tục, hết sức giữ cho tâm mình kiền tịnh, đạt đến cảnh giới không vô, nhưng những ý niệm thế tục tích lũy trong cuộc sống người thường vẫn rất dễ nổi lên can nhiễu; những nỗi sầu do tình sinh ra cũng đồng loạt dâng lên, thật vô cùng khó chế ngự và tiêu trừ. Mãi đến những năm cuối đời, khi đã ở tại Vĩnh Định Tinh Xá, đôi lúc ông vẫn còn mơ thấy cuộc sống nơi kinh thành. Ông tạm thuê hai khoảnh ruộng, để lớp trẻ trong nhà vừa cày cấy vừa học hành. Mắt đã yếu, ông không còn sáng tác nhiều nữa, nhưng thời gian nhàn rỗi lại nhiều hơn, và việc tu tâm cũng nhờ đó mà càng thêm tinh tấn. [17]

Tu luyện là một việc vô cùng gian khổ. Đặc biệt, trong mắt người thường, không chỉ là rất khổ mà gần như không thể nào kiên trì nổi. Thế nhưng rất nhiều người tu luyện vẫn có thể kiên trì suốt cả cuộc đời. Ngoài “đạo tâm” quý báu là lòng chán lìa thế tục và khát vọng theo đuổi một cảnh giới sinh mệnh hoàn mỹ, thì “niềm vui” trong quá trình tu luyện và những câu chuyện tu luyện của các bậc tiền nhân từ xưa đến nay cũng là nguồn động lực to lớn khích lệ người tu luyện không ngừng tinh tấn.

Đối với Vi Ứng Vật mà nói, bản thân cuộc sống quy ẩn nơi điền viên đã là một niềm vui lớn. Có lúc ông gác lại việc quan, hòa mình vào cuộc sống điền viên cày cấy của người nông dân. Buổi sớm, ánh mặt trời chiếu lên mái nhà tranh, cuộc sống điền viên bồi dưỡng cho con người phẩm chất mộc mạc, chất phác. Tuy không có nhiều tiền bạc nhưng vẫn có rượu để uống. Nhìn ruộng đồng gieo trồng đều xanh tốt, ông vui mừng ngẩng đầu hướng lên trời xanh mà cảm thán trước sự hào phóng của tạo hóa. Ông cùng những người dân bình thường ra đồng từ sáng sớm, chiều tối mới trở về; phong cách làm việc ấy hoàn toàn khác với chốn quan nha. Có lúc ông đến khe nước phía nam chặt ít tre, chiều tối từ phía đông sông Phong trở về nhà. Sau khi từ quan trở về, ông không còn phải bận lòng vì những chuyện vụn vặt của thế tục nữa. Nơi ở cũng rất hẻo lánh, ông tha hồ ngao du vui chơi, chẳng cần bận tâm sớm hay muộn. Có lúc đuổi theo thỏ rừng chạy mãi lên sườn núi, có lúc men theo “khe Xích” để bắt cá. Khi hứng khởi, ông cất cao tiếng hát. Ông cũng thường mở cửa sổ phía bắc để không bỏ bê việc làm thơ và những thú vui văn chương. [18]

Vi Ứng Vật đã ghi chép trong thơ mình một số câu chuyện tu luyện mà ông tận mắt chứng kiến hoặc được nghe kể, dùng để khích lệ bản thân tinh tấn tu hành không giải đãi. Ông từng gặp một vị tăng nhân vô danh mà ông gọi là “Thượng Phương tăng”, vị ấy ở trong “chùa Lam Khê” trên ngọn núi gần đó. “Thượng Phương tăng” sống một mình trong ngôi chùa giữa rừng núi không một bóng người, nhưng chưa bao giờ nhóm lửa qua đêm; có lúc đêm khuya một mình đến bên dòng suối lạnh để lấy nước. Ông ở một mình trong “chùa Lam Khê”, tính đến lúc ấy đã ba mươi năm không hề xuống núi. Vi Ứng Vật cũng kể lại câu chuyện về một Đạo nhân tu Đạo, khi “Linh Trinh” hạ xuống thử đạo tâm của ông, đã dùng một sợi tóc treo một tảng đá nặng ngàn cân ngay phía trên chỗ ông nằm ngủ. Vị Đạo nhân không hề kinh hãi, cũng chẳng lấy làm lạ, vẫn ngủ dưới tảng đá ấy suốt 13 năm, cuối cùng đắc Đạo. Vi Ứng Vật cho rằng câu chuyện này nhằm giúp hàng đệ tử đời sau rèn luyện một đạo tâm kiên định, vững bền. Trong chính bài thơ ấy, ông còn kể về ba anh em cùng ở trong căn nhà tranh giữa núi sâu “đọc Tiên kinh” để tu Đạo. Một vị Tiên hóa thành con hươu trắng đến dẫn dụ, hai người em không kìm được, chạy theo vui đùa với hươu, chỉ có người anh vẫn một lòng kiên trì đọc kinh, cuối cùng tu thành đắc Đạo. Đến lúc ấy hai người em mới ngửa mặt lên trời mà khóc lớn, hiểu ra rằng chỉ vì “sai một ly” mà đã đánh mất cơ duyên “ngàn vạn năm” khó gặp. Tình tiết của cả hai truyền thuyết này đều rất đơn giản, đơn giản đến mức có phần giống những câu chuyện cổ tích dành cho trẻ nhỏ, thế nhưng Vi Ứng Vật vẫn trịnh trọng viết thành một bài thơ thất ngôn dài 20 câu để tự khích lệ mình. Đúng vậy, người trong lòng có chữ “chân” thì tự nhiên tin vào cái chân thật ấy; còn người trong lòng không có chữ “chân” thì cũng sẽ không thừa nhận cái “chân”. Ngoài ra, những câu chuyện thần tiên nổi tiếng, trong đó có chuyện “Tây Vương Mẫu” và “Hán Vũ Đế”, cũng là những điển tích mà Vi Ứng Vật dùng để tự khích lệ bản thân mình.

Tục ngữ có câu: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”. Nhưng cái gọi là “bản tính” ở đây còn chưa phải là thiên tính nguyên thủy thực sự của con người, mà chỉ là “nhân tính” được hình thành sau bao đời bao kiếp chịu sự hun đúc của hậu thiên, bị nghiệp lực bao phủ và làm méo mó. Thế nhưng, muốn thay đổi nó cũng đã là việc vô cùng, vô cùng khó khăn. Muốn thay đổi bản tính của một con người, thật sự khiến người ấy “gột rửa tâm hồn”, “thoát thai hoán cốt”, thì chỉ có tu luyện mới làm được. Thời trẻ, Vi Ứng Vật từng sống buông thả, hành vi không đoan chính, thậm chí phạm tội mà không chịu đền tội, nên bản tính của ông có thể nói là không tốt. Thế nhưng một khi đã tỉnh ngộ và quyết tâm tu luyện, cuối cùng ông lại có thể vươn mình trở thành một nhân vật được hậu thế kính ngưỡng. Đặc biệt từ thời Tống trở đi, người đời đánh giá phẩm hạnh của ông rất cao. Hai câu thơ: “Thân đa tật bệnh tư điền lý, Ấp hữu lưu vong quý bổng tiền” (Thân nhiều bệnh tật nhớ ruộng vườn, trong ấp còn người lưu tán, thẹn nhận bổng lộc) được Phạm Trọng Yêm khen là “lời của bậc nhân giả”, còn Chu Hy thì hết lời ca ngợi là “đã đạt đến bậc thánh”, xem đó là lời của bậc thánh nhân. [20]

Điều mà hậu thế luôn truyền tụng về ông là: “Bản tính thanh cao, ăn uống đạm bạc, ít ham muốn; nơi ở thường đốt hương, quét dọn sạch sẽ rồi ngồi tĩnh tọa” [5]. Cuối cùng ông tu luyện đạt đến cảnh giới nào thì nay không còn cách nào khảo chứng được. Tuy nhiên, trong một bài thơ, ông từng nói rằng mình đã được ghi tên vào “Tiên tước” [21]. Xét từ phẩm giá và con người của Vi Ứng Vật, chúng ta có lý do để tin rằng lời nói của ông tuyệt đối không phải là lời cuồng vọng, mà là trong lòng đã tự biết rõ cảnh giới của mình.

Tài liệu tham khảo

[1] Cao Bộ Doanh: “Đường Tống thi cử yếu”.

[2] Thi Bổ Hoa: “Nghiễn Dong thuyết thi”: “Gửi đạo sĩ trong núi Toàn Tiêu”, Tô Đông Pha đã cố ý học theo nhưng rốt cuộc vẫn không giống. Bởi Đông Pha dụng công, còn Vi công không dụng công; Đông Pha trọng ý, còn Vi công không trọng ý. Đó chính là chỗ vi diệu”.

[3] Thẩm Đức Tiềm: “Thuyết thi túy ngữ”: “Ngũ ngôn tuyệt cú, sự tự nhiên của Hữu Thừa (Vương Duy), sự cao diệu của Thái Bạch (Lý Bạch), sự cổ đạm của Tô Châu (Vi Ứng Vật), cả ba đều đạt đến cảnh giới hóa công.

[4] Bạch Cư Dị: “Thư gửi Nguyên Cửu”.

[5] “Lời tựa Vi Tô Châu tập”, quyển đầu (tên sách xem ở phần cuối).

[6] “Phùng Dương Khai Phủ” quyển 5; “Ôn Tuyền hành” quyển 9; “Ly Sơn hành” quyển 10.

[7] “Thanh Đô quán đáp Ấu Hà”: “Công danh vinh hiển đều như đất phân, cùng theo gió mà bay” (quyển 5); “Ngày Trùng Dương làm thơ ở bờ sông Phong, gửi Thôi Chủ bộ Trác cùng hai em Đoan, Hệ”: “Đời người không tự xét mình, lòng ham muốn không bao giờ dứt” (quyển 2); “12 bài Cổ thi phỏng theo” (bài thứ ba): “Người đời không tự giác ngộ, vội vã trôi qua như cơn cuồng phong” (quyển 1); “Đối phương tôn”: “Đối diện chén rượu thơm, say rồi trăm việc còn gì đáng nói. Thoáng thấy núi xanh mới tỉnh một lần, vừa định khoác áo ra đi lại mê man như cũ” (quyển 8); “Ca khúc Ngạc Lục Hoa”: “Có một người bay lên giữa mây tím… Tiếng tù và hiu hắt, cưỡi xe rồng, cõi đời ô trọc nên không thể hạ xuống” (quyển 9).

[8] “Ở Tinh Xá bên sông Phong gửi Trương Nhị Xá Nhân”; “Bày tỏ lòng mình gửi Cố Bát Xử Sĩ”: “Từng theo Tiên khách tìm phương pháp, Cũng đến cửa chùa hỏi lẽ Không” (quyển 2); “Đêm mưa nghỉ tại Thanh Đô quán”; “Cùng Luật sư Khởi ở Đông Trai viện”: “Sa môn vui được làm bạn, cùng tránh chốn ồn ào trong rừng vắng. An cư với tăng suốt mùa hạ, đêm thanh cùng đọc Đạo ngôn” (quyển 7).

[9] “Gửi Gia lệnh họ Nghiêm”: “Nhân lúc rảnh đọc sách Đạo, lại ngồi đây nghe gió thổi qua rừng thông”. “Ngày xuân ở ngoại ô gửi Thiếu phủ Cát Trung Phu huyện Vạn Niên, Thiếu phủ Vĩ huyện Tam Nguyên và Hiệu thư Hạ Hầu Thẩm”: “Một mình uống nước khe núi, ngâm đọc sách của Lão Tử” (quyển 2); “Đáp Lý… ba bài” (bài thứ ba): “Xem xong Kinh Dịch trong rừng, nhàn nhã ngắm hải âu bên suối”; “Đáp Thôi Đô Thủy”: “Đêm khuya học trong sân trúc, đèn lẻ soi trang sách. Nếu không gặp được sự giáo hóa của vô vi, ai còn được hưởng cuộc sống nhàn cư?” (quyển 5); “Trai đường huyện”: “Nhân việc mà thưởng văn chương, ôm lòng xung hòa đọc kinh Đạo”. “Tây Trai trong quận”: “Chén rượu trong nuôi dưỡng chân khí, sách ngọc truyền cho người học Đạo” (quyển 8).

[10] “Thiện Phúc Tinh Xá thị chư sinh”: “Ta đang lấy sự huyền mặc làm nơi nương tựa, há để danh vọng và dấu vết bên ngoài xâm nhiễu. Đạo pháp huyền diệu khiến người ta vui quên lối về, chỉ riêng nơi đây ôm giữ tấm lòng xung hòa” (quyển 2); “Đáp Chủ bạ Thôi, đồng thời gửi Thượng nhân Ôn”: “Do chấp trước vào tình mà sinh ra muôn vàn ràng buộc, đến tuổi xế chiều mới ngộ mà theo dòng Đạo. Muôn cảnh đều đã lặng yên, mới hiểu thân thế chỉ là hư nổi”. “Thiện Phúc Tinh Xá đáp Hàn Tư lục, nhớ cuộc hội yến ở Thanh Đô quán”: “Chí hướng hèn mọn nên chán ghét cảnh đông đúc ồn ào, ôm giữ sự mộc mạc mà nương nơi tinh xá. Thành kính ngưỡng vọng những bậc hiền tài đương thời, riêng mình cam chịu làm kẻ ngu độn. … Vô vi mới có thể tung cánh bay cao, nhưng con đường ấy còn xa, không thể cưỡng cầu” (quyển 5).

[11] “Thiện Phúc Tinh Xá thị chư sinh”: “Trong trai phòng chẳng còn vật gì dư thừa, chỉ có vài đồ gốm và một chiếc chăn đơn” (quyển 2); Nhàn cư gửi Đoan và Trùng Dương: “Sống nhàn tịch mịch lại sinh hứng cao, không có việc gì thì giữa bụi gió thế gian cũng chẳng muốn trở về” (quyển 3); “Du Nam Viên cùng Vương Khanh”: “Hình tích tuy còn phải giữ khuôn phép, nhưng đối với việc đời thì lòng thản nhiên không vướng bận”; “Du Tây Sơn”: “Điều ta yêu thích chỉ có non nước, hễ đến đây là muốn ở lại”; “Đông Giao”: “Cuối cùng rồi cũng từ quan dựng nhà tranh, ngưỡng mộ Đào Uyên Minh, mong được như ông”; “Làm ở ngoại ô mùa thu”: “Lên gò vui ngắm mùa màng, đi qua xóm cũ hái cúc. Chỉ mong được như Trường Thư và Kiệt Nịch, đạm bạc giữ lấy ruộng vườn” (quyển 7); “Ở ngoại ô bày tỏ chí hướng”: “Chỉ cần trong vò còn có rượu, những việc khác có gì đáng bận tâm. … Chỉ mong năm tháng được mùa, dân làng ai nấy đều vui vẻ” (quyển 8).

[12] “Viết nỗi lòng ở Cao Lăng gửi Thiếu phủ Lư huyện Tam Nguyên”: “Ngày ngày đêm đêm chỉ mong được lui về, bước ra cửa lại ngóng núi xưa”; “Qua Thiếu Lâm Tinh Xá gửi thân hữu nơi kinh thành”: “Một mình ra đi tuy tạm được thư thái, nhưng nhiều ràng buộc cuối cùng vẫn kéo trở lại. Nay chỉ mong tìm được nơi dựng nhà tranh, để cuối đời về đó nghỉ ngơi”; “Bày tỏ lòng mình gửi Cố Bát Xử Sĩ”: “Chưa thể lập tức từ quan mà đi, thật hổ thẹn với ông lão hái thuốc trên núi Nam” (quyển 2); “Ngày đầu năm gửi các em ở kinh thành như Đoan, Vũ…”: “Nhàn rỗi lấy rượu làm bạn, lặng lẽ dùng Đạo để tự khai giải. … Cuối cùng sẽ thu xếp hành trang, trở về Đỗ Lăng cày ruộng” (quyển 3); “Đáp em của Tiến sĩ Lý…”: “Đầu hạ dứt bỏ mọi duyên trần, giữa rừng song thọ đối diện thiền khách. … Núi non sông nước là niềm vui trong lòng, làm sao có thể sớm tối rời xa”; “Đáp Tú tài Phùng Lỗ”: “… Phảng phất như đã rời xa dấu vết bụi trần, tiêu dao thư thái mở rộng đạo tâm. Chỉ tiếc dải thao nơi thắt lưng ta, dường như chỉ để tóc bạc thêm nhiều” (quyển 5); “Đêm mưa nghỉ tại Thanh Đô quán”: “Chợt ngộ mà buông bỏ mọi điều trước đây, lời thanh đạm khiến đạo tâm vui thích. Đâu còn lưu luyến dải thao nơi thắt lưng, như con chim trong lồng bị người sai khiến” (quyển 7).

[13] “Vừa rời Dương Tử gửi Hiệu thư Nguyên Đại”; “Nhân việc trên sông Hoài gửi thân hữu ở Quảng Lăng”; “Qua Thiếu Lâm Tinh Xá gửi thân hữu nơi kinh thành”: “Tiếng chuông ngân khởi đạo tâm, tiếng khánh chiều vọng giữa mây khói khiến lòng hư không” (quyển 2); “Làm theo đề ‘Mưa chiều tiễn Lý Vị’” (quyển 4); “Tiếng chuông trong màn khói” (quyển 8).

[14] “Gửi Phùng Trứ”: “Thuận theo bản tính chân thật, điều mong cầu chỉ là đủ ăn đủ mặc. … Đạo của ta cũng tự tại như thế, lui về để giữ gìn lẽ huyền hư”; Từ Củng đi thuyền vào Hoàng Hà, nhân việc gửi các đồng liêu phủ huyện: “Xin nhắn những bạn đồng liêu từng làm quan nơi cầu Lạc, chiếc thuyền nhỏ không buộc, thuận theo lòng mình mà trôi”; Nhàn cư trong huyện tặng Ôn Công: “Tuy sống giữa lưới đời mà lòng vẫn thường thanh tịnh, đêm đối diện cao tăng cũng chẳng cần nói một lời”; Ở Tinh Xá bên sông Phong gửi Trương Nhị Xá Nhân: “Đạo tâm đạm bạc đối diện dòng nước chảy, việc đời thưa vắng, chỉ khép hờ cửa mà thôi” (quyển 2); “Sáng sớm ngồi ở Tây Trai”: “Rửa mặt súc miệng, vui với cảnh thanh khiết; đốt hương để gột sạch mọi tạp niệm. Việc nơi công môn vốn là việc thường, đạo tâm ở đâu có gì khác” (quyển 8); “Đáp Tham quân Sướng”: “Tình cờ làm quan nhưng lòng không xem đó là gánh nặng, ở nơi huyên náo mà đạo vẫn tự u tĩnh” (phần bổ sung); “Tặng Công Tông”: “Một vị sơn tăng đến thăm, trước mặt ta hồ sơ công vụ chất đầy. Một người ở núi, một người nơi quan trường tuy khác cảnh ngộ, nhưng động hay tĩnh đều không rời Thiền. Tiệc Hoa Trì cuối xuân, đêm thanh ngủ nơi trai phòng. Đạo này vốn không có cái để được, thì còn nói gì đến chuyện quên chiếc nơm”; “Gửi Hằng Xán”: “Trong lòng dứt mọi duyên đến đi, còn hành xử thì thuận theo việc đời” (quyển 3); “Cùng Nguyên Tích đề thơ ở chùa Lang Nha”: “Lòng rỗng rang nên sinh đạm bạc, cảnh tịch lặng thì vọng niệm bụi trần tiêu tan. Lo việc đời há chẳng phải cũng là Đạo, vô vi đâu cần chán ghét vết bánh xe” (quyển 7).

[15] “Tạ cư sĩ Đông Lâm ở Tử Các là chú của ta gửi tặng Tùng Anh Hoàn, nâng nhận vui mừng, biết rằng đây không phải là thứ người cõi tục nên dùng, bèn làm thơ thay thư đáp tạ” (quyển 2); “Uống hoàng tinh” (quyển 8).

[16] “Nằm bệnh ở trai đường trong quận, làm thơ tuyệt cú”: “Lửa còn trong lư hương đã tắt, bóng ngọn đèn lan mờ nhạt trong đêm. Một mình nằm bệnh nơi trai phòng mùa thu, biết ai đắp thêm áo cho khỏi lạnh” (quyển 8).

[17] “Vừa đến quận”: “Đến quận mới hơn một tháng, suốt ngày bận rộn giải quyết công việc rối ren như gỡ tơ” (quyển 8); “Ngày hạ”: “… Một mình ngồi yên trong núi. Hiểu được sự đạm bạc để gạt bỏ tạp niệm, học cái Không để không còn một cảnh giới nào bị bỏ sót. Tập khí thế tục rất dễ xâm nhập, nỗi sầu vừa đến lại càng khó dẹp yên” (quyển 6); “Ở tạm tại Vĩnh Định Tinh Xá”: “Nhà nghèo biết lấy gì mà đi, chỉ còn mơ tưởng đến kinh thành. … Tạm thuê hai khoảnh ruộng, vừa bảo con cháu cày cấy vừa học hành. Mắt mờ nên việc văn chương phải bỏ, thân nhàn thì đạo tâm càng thêm tinh tấn” (quyển 8).

[18] “Đáp Hiệu thư Sướng Đương”: “Tình cờ từ bỏ quan chức mà đi, gửi thân nơi đồng ruộng. Mặt trời mọc chiếu sáng mái nhà tranh, cuộc sống điền viên nuôi dưỡng tính chất mộc mạc. Tuy nói rằng chẳng có của cải gì, nhưng trong vò rượu vẫn chưa bao giờ cạn. Chỉ mừng trăm loại ngũ cốc đều được mùa, ngẩng đầu cảm thán công lao của tạo hóa. Cùng dân chúng sớm đi tối về, làm mọi việc chẳng khác gì họ. Khi thì chặt tre ở khe phía nam, đêm lại trở về phía đông sông Phong” (quyển 5); “Ở nơi đồng nội”: “Nay được từ chức trở về, may không còn nỗi lo ham muốn thế tục. Nơi ở vừa hẻo lánh vừa yên tĩnh, vui chơi ngao du chẳng kể sớm chiều. Đuổi thỏ lên sườn đồi, men theo khe Xích bắt cá. Hứng khởi thì cất cao tiếng hát… Thường mở cửa sổ phía bắc, đâu phải để đắm mình trong văn chương bút mực”, “U cư” (quyển 8).

[19] “Thượng Phương tăng”: “Thấy trăng mọc từ núi phía đông, vị tăng ngồi thiền nơi cao nhất. Rừng vắng không nhóm lửa qua đêm, một mình đêm khuya ra suối lạnh lấy nước. Không rời chùa Lam Khê, đến nay đã ba mươi năm” (quyển 8); “Học Tiên”: “Xưa có một đạo sĩ cầu học Thần Tiên, Linh Trinh giáng xuống thử xem đạo tâm có kiên định hay không. Một tảng đá nặng ngàn cân chỉ treo bằng một sợi tóc, ông vẫn nằm ngủ dưới tảng đá ấy suốt 13 năm. Giữ vững Đạo mà quên thân, vượt qua thử thách ấy, tên được tâu lên Ngọc Hoàng rồi bay lên trời. Mây lành từ từ tan mất, chỉ để lại cho hàng đệ tử một tấm lòng kiên định. … Xưa kia có ba anh em cùng nhau dựng nhà tranh nơi núi sâu đọc Tiên kinh. Tiên nhân hóa thành hươu trắng, hai người em mải mê vui đùa với hươu, chỉ người anh vẫn chuyên tâm đọc kinh. Đọc đủ nhiều lần mới được truyền dạy lời huyền diệu, nhờ đạo tâm tinh chuyên mà đắc thành Thần Tiên. Đáng thương cho hai người em chỉ biết ngửa mặt lên trời mà khóc, sai một ly đã lỡ mất cơ duyên ngàn vạn năm”; “Ca Vương Mẫu”, “Ca Mã Minh Sinh gặp Thần Nữ”, “Ca chim bạch cồ dục của Quán chủ Bảo Quán” (quyển 9); “Tạp ca Hán Vũ Đế” (quyển 10).

[20] “Gửi Lý Đam và Nguyên Tích” (quyển 3).

[21] “Họa thơ Ngô Xá Nhân ‘Đầu xuân về nghỉ ở Tây Đình bày tỏ chí hướng’”: “Tên tuy đã được ghi vào Tiên tước, lòng từ lâu đã gạt bỏ mọi cơ tâm nơi bụi trần” (quyển 5).

Những bài thơ và văn được trích dẫn trong bài này, ngoài những chỗ đã ghi rõ xuất xứ, đều có thể tham khảo trong “Vi Tô Châu tập”, do Vương Vân Ngũ chủ biên, thuộc bộ sách “Tủ sách Quốc học cơ bản (400 loại)”, do Thương vụ ấn thư quán Đài Loan xuất bản, bản in lần thứ nhất tại Đài Loan, tháng 9 năm Dân Quốc 57 (1968).

Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/20314