Tận giải «Các Thế Kỷ» của Nostradamus (4): Thảm sát Thiên An Môn



Tác giả: Lực Thiên Quân

[Chanhkien.org]

CHƯƠNG I: Kẻ cầm đầu tà ác và con thú tà ác

Năm 2003, tôi đã viết một bài viết, tiêu đề là: “Dấu ấn con thú và dấu ấn Chiên Con trong «Khải Huyền» của «Thánh Kinh»”, trong đó luận chứng rằng: Con thú được đề cập tới trong sách «Khải Huyền» chính là kẻ cầm đầu tà ác bức hại Pháp Luân Công—Giang Trạch Dân—ông ta là con thú tà ác. Tôi viết như sau:

Kế đó tôi thấy một Con Thú từ dưới biển đi lên; Con Thú ấy có mười sừng và bảy đầu; trên các sừng nó có mười vương miện, và trên các đầu nó có những danh hiệu phạm thượng.” (Khải Huyền, 13:1); đây là nói về kẻ cầm đầu tà ác Giang Trạch Dân: phất lên tại Thượng Hải, chui vào Bắc Kinh Trung Nam Hải, chui vào một trong bảy vị Thường ủy Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), đội lên cái mũ ‘tam vị nhất thể’ (Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Chủ tịch Quân ủy Trung ương). “Con Rồng ban cho nó quyền lực, ngai vàng, và quyền phép lớn.” (Khải Huyền, 13:2); “Họ thờ phượng Con Rồng, vì Con Rồng ban cho Con Thú quyền phép.” (Khải Huyền, 13:4). Ở đây là nói về quyền lực tối cao trong ĐCSTQ được giao cấp cho Giang Trạch Dân. Con rồng ở đây chính là con rồng đỏ được đề cập tại Tiết 3, Chương 12 sách «Khải Huyền»: “Khi ấy cũng có một hiện tượng khác xảy ra trên trời: kìa, một Con Rồng lớn, màu đỏ, có bảy đầu và mười sừng; trên các đầu nó có bảy vương miện.” Con rồng đỏ này rõ ràng là chỉ ĐCSTQ, bởi vì “Từ không gian tầng thấp nhất ở Thiên thượng mà nhìn thì Đảng Cộng sản Trung Quốc có hình thức là một con ác long màu đỏ.” (“Giải thích ba đoạn cuối bài thơ Hoa Mai”, «Tinh Tấn Yếu Chỉ II»). “Con Thú được ban cho cái miệng nói những lời ngạo mạn và phạm thượng” (Khải Huyền, 13:5); câu này miêu tả chân thực con thú tà ác Giang Trạch Dân thực ra là một con cóc xấu xí ghê tởm.

Kỳ thực, sách «Khải Huyền» là chứng cứ trực tiếp nhất cho thấy Giang Trạch Dân chính là con thú tà ác và sẽ hiện nguyên hình trong “Đại Thẩm phán Tối hậu” của Đức Chúa Trời. “Bấy giờ tôi nghe có tiếng lớn từ đền thờ truyền cho bảy vị thiên sứ, ‘Hãy đi và đổ bảy bát thịnh nộ của Đức Chúa Trời xuống đất.'” (Khải Huyền, 16:1); “Bấy giờ tôi thấy từ miệng Con Rồng, từ miệng Con Thú, và từ miệng tiên tri giả, xuất ra ba tà linh ô uế giống như ba con ếch.” (Khải Huyền, 16:13). Ở đây chỉ minh xác rằng nguyên thần (bản tiếng Anh là “spirit”) của con thú tà ác chính là thứ như cóc nhái. Hiện tại những người có công năng trên toàn thế giới đều biết rằng nguyên thần của kẻ cầm đầu tà ác Giang Trạch Dân chính là một con cóc, hơn nữa là con cóc cực kỳ xấu xí chỉ xuất hiện trong lịch sử nhân loại trong hàng ngàn năm. Như vậy thực ra con thú tà ác này không phải thuộc về Giang; con cóc tà ác này thuộc về thế lực tà ác được đề cập trong «Khải Huyền» của «Thánh Kinh».

Thực ra, vào năm 2003, mặc dù tập đoàn ĐCSTQ đã phạm tội ác với Đại Pháp, nhưng Thần từ bi vẫn cấp cho nó cơ hội tỉnh ngộ; lúc ấy tôi chỉ nói rằng con thú tà ác là kẻ cầm đầu tà ác Giang Trạch Dân. Nhưng trên thực tế, bản thân ĐCSTQ cũng là con thú tà ác; Giang Trạch Dân là con cóc đóng vai trò đầu não và linh hồn (spirit) của con thú; nhưng mặc dù qua nhiều năm được cấp cơ hội, tập đoàn ĐCSTQ vẫn chấp mê bất ngộ, khiến ông Trời nổi cơn thịnh nộ, làm mặt đất nứt ra hiện khối cự thạch, trên đó viết 6 chữ lớn “Trung Quốc cộng sản đảng vong“; đồng thời từ Trời hạ xuống cuốn sách «Cửu Bình cộng sản đảng», từ đó làn sóng thoái đảng nổi dậy như nước vỡ bờ; thanh minh thoái đảng chính là hành động xóa sạch dấu ấn con thú của người Trung Quốc.

Hôm nay, trong quá trình phá giải dự ngôn «Các Thế Kỷ», tôi phát hiện ra rằng «Các Thế Kỷ» và «Khải Huyền» là nhất trí với nhau. Trong «Các Thế Kỷ», sự miêu tả đối với con thú tà ác Giang Trạch Dân mang tính chất khắc họa một nhân vật phản diện chủ yếu. Nếu tập trung lại, thì những lời tiên tri từ 400 năm trước của Nostradamus về con thú tà ác chính là cuốn sách «Câu chuyện có thật về Giang Trạch Dân».

Phần 1: Thảm sát ngày 4/6 máu chảy thành sông; con thú tà ác hiện xuất bản tính

Năm 1989, cuộc thảm sát trên quảng trường Thiên An Môn xuất sinh “Giang quỷ”

Các Thế Kỷ I, Khổ 80

Nguyên văn tiếng Pháp:

De la fixiesme claire splendeur celeste,
Viendra tonner si fort eu la Bourgongne :
Puis naistra monstre de tres-hydeuse beste,
MArs, Auril, May, Iuin, grand charpin & rongne

Tiếng Anh:

From the sixth bright celestial light
it will come to thunder very strongly in Burgundy.
Then a monster will be born of a very hideous beast:
In March, April, May and June great wounding and worrying.

Tiếng Việt:

Từ luồng sáng thứ sáu xuất hiện trên bầu trời
Sẽ có tiếng sấm nổ rất lớn tại Burgundy.
Rồi một con quái vật sinh ra từ con thú rất gớm ghiếc:
Nỗi đau và lo lắng khôn nguôi trong tháng Ba, tháng Tư, tháng Năm và tháng Sáu.

Câu đầu tiên trong bài thơ mang theo mật mã thời gian, chỉ thời gian phát sinh sự kiện. “Luồng sáng thứ sáu xuất hiện trên bầu trời” đại biểu cho Thiên can thứ 6, tức là “Kỷ”; “luồng sáng” và “sấm nổ” ám chỉ Địa chi thuộc Hỏa; do đó năm này chính là năm “Kỷ Tỵ”; năm 1989 là năm “Kỷ Tỵ”. Trong lời mở đầu tôi đã nói qua: Những lời tiên tri trong «Các Thế Kỷ» bao quát phạm vi toàn thế giới, và mặc dù vào thời đại của Nostradamus Châu Mỹ vẫn chưa được phát hiện, nhưng ông vẫn có thể dùng các địa danh châu Âu với lịch sử và địa lý tương tự để ám chỉ các địa phương khác nhau trên toàn thế giới. Ở bề mặt mà xét, bài thơ tiên tri có thể chỉ sự kiện phát sinh tại thị trấn nhỏ nào đó ở Pháp hoặc Ý, nhưng thực ra lại để chỉ địa phương ở Châu Á hoặc Châu Mỹ vốn không thuộc phạm vi Đế chế La Mã. Burgundy là chỉ một địa khu tại Pháp hồi thế kỷ 14 và 15; Vương quốc Burgundy từng chế ngự một vùng nay là Hà Lan, Bỉ và Đông Bắc nước Pháp. Như vậy câu thứ hai bài thơ này chỉ thủ phủ thuộc vùng Đông Bắc của một quốc gia sẽ phát sinh một sự kiện lớn chấn động thế giới, đồng thời có liên quan đến con ác thú. Năm 1989, trên thế giới có một sự kiện “ác tính”, chính là thủ đô Bắc Kinh nằm ở Đông Bắc Trung Quốc phát sinh cuộc thảm sát trên quảng trường Thiên An Môn. Câu thơ thứ ba, “Rồi một con quái vật sinh ra từ con thú rất gớm ghiếc”, là chỉ tại sự kiện ngày 4 tháng 6 năm 1989, bản tính khát máu của con thú tà ác “rất gớm ghiếc” ĐCSTQ đã biểu hiện xuất lai; đồng thời từ con thú tà ác này sinh ra cái đầu của tà ác—”Giang quỷ”. Đương nhiên, con yêu quái được sinh ra từ bụng của con ác thú, cho nên gọi là “Giang quỷ” thì cũng không sai.

Câu thứ tư của bài thơ miêu tả diễn biến sự kiện “Lục Tứ” (ngày 4/6): Tháng Ba, ĐCSTQ ban hành thiết quân luật tại Lhasa, gây ra cuộc thảm sát nhân dân Tây Tạng. Tháng Tư, Hồ Diệu Bang từ trần; sinh viên Bắc Kinh đến Thiên An Môn cử hành hoạt động tưởng niệm, tuần hành, sau đó phát triển thành phong trào sinh viên yêu nước đòi tự do dân chủ. Thế lực tà ác ĐCSTQ đã xuất bản bài xã luận ngày 26 tháng 4 với tiêu đề «Phải kiên quyết phản đối động loạn», trong đó gọi cuộc vận động ái quốc của sinh viên là “động loạn”, dẫn tới các cuộc tuần hành bãi khóa quy mô ngày càng lớn của sinh viên. Tháng Năm, Triệu Tử Dương phát biểu bài nói chuyện “Ngũ Tứ”, khẳng định lòng nhiệt tình ái quốc của sinh viên, nhấn mạnh cần duy trì ổn định. Tuy nhiên, ông không thể giải quyết vấn đề định tính “động loạn” trong nội bộ đảng; sinh viên tại Thiên An Môn bắt đầu tuyệt thực yêu cầu phủ định cách định tính “động loạn”; quần chúng các giới Bắc Kinh lên tiếng ủng hộ sinh viên tuyệt thực. Ngày 18, 19 tháng Năm, Triệu Tử Dương thăm hỏi sinh viên, thực tế là cáo biệt chính trị; sinh viên từ tuyệt thực trở thành biểu tình ngồi; ĐCSTQ tuyên bố lệnh giới nghiêm tại Bắc Kinh. Sau đó, thị dân và sinh viên Bắc Kinh bắt đầu chạy trên phố cản trở quân đội tiến vào; cả trăm vạn người trên quảng trường Thiên An Môn và Đại lộ Đông-Tây Trường An đồng loạt tiến hành hoạt động tuần hành thị uy. Tháng Sáu, quân đội ĐCSTQ dùng vũ lực cưỡng chế xâm nhập Bắc Kinh, bắt giết sinh viên và dân thường, gây ra thảm án ngày 4/6 đẫm máu.

20 năm đã mau chóng đi qua, thế nhưng thảm án ngày 4/6 vẫn còn y nguyên trong tâm trí những người Trung Quốc có lương tri như một “nỗi đau lớn”. Chính quyền của con thú tà ác ĐCSTQ chừng nào chưa sụp đổ, lương lai của Trung Quốc còn khiến người ta “lo lắng khôn nguôi”.

Triệu Tử Dương bị mưu sát chính trị; Giang Trạch Dân bức hại tín ngưỡng tôn giáo, bán rẻ lãnh thổ phương Bắc

Các Thế Kỷ I, Khổ 52

Nguyên văn tiếng Pháp:

Les deux malins de Scorpion conioint,
Le grand Seigneur meurtry de dans ƒa ƒalle :
Peƒte à l’Egliƒe par le nouueau Roy ioint.
L’Europe baƒƒe, & Septentrionale.

Tiếng Anh:

Two evil influences in conjunction in Scorpio.
The great lord is murdered in his room.
A newly appointed king persecutes the Church,
the lower (parts of) Europe and in the North.

Tiếng Việt:

Hai thế lực tà ác gặp nhau tại chòm sao Bọ Cạp.
Đại vương bị mưu sát trong căn phòng của ông.
Quốc vương mới được chọn bức hại Giáo hội,
Vùng thấp của Châu Âu và tại phương Bắc.

Câu đầu tiên bài thơ này hàm chứa mật mã thời gian. Trong chiêm tinh học, chòm sao Bọ Cạp (Scorpio) có sao bảo vệ là Diêm Vương tinh, thần bảo vệ là Vua Địa Ngục; do vậy bản thân chòm sao Bọ Cạp chính là ngôi vị của Diêm Vương và thế lực tà ác. Quỹ đạo của Diêm Vương tinh có hình e-líp rất dẹt, điểm xa Mặt trời nhất là 7,4 tỷ km2, điểm gần Mặt trời nhất chỉ có 4,4 tỷ km2, chu kỳ hành tinh là 248 năm; Diêm Vương tinh vào năm 1989 chính là ở điểm gần Mặt trời nhất, thậm chí còn gần Mặt trời hơn cả Hải Vương tinh. Cụ thể vào tháng 9, mỗi năm nó lại gần Mặt trời và chòm sao Bọ Cạp hơn vào tháng 10; Diêm Vương tinh vào năm 1989 là gần chòm sao Bọ Cạp nhất trong chu kỳ 248 năm, cũng tương đương thế lực tà ác của Diêm Vương quay trở lại ngai. “Hai thế lực tà ác gặp nhau tại chòm sao Bọ Cạp” do vậy chỉ năm 1989. Từ một góc độ khác, con bọ cạp có hai cái càng tựa như “hai thế lực tà ác”; năm 1989 Diêm Vương tinh gần chòm sao Bọ Cạp nhất, hai thế lực tà ác gặp nhau. Sự kiện ngày 4 tháng 6 năm 1989 tại tháng 6, thuộc chòm sao Song Tử (Gemini); “Song Tử” cũng hàm ý có hai lực lượng tà ác.

“Đại vương bị mưu sát trong căn phòng của ông” là chỉ sau sự kiện ngày 4/6, Triệu Tử Dương bị giam lỏng tại tư gia, đồng thời bị ĐCSTQ tà ác “kết thúc sự nghiệp chính trị”, hay “mưu sát chính trị”. “Quốc vương mới được chọn” là chỉ ĐCSTQ độc tài không thông qua tuyển cử mà “chỉ định” Giang Trạch Dân làm người đứng đầu quốc gia. “Bức hại Giáo hội” là chỉ Giang Trạch Dân sau khi nắm quyền đã bức hại Pháp Luân Công, Cơ Đốc giáo cũng như các tín ngưỡng tôn giáo khác.

Ảnh: Triệu Tử Dương cáo biệt chính trị.

Câu cuối cùng của bài thơ là nói tên giặc bán nước Giang Trạch Dân đem 100 triệu km2 lãnh thổ phía Bắc Trung Quốc bán cho Nga; phần lãnh thổ này tương đương tổng diện tích ba tỉnh Đông Bắc và rộng gấp 10 lần Đài Loan. Ngày mùng 9 và mùng 10 tháng 12 năm 1999 tại Bắc Kinh, Giang Trạch Dân và Tổng thống Nga Boris Yeltsin đã ký kết “Nghị định thư về phân hai đoạn giới tuyến Đông Tây giữa Liên bang Nga và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”, đem 100 triệu km2 lãnh thổ phía Bắc biếu không cho Nga, đoạn đứt con đường rút lui cho sự sinh tồn và phát triển của dân tộc Trung Hoa. Cửa sông Đồ Môn Giang cũng bị Giang Trạch Dân cấp cho Nga, bịt cứng con đường truyền thống thông ra biển Nhật Bản tại Đông Bắc Trung Quốc. Phần lãnh thổ phía Bắc này về mặt địa lý là thuộc vùng thấp phía Nam của bình nguyên Siberia. Siberia tại Châu Á là bộ phận bình nguyên thấp nhất trên thế giới, đây chính là một phần trong bản đồ hình lá hải đường của Trung Hoa Dân Quốc; tuy nhiên vì bị Giang Trạch Dân bán rẻ, nó từ lãnh thổ phương Bắc của Trung Quốc tại Châu Á trở thành “vùng thấp” của nước Nga tại Châu Âu. Chi tiết xin xem Chương 14 «Câu chuyện có thật về Giang Trạch Dân».

Giới nghiêm tại Bắc Kinh

Các Thế Kỷ VI, Khổ 96

Nguyên văn tiếng Pháp:

Grand cité à soldats abandonnée,
Onc ny eut mortel tumult si proche,
O qu’elle hideuse calamité s’approche,
Fors vne offense n’y sera pardonnée.

Tiếng Anh:

Great city abandoned to the soldiers,
Never was mortal tumult so close to it:
Oh, what a hideous calamity draws near,
Except one offense nothing will be spared it.

Tiếng Việt:

Thành phố vĩ đại bị bỏ rơi cho các binh lính,
Chưa bao giờ sự hỗn loạn chết người gần đến như vậy:
Ô, một tai họa ghê tởm đang đến gần,
Ngoại trừ kẻ hoàn toàn vô can sẽ tránh được nó.

Câu đầu tiên bài thơ này là nói về lệnh giới nghiêm tại Bắc Kinh. Từ 400 năm trước đây, vào thời đại của Nostradamus vẫn chưa có từ “giới nghiêm” (Martial law), do đó ông đã dùng cách nói “bị bỏ rơi cho các binh lính”. Trong tình trạng thiết quân luật được ban bố tại Bắc Kinh, nó đã châm ngòi cho “sự hỗn loạn chết người” và “tai họa ghê tởm”. Ngày 19 tháng 5 năm 1989, ĐCSTQ ban bố lệnh giới nghiêm tại Bắc Kinh, kích thích lòng căm phẫn của gần như toàn bộ nhân dân Bắc Kinh; rất nhiều thị dân và sinh viên đồng loạt xuống đường ngăn cản quân đội tiến vào thành phố. Ngày 23 tháng 5, hàng trăm vạn người đồng loạt tiến hành đợt tuần hành thị uy lần thứ 2 tại quảng trường Thiên An Môn và Đại lộ Đông-Tây Trường An. Tuy nhiên, ý nguyện của quảng đại nhân dân vẫn không mảy may cải biến được bản tính khát máu của ĐCSTQ tà ác; huyết án ngày 4/6 khiến cả người và Trời cùng căm phẫn bắt đầu. Câu cuối bài thơ nói về lệnh giới nghiêm tại Bắc Kinh, cuộc thảm sát ngày 4/6 đi kèm với thanh tra đại quy mô để tìm ra những người có liên can, với đại bộ phận đều chịu ảnh hưởng và xung kích: “Ngoại trừ kẻ hoàn toàn vô can sẽ tránh được nó.”

Ảnh: Xe tăng đâm húc bừa bãi tại Bắc Kinh.

Bộ đội giới nghiêm lúc đầu bị ngăn trở

Các Thế Kỷ X, Khổ 68

Nguyên văn tiếng Pháp:

L’armée de mer deuant cité tiendra,
Puis partira sans faire longue allée :
Citoyens grande proye enterre prendra,
Retourner classe reprendre grande emblée.

Tiếng Anh:

The army of the sea will stand before the city,
Then it will leave without making a long passage:
A great flock of citizens will be seized on land,
Fleet to return to seize it great robbery.

Tiếng Việt:

Quân đội của biển sẽ đứng trước thành phố,
Và nó sẽ rời đi mà không xếp thành hàng dài:
Một đám đông dân chúng sẽ bị bắt trên đất liền,
Đoàn xe trở lại giành lấy thành phố như ăn cướp.

Một số bài thơ tiên tri trong «Các Thế Kỷ» có đề cập tới chữ “biển” (the sea); đây là một kiểu đố chữ về địa danh, do vậy nếu không lý giải được hàm nghĩa thì sẽ phá giải không nổi. Thực ra chữ “biển” ở đây là ám chỉ “Trung Nam Hải”, và “quân đội của biển” (The army of the sea) thực ra là quân đội ĐCSTQ. Bài thơ này miêu tả ngay sau khi ĐCSTQ tuyên bố giới nghiêm thì thị dân và sinh viên Bắc Kinh đã ngăn cản quân đội tiến vào thành phố; họ đã thiết lập rất nhiều vật chướng ngại tại nhiều nút giao thông then chốt vào nội thành Bắc Kinh, và với vật chướng ngại trước mặt, xe quân đội phải xếp thành hàng dài để tiến vào. Tuy nhiên, đoàn xe lại lọt vào vòng bao vây của thị dân và sinh viên Bắc Kinh nên buộc lòng phải rút lui. Đây chính là “Quân đội của biển sẽ đứng trước thành phố, Và nó sẽ rời đi mà không xếp thành hàng dài”.

Tư liệu trên mạng «Quân đoàn 27 chấp hành nhiệm vụ giới nghiêm Bắc Kinh» ghi lại như sau: “9 giờ ngày 20 tháng 5, tập đoàn quân chấp hành lệnh giới nghiêm lập tức tiến về Thiên An Môn. 10 giờ ngày 20 tháng 5, sư đoàn 80 men theo đường cầu Lô Thành, Lô Kiều tiến quân; lúc 11 giờ 30 phút đến Nha Môn Khẩu; bộ phận chủ lực của tập đoàn quân nhận lệnh tiến gấp theo đường Ngọc Tuyền, bị đám nhân quần bao vây phân cắt làm vô số đoạn, buộc phải trở về phía Tây Nam Nha Môn Khẩu. Sở chỉ huy tập đoàn quân và sư đoàn 80 tấn tốc cải biến phương thức tiến quân, thay hành quân dùng động cơ bằng đi bộ xung kích, nhưng lại bị ngăn chặn. Đội hậu cần 43 của sư đoàn 80 bị vây khốn tại Học viện Kỹ thuật Thiết giáp; đoàn 240 và 1 tiểu đoàn bị ngăn cản tại phía Nam cầu Lô Câu; 1.700 cán bộ chiến sĩ của 149 xe thuộc sư đoàn 79 cũng gặp trở ngại; bộ đội giới nghiêm của tập đoàn quân trước sau đều bị nhân quần bao vây, tiến lùi không xong. Theo mệnh lệnh của quân khu Bắc Kinh, để tránh tình hình dẫn tới đổ máu, bộ đội tạm hoãn tiến vào thành phố, rút lui về điểm tập kết ban đầu đợi lệnh. Sáng ngày 23 tháng 5, bộ đội của tập đoàn quân bị ngăn trở đã toàn bộ trở về điểm tập kết.” Điều này nói lên rằng lúc ấy quân đội ĐCSTQ thực sự bị bức bách phải rút lui như đúng lời tiên tri nói.

Câu thứ ba của bài thơ nói rằng sau lệnh giới nghiêm, trước ngày 4/6, cảnh sát ĐCSTQ các nơi bắt đầu bí mật bắt các nhân sĩ vận động; sau ngày 6/4 “một đám đông dân chúng” bị bắt là đã rõ. Tại Bắc Kinh, quân đội và cảnh sát ĐCSTQ áp dụng chiến thuật bộ đội mặc thường phục chui vào nội thành, dẹp sạch chướng ngại trên đường, tạo ra hỗn loạn và bắt giữ dân thường. Câu thứ tư chính là nói đoàn xe tăng của ĐCSTQ lại một lần nữa tiến vào nội thành Bắc Kinh; lần này họ chèn luôn những người cản đường, giống như đám quỷ sứ “tiến vào như ăn cướp”. Chữ “fleet” trong bản tiếng Anh hàm ý “hạm đội”, nhưng phương Tây hiện đại dùng để chỉ “xa đội”.

Ảnh: Ngăn trở đoàn xe quân đội.

Ảnh: Vương Duy Lâm chặn xe tăng.

Ảnh: Mặt đối mặt.

Thảm sát ngày 4/6, máu chảy thành sông

Các Thế Kỷ IX, Khổ 96

Nguyên văn tiếng Pháp:

Dans cité entrer exercit desniée,
Duc entrera par persuasion,
Aux foibles portes clam armée amenée,
Mettront feu, mort, de sang effusion.

Tiếng Anh:

The army denied entry to the city,
The Duke will enter through persuasion:
The army led secretly to the weak gates,
They will put it to fire and sword, effusion of blood.

Tiếng Việt:

Quân đội bị từ chối lối vào thành phố,
Công tước sẽ tiến vào thông qua thuyết phục:
Quân đội bí mật đến những chiếc cổng yếu ớt,
Họ sẽ khiến nó chìm trong lửa, gươm, và máu.

Bài thơ tiên tri này miêu tả quá trình gây ra cuộc thảm sát ngày 4/6. Tháng 5 năm 1989, ĐCSTQ ban bố lệnh giới nghiêm tại Bắc Kinh, điều động hàng chục vạn quân đội từ nơi khác đến trấn áp sinh viên và thị dân không một tấc sắt trong tay; và bởi vì quảng đại sinh viên và thị dân Bắc Kinh thiết lập các vật chướng ngại trên đường vào Bắc Kinh, bao vây và thuyết phục binh lính nhận lệnh giới nghiêm, nên “Quân đội bị từ chối lối vào thành phố”. Lúc này, Thủ tướng Lý Bằng thông qua các chủng phương thức “khuyên giải” và ra mệnh lệnh để sinh viên và thị dân Bắc Kinh phục tùng lệnh giới nghiêm của ĐCSTQ, ví dụ: Ngày 21 tháng 5, trên quảng trường Thiên An Môn xuất hiện một số máy bay trực thăng quân đội, bay vòng vòng và rải rất nhiều truyền đơn của Lý Bằng; đây chính là tình huống được nhắc đến ở câu thơ thứ hai. Buổi tối ngày mùng 2 và mùng 3 tháng 6, một lượng lớn bộ đội giới nghiêm của ĐCSTQ chia ra thành tốp nhỏ, mặc thường phục, bí mật tập kết tại các địa điểm “trọng yếu” như Đại Lễ đường Nhân dân, nhà ga, khu vực các cơ quan chính phủ và quân sự; đây chính là tình huống được nói đến trong câu thơ thứ ba. “Những chiếc cổng yếu ớt” là cách nói hình tượng của những chiếc cổng thành cổ trên đường phố Bắc Kinh, ví dụ quân đoàn 27 ban đêm bí mật tiến quân theo tuyến “Quảng An môn ngoại, Tuyên Vũ môn, Hòa Bình môn, Châu Thị khẩu”, v.v.

Câu cuối cùng bài thơ tiên tri đã minh họa độ thê thảm của tình huống chân thực: “Đốt giết hàng loạt, máu chảy thành sông”. Rạng sáng ngày mùng 4 tháng 6 năm 1989, trên quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh, tại Đại lộ Đông-Tây Trường An, và tại các địa điểm khác trong nội thành Bắc Kinh, tiếng súng quân đội ĐCSTQ xé toang màn đêm; một cuộc thảm sát đẫm máu đã bắt đầu, hàng ngàn sinh viên và thị dân vô tội đã bị thiệt mạng dưới làn đạn, xe tăng và xe bọc thép của ĐCSTQ tà ác…

Ảnh: Thảm sát.

Ảnh: Thảm sát.

Ảnh: Thảm sát.

Ảnh: Người bị thương.

Ảnh: Người bị thương.

Ảnh: Người bị thương.

Sự thật cuộc thảm sát trên quảng trường và những bà mẹ Thiên An Môn “mộng tưởng”

Các Thế Kỷ I, Khổ 41

Nguyên văn tiếng Pháp:

Siege en Cité & de nuict assaillie
Peu eschappez non loing de mer conflit,
Femme de ioye, retours fils defaillie,
Poison & lettte cachée dans le olic.

Tiếng Anh:

The city is besieged and assaulted by night;
few have escaped; a battle not far from the sea.
A woman faints with joy at the return of her son,
poison in the folds of the hidden letters.

Tiếng Việt:

Thành phố bị bao vây và đột kích trong đêm;
Rất ít người chạy thoát; một trận chiến cách biển không xa.
Một bà mẹ ngất xỉu vì vui mừng khi con trai trở về,
Chất độc trong túi chứa các bức thư được bí mật tàng trữ.

Bài thơ tiên tri này tiếp tục nói về sự tàn khốc trong cuộc thảm sát ngày 4/6: Câu đầu tiên nói về Bắc Kinh bị bộ đội giới nghiêm vây chặt; cuộc thảm sát đẫm máu trong bóng đêm từ ngày mùng 3 tháng 6 đến ngày mùng 4 tháng 6 bắt đầu. Câu thơ thứ hai “một trận chiến cách biển không xa” là chỉ cuộc thảm sát diễn ra tại quảng trường Thiên An Môn cách Trung Nam Hải không xa, mà “Rất ít người chạy thoát” cho thấy cuối cùng tuyệt đại đa số sinh viên và thị dân trên quảng trường Thiên An Môn bị ĐCSTQ sát hại thảm khốc. Đây chính là tình huống chân thực phát sinh tại quảng trường Thiên An Môn, và cho dù ĐCSTQ che đậy sự thật đẫm máu như thế nào đi chăng nữa, thì cũng không qua khỏi ông Trời có mắt; Thần đã sớm dùng bút ghi lại nợ máu này.

Câu thơ thứ ba “Một bà mẹ ngất xỉu vì vui mừng khi con trai trở về”, ám chỉ trong cuộc thảm sát ngày 4/6, rất nhiều bà mẹ bị mất đi con trai mình, và cũng bổ sung cho câu trên “Rất ít người chạy thoát”. Người Trung Quốc có câu ngạn ngữ “người tóc bạc đưa tiễn người tóc đen”, thế nhưng các sinh viên bị thảm sát tại quảng trường Thiên An Môn đều bị hủy xác để xóa dấu vết. Câu nói “những bà mẹ Thiên An Môn” và “Một bà mẹ ngất xỉu vì vui mừng khi con trai trở về” đã cho thấy tình cảnh này chỉ có thể phát sinh trong mộng mà thôi.

Câu thơ thứ tư càng thêm đặc sắc, nói rõ rằng những ai tham gia vào đám đông sinh viên và thị dân ngày 4/6 sau đó bị ĐCSTQ thanh tra đại quy mô: “những cái túi chứa các bức thư được bí mật tàng trữ” ở đây chính là ĐCSTQ lập “hồ sơ cá nhân” cho từng người và bí mật cất giữ chúng; trong mỗi hồ sơ này là “kết luận thẩm tra chính trị” của những cá nhân “tham gia cuộc động loạn Lục Tứ phản cách mạng”; cũng được ví như thuốc độc vậy, ảnh hưởng đến suốt đời cá nhân sống trong xã hội chuyên chế của ĐCSTQ.

Dịch từ:

http://zhengjian.org/zj/articles/2007/12/11/49718.html


Ngày đăng: 29-04-2011