Tận giải «Các Thế Kỷ» của Nostradamus (3): Mục đích dự ngôn



Tác giả: Lực Thiên Quân

[Chanhkien.org] Giới thiệu:

2. Mục đích của dự ngôn «Các Thế Kỷ» là truyền khải thị của Thần

Nói chung, trong lịch sử nhân loại, rất nhiều lời tiên tri xuất hiện là mang theo khải thị của Thần, nhờ đó khởi tác dụng về những phương diện sau:

Thứ nhất là thể hiện rằng sự hưng suy trong lịch sử đều là Thiên định, khiến con người cảm nhận được sự tồn tại thực sự của Thần, rằng chính là Thần khống chế sự phát triển của vạn sự vạn vật. Thứ hai là thông qua các chủng tai nạn trong quá khứ và tương lai để cảnh tỉnh con người rằng “Thiện ác hữu báo”. Thứ ba là hy vọng con người nhờ lý giải những dự ngôn ấy mà phân biệt rõ Thiện-ác, thuận theo Thiên Ý, có thể thoát khỏi tai nạn và trở về. Thực ra sự phát triển trong lịch sử là đi theo một phương hướng nhất định đã được định trước và không có sai lệch.

Ví dụ, sách «Khải Huyền» của «Thánh Kinh» thông qua Đại Thẩm phán Tối hậu của Đức Chúa Trời để cảnh báo nhân loại rằng Thiện ác tất sẽ có báo ứng, từ đó khuyên bảo con người bỏ ác theo Thiện. Tuy nhiên, trong thời kỳ lịch sử đặc thù này, nhất là khi Đại Thẩm phán sắp đến, sau khi trận chiến tối hậu Armageddon giữa Thiện và ác kết thúc, Thần hy vọng rằng con người có thể chiểu theo khải thị trong «Khải Huyền» mà nhận rõ con thú tà ác và dấu ấn của nó, từ đó xóa sạch dấu vết con thú, phân rõ chính nghĩa và tà ác, gia nhập hàng ngũ chính nghĩa đánh bại tà ác để rồi xứng đáng nhận ấn ký lên thiên quốc.

Nostradamus đã nhiều lần đề cập rằng lời tiên tri của ông cần bảo trì sự thống nhất với các kinh điển của «Thánh Kinh» (harmonized with the Holy Scriptures); thực ra các lời tiên tri trong «Các Thế Kỷ» không chỉ nhất trí với «Thánh Kinh», mà còn nhất trí với các dự ngôn cổ đại Trung Quốc như «Mã Tiền Khóa», «Thiêu Bính Ca», «Mai Hoa Thi», v.v. thậm chí mật mã thời gian cũng đều giống nhau. Ở một phương diện khác, «Các Thế Kỷ» miêu tả rất phong phú các sự kiện lớn trong lịch sử, và việc phá giải dự ngôn này sẽ hỗ tìm ra đáp án cho các dự ngôn khác; ví dụ nhiều vấn đề trong «Khải Huyền» đều có thể tìm đáp án trong «Các Thế Kỷ». Những lời tiên tri trong «Các Thế Kỷ» còn chịu ảnh hưởng của văn hóa Maya và những tiên tri về tương lai. Từ những đặc điểm này, «Các Thế Kỷ» có thể được coi là một bộ sách vĩ đại siêu việt cả Trung Quốc lẫn phương Tây, tự cổ chí kim, tung hoành Trời Đất, triển hiện đầy đủ lịch sử xã hội nhân loại thời mạt pháp.

Trong lịch sử nhân loại, cứ cách một thời gian nhất định thì lại xuất hiện một kiếp nạn, ví dụ Đại Thế chiến II cướp đi sinh mạng của 60 triệu người, sự thống trị tàn bạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) khiến hơn 80 triệu người chết, v.v. Những điều này đều được miêu tả chi tiết trong «Các Thế Kỷ», tuy nhiên nói về đại kiếp nạn trong tương lai của nhân loại thì có tương đối ít. Sách «Khải Huyền» của «Thánh Kinh» viết: “Kìa, tôi thấy một con ngựa lam, và người cưỡi ngựa có tên là Tử Thần; cũng có Âm Phủ đi theo sau hắn. Chúng được ban cho quyền hành trên một phần tư Trái đất, để giết hại người ta bằng gươm đao, nạn đói, ôn dịch, và thú dữ trên đất.” (Khải Huyền, 6-8); “Vậy bốn thiên sứ ấy, vốn được chuẩn bị sẵn cho giờ, ngày, tháng, và năm, được thả ra để tiêu diệt một phần ba nhân loại.” (Khải Huyền, 9-15), v.v. đều là nói về đại kiếp nạn của nhân loại, có khả năng đào thải một lượng lớn người, những con số ở đây đều là vô cùng đáng sợ.

Trong bức thư gửi Vua Henry II của Pháp, Nostradamus đã có một đoạn đề cập đến “due time”, có nghĩa là “khi đến lúc”. Ông viết:

Nó rất giống với soi trong một tấm gương đang cháy, với khói mờ mịt, những sự kiện vĩ đại, bi thảm, phi thường và tai họa mà khi đến lúc sẽ xảy đến với những người tôn sùng tín ngưỡng chủ yếu. Trước tiên, gặp nạn sẽ là các Thánh điện của Thần, và sau đó là những sinh linh sa đọa trên mặt đất. Cũng còn một ngàn sự kiện tai họa khác sẽ được biết đến là phát sinh khi đến lúc.”

Từ đó chúng ta có thể thấy rằng, những tai nạn lớn khi đến lúc sẽ bắt đầu với việc tín ngưỡng thần thánh bị đả kích, kế đến là những người sa đọa gặp nạn; như vậy “tín ngưỡng thần thánh” ở đây là gì? Khi ấy, những sinh mệnh phải xa rời “sự sa đọa” như thế nào để được miễn tai nạn? Những vấn đề này đều phải thông qua phá giải «Các Thế Kỷ» để tìm ra đáp án.

Đối với tiên tri về tương lai, «Các Thế Kỷ» không chỉ lưu lại cho xã hội nhân loại trên một diện tầng thứ, mà còn liên quan đến các sinh mệnh ở tầng thứ cao, liên quan đến sự vận động của thiên thể, thậm chí căn bản của vũ trụ và thế giới này. Ví dụ, Nostradamus đề cập đến “sự thống trị của Mặt trăng” và “số bảy vĩ đại” như sau:

Sự thống trị của Mặt trăng và khả năng kết thúc nền văn minh nhân loại

Các Thế Kỷ I, Khổ 48

Nguyên văn tiếng Pháp:

Vingt ans du regne de la Lune passez,
Sept mil ans autre tiendra sa Monarchie :
Quand le Soleil prendra ses iours lassez,
Lors accomplit & mine ma prophetie.

Tiếng Anh:

When twenty years of the Moon’s reign have passed
another will take up his reign for seven thousand years.
When the exhausted Sun takes up his cycle
then my prophecy and threats will be accomplished.

Tiếng Việt:

Khi hai mươi năm sự thống trị của Mặt trăng qua đi
Một vật thể khác sẽ tiếp nhận sự thống trị trong bảy ngàn năm.
Khi Mặt trời đã mệt mỏi rã rời tiếp tục chu kỳ vận chuyển
Là lúc lời tiên tri và đe dọa này đi đến hồi kết.

Bài thơ nói rằng sau khi sự thống trị của Mặt trăng trải qua 20 năm, Mặt trời sẽ tiếp tục sự vận chuyển, đến lúc ấy hết thảy tiên tri trong «Các Thế Kỷ» và lời cảnh tỉnh đối với nhân loại sẽ kết thúc. Đây quả là một viễn cảnh đáng sợ đối với nhân loại, và nếu không xử lý tốt thì quả là nguy hiểm. Từ bề mặt chữ mà xét thì “sự thống trị của Mặt trăng” chính là cảnh tượng đêm đen của nhân loại, là hai thập niên đêm đen dài đằng đẵng; xã hội nhân loại có khả năng là bị một loại thế lực tà ác không chế tại một mức độ nhất định, và nếu như nhân loại không thể nhận rõ và chiến thắng chủng tà ác này, thì đêm dài sẽ thành vĩnh viễn, Mặt trời sẽ không thể mọc lên được nữa, nhân loại tiến tới diệt vong. Với trận đại chiến giữa Chính và tà này thì trong «Khải Huyền» của «Thánh Kinh» đã đề cập đến rồi, đây chính là trận chiến tối hậu Armageddon. Những ai từng đọc qua tiên tri của người Maya cũng thấy có cách nói tương tự: Địa cầu tại chu kỳ Mặt trời thứ 5 có khả năng tiến tới kết cục diệt vong hoàn toàn, khi ấy có thể phát sinh tan biến Mặt trời, Địa cầu bắt đầu rung lắc mạnh; mà chúng ta chính đang ở tại thời mạt của chu kỳ Mặt trời thứ 5, căn cứ theo lịch pháp Maya, thì thời gian cuối cùng là tháng 12 năm 2012, đã hết sức gần rồi.

Tuy nhiên, tôi nói với mọi người rằng, đêm đen cuối cùng không thể chiến thắng quang minh, nhưng thời gian không còn nhiều, và nếu chúng ta nhờ lời tiên tri trong «Các Thế Kỷ» mà đứng về phía lực lượng chính nghĩa để khuất phục thế lực tà ác, thì nhân loại sẽ nghênh đón một tương lai tươi sáng.

Sự tuần hoàn của con số “7” vĩ đại và thời gian đại đào thải

Các Thế Kỷ X, Khổ 74

Nguyên văn tiếng Pháp:

Au reuolu du grand nombre septiesme,
Apparoistra au temps ieux d’Hecatombe,
Non esloigné du grand eage milliesme,
Que les entrez sortiront de leur tombe.

Tiếng Anh:

The great seventh number’s revolution,
It will appear a time of the year for hecatomb,
Not far from the great millennial age,
When those can enter will leave the tomb.

Tiếng Việt:

Sự tuần hoàn của con số bảy vĩ đại
Nó sẽ xuất hiện trong năm đại đào thải
Cách không xa thiên niên kỷ vĩ đại
Khi những ai có thể đi vào sẽ rời ngôi mộ

Ở đây phần phiên dịch tiếng Anh là rất trọng yếu. Thường người ta dịch chữ “Hecatombe” trong tiếng Pháp ra tiếng Anh thành “Slaughter”, kết quả mang nghĩa một trận “đại tàn sát”. Thực ra trong nguyên văn tiếng Pháp, hai chữ “tombe” và “Hecatombe” là có quan hệ, do đó “Hecatombe” nên dịch sang tiếng Anh là “hecatomb”, chỉ một cuộc tế tự vật hy sinh quy mô lớn. Tuy nhiên ở đây chúng tôi dịch thành “đại đào thải”, là vì đợt đại tàn sát quy mô lớn trong Chiến tranh Thế giới thứ III đã được Sư phụ của Pháp Luân Đại Pháp hóa giải rồi (sẽ nói rõ sau), nhưng đại đào thải thì vẫn tồn tại. Như vậy, “rời ngôi mộ” trong câu số 4 là chỉ sự thoát khỏi đại đào thải, chính là những người “có thể tiến nhập vào vị lai”.

Đọc đến bài tiên tri này, các bạn có thể hỏi: “Sự tuần hoàn của con số bảy vĩ đại” là gì? Vào lúc đại đào thải, những người như thế nào sẽ bị đào thải? Có thể tiến nhập vào vị lai như thế nào? Bởi vì “Cách không xa thiên niên kỷ vĩ đại”, cũng chính là cách không xa năm 2000, như vậy hiện tại khả năng đã là rất gần rồi. Tôi cho rằng khi độc giả đọc hết bài viết này thì sẽ có đáp án.

Sự bại hoại của con người là nguyên nhân trọng yếu nhất của thiên tai

Các Thế Kỷ II, Khổ 46

Nguyên văn tiếng Pháp:

Apres grâd trouble humain plus grâd s’appreste,
Le grand moteur les siecles renouuelle,
Pluye, sang, laict, famine, feu & peste :
Au ciel veu feu, courant longue estincelle.

Tiếng Anh:

After great trouble for humanity, a greater one is prepared
The Great Mover renews the ages:
Rain, blood, milk, famine, steel and plague,
Is the heavens fire seen, a long spark running.

Tiếng Việt:

Sau rắc rối lớn với lòng nhân đạo, một điều lớn hơn đã được chuẩn bị
Động lực vĩ đại làm mới các thời đại:
Mưa, máu, sữa, nạn đói, thép và bệnh dịch,
Hãy nhìn xem lửa của Thiên Đường, ánh lửa dài lóe sáng.

Tai nạn thời mạt thế đều là do sai lầm và tội lỗi của con người mà dẫn đến. Tập đoàn tà ác đã tạo nên những thảm họa nhân đạo lớn cho loài người, nhưng họ lại không tin có báo ứng của Thần; tuy nhiên, Thần sẽ nhân gấp bội những tai nạn báo ứng lên đầu họ. Nếu đại bộ phận nhân loại vẫn làm ngơ trước những tội ác này, thì làm sao gọi là “nhân đạo” đây? Không nói đâu xa, hãy nhìn xem con người thế giới, họ phản ứng thế nào với “tội ác mổ cắp nội tạng từ các học viên Pháp Luân Công” “tà ác chưa có tiền lệ”? Liệu bao nhiêu người có thể bước ra lên tiếng vì công lý? Trước khi tai họa giáng xuống thì nhân loại luôn có các bậc hiền giả cứu thế đứng ra kêu gọi: Hỡi con người, các bạn nhất định phải phân biệt rõ Thiện-ác; các Thánh đồ đã hy sinh máu của mình chỉ để thức tỉnh lương tri nhân loại. Kỳ thực Thần Phật từ bi không đặt ra tiêu chuẩn quá cao, chỉ cần con người có thể biết “nhân đạo”, còn có lương tri, thì sẽ không lựa chọn sai lầm; vậy mà không ít người vẫn chọn đi theo cái ác. Khi con người mất đi tính “nhân đạo” của chính mình, thì chính là họ đã tự chọn tiến tới diệt vong; lúc ấy, hồng thủy, chiến loạn, nổ hạt nhân, nhiễm phóng xạ, nạn đói và ôn dịch, v.v. tất cả các loại tai nạn sẽ cùng giáng xuống.

Các quốc gia Tây phương tầm nhìn hạn hẹp, không thấy thời kỳ tối hậu của thế giới đã đến

Các Thế Kỷ III, Khổ 92

Nguyên văn tiếng Pháp:

Le monde proche du dernier periode,
Saturne encor tard sera de retour :
Translat empire nation Brodde :
L’œil arraché à Narbon par autour.

Tiếng Anh:

The world near the last period,
Saturn will come back again late:
Empire transferred towards the Dusky nation,
The eye plucked out by the Goshawk at Narbonne.

Tiếng Việt:

Thế giới gần chu kỳ cuối cùng,
Thổ tinh sẽ quay trở lại muộn:
Đế chế chuyển hướng về quốc gia tối tăm,
Con mắt bị mù lòa của Goshawk tại Narbonne.

Khi thế giới đến thời kỳ cuối cùng, các chủng tai nạn sẽ đồng thời xuất hiện. Trong thời đại của Nostradamus, Thổ tinh là sao tai nạn lớn nhất, bởi vì đương thời Diêm Vương tinh, Hải Vương tinh, và Thiên Vương tinh vẫn chưa được phát hiện. Trong bài thơ này, Thổ tinh, theo một ý nghĩa nhất định, là đại biểu cho tai nạn trong thời kỳ cuối cùng, mà nguyên nhân đầu tiên là Đế chế Pháp và La Mã hướng về nơi tối tăm. Ở đây chỉ mấy nước chủ yếu ở phương Tây không thể nhận rõ chính quyền tà ác, mà lại hướng về đó. Chúng ta thấy hiện nay một số chính phủ quốc gia và tập đoàn Tây phương vì lợi ích chính trị và kinh tế mà làm ngơ trước các loại tội ác của chính quyền ĐCSTQ tà ác, ngược lại lại lấy lòng chính quyền đó. Trong đó, chính phủ Pháp là chính quyền thân ĐCSTQ nhất tại Châu Âu; trong bài thơ này đề cập đến một thành thị của nước Pháp (thị trấn Narbonne, thuộc tỉnh Aude). Câu thơ thứ hai “Thổ tinh sẽ quay trở lại muộn” là nói về năm 2000, năm Thổ (Canh Thìn), ngay sau năm 1999. Ở đây liên quan đến hệ thống mật mã thời gian trong «Các Thế Kỷ», sẽ được trình bày chi tiết trong một chương mục. Câu thơ thứ tư, “Con mắt bị mù lòa của Goshawk tại Narbonne”, là Thượng Đế Toàn Năng thông qua lời tiên tri này để cảnh tỉnh các quốc gia và công ty Tây phương, đặc biệt sau năm 1999 rằng: Họ bị mù hay sao? Không phân biệt được Thiện-ác ư? Làm sao có thể để tiếp tục như vậy đây?

Các tôn giáo chứng kiến nhưng không quan tâm một tín ngưỡng khác bị tà ác bức hại

Các Thế Kỷ I, Khổ 53

Nguyên văn tiếng Pháp:

Las qu’on verra grand peuple tourmenté,
Et la Loy saincte en totale ruyne,
Par autres loix toute la Chrestienté,
Quand d’or, d’argent trouue nouulelle mine.

Tiếng Anh:

Alas, how we will see a great nation sorely troubled
and the holy law in utter ruin.
Christianity (governed) throughout by other laws,
when a new source of gold and silver is discovered.

Tiếng Việt:

Ôi, sao chúng ta có thể nhìn một quốc gia vĩ đại chịu nạn
Và Pháp thần thánh trong sự hủy diệt hoàn toàn.
Cơ Đốc giáo (bị thống trị) toàn diện bởi những pháp khác,
Khi một nguồn vàng bạc mới được khám phá.

Trước đây, lời tiên tri này được giải thích là trước cải cách tôn giáo ở Châu Âu, Thiên Chúa giáo và Tin Lành phát sinh đấu tranh và bức hại lẫn nhau, hoặc chính phủ thế tục thủ tiêu đặc quyền tôn giáo, v.v. Thực ra là không chính xác, bởi vì trong lịch sử không tồn tại Pháp nào trong Cơ Đốc giáo, hoặc vấn đề “hủy diệt” «Thánh Kinh». Câu đầu tiên của bài thơ này nói rất rõ, rằng sự kiện bức hại này phát sinh tại một quốc gia to lớn, ngoài ra nếu một quốc gia nào đó bức hại Cơ Đốc giáo thì không có khả năng Cơ Đốc giáo hoàn toàn bị thống trị. Ở đây chỉ có thể là chỉ sự kiện bức hại “Pháp Luân Đại Pháp”, một môn tu luyện phổ biến tại Trung Quốc. Sự bức hại của ĐCSTQ đối với Pháp Luân Công tại Trung Quốc Đại Lục là cực kỳ tà ác. Đối với cuộc bức hại này, các quốc gia và người dân Tây phương lúc đầu khá lạ lẫm; nhưng nhờ các học viên Pháp Luân Công không ngừng giảng rõ chân tướng bức hại, nên rất nhiều người lương thiện và các đoàn thể, chính phủ Tây phương đã lên án cuộc bức hại của ĐCSTQ, trong đó bao gồm cả các đoàn thể và giáo đồ Cơ Đốc giáo lương thiện. Tuy nhiên, nhìn chung cộng đồng Cơ Đốc giáo đối với cuộc bức hại Pháp Luân Công của ĐCSTQ chỉ có thái độ quan sát và xem chừng. Thực ra rất nhiều tôn giáo và môn phái trên thế giới đều không quan tâm đến sự bức hại tà ác đối với tôn giáo khác. Loại thái độ này sẽ ảnh hưởng xấu đến vận mệnh cuối cùng của toàn nhân loại. Đức Chúa Toàn Năng như muốn nói với chúng ta rằng: “Hãy xem một quốc gia chịu khổ nạn lớn như vậy, hãy xem Pháp thần thánh đang bị hủy diệt”. Bất cứ chính tín, chính giáo nào cũng không nên làm ngơ trước cuộc bức hại Pháp Luân Công của ĐCSTQ.

Câu cuối cùng bài thơ tiên tri này là chỉ trong cuộc bức Pháp Luân Công, ĐCSTQ đã huy động một lượng tài nguyên cực lớn, và ngoài kim tiền ra, còn dùng tất cả cơ cấu chính phủ, bộ máy tuyên truyền, ngoại giao, các hiệp hội tôn giáo, “giáo hội ái quốc”, v.v. để vu khống và bức hại Pháp Luân Công.

Các vị Thần ở một tầng thứ và thể hệ nhất định lúc đầu làm ngơ trước “tội ác tại Đông phương”

Các Thế Kỷ IV, Khổ 50

Tiếng Pháp:

Libra verra regner les Hesperies,
De ciel & terre tenir la Monarchie,
D’Asie forces nul ne verra peries.
Que sept ne tiennent par rang la Hierarchie.

Tiếng Anh:

Libra will see the Hesperias govern,
Holding the monarchy of heaven and earth:
No one will see the forces of Asia perished,
Only seven hold the hierarchy in order.

Tiếng Việt:

Chòm sao Thiên Xứng sẽ thấy những người Hesperia thống trị,
Giữ vững chế độ quân chủ của Trời và Đất:
Không ai sẽ thấy các thế lực Châu Á diệt vong,
Chỉ có số bảy giữ trật tự của chế độ quân chủ.

Trong lời nói đầu tôi đã nói qua: Các lời tiên tri trong «Các Thế Kỷ» đối với những sự kiện lịch sử thì miêu tả từ các giác độ, thậm chí các tầng thứ khác nhau. “Bất đồng tầng thứ” ở đây bao gồm cả các vị Thần ở các tầng thứ và thể hệ nhất định trong vũ trụ, ấy là bởi vì Thần khải trong «Các Thế Kỷ» đến từ vị Thần tối cao, tức Thượng Đế Toàn Năng (Almighty God). Như vậy, Thượng Đế Toàn Năng đến từ đâu, Nostradamus đã đề cập trong bức thư gửi con trai ông như sau:

“Trong đại khung của tầng thiên thể thứ tám, một không gian nơi Thượng Đế Toàn Năng sẽ hoàn thành sự chuyển hóa, và nơi mà các chòm sao sẽ tiếp tục sự vận chuyển của mình, nhờ đó khiến Địa cầu ổn định và vững chắc, nhưng chỉ khi Ngài vẫn vĩnh viễn bất biến cho đến khi Ngài làm xong.”

Đoạn trên người bình thường rất khó lý giải, nhưng đối với học viên Pháp Luân Công mà nói thì nhìn một cái là rõ ngay, bởi vì Sư phụ của Đại Pháp đã giảng rằng: “… bởi vì một phạm vi rất to lớn của Thiên Thể đã lệch khỏi đặc tính vũ trụ nên mới Chính Pháp.” (“Cảnh tỉnh, «Tinh Tấn Yếu Chỉ»). Ở đây Nostradamus đã truyền đạt khải thị của Thần như sau: Tại thương khung, Thượng Đế Toàn Năng sẽ hoàn thành sự chuyển biến này, tất cả các chòm sao sẽ được an bài lại mới sự vận hành, đây chẳng phải là quy chính hết thảy thương khung hay sao? Sư phụ của Đại Pháp đã có bài thơ “Chính Đại Khung” vào năm 2001 như sau:

Chính Đại Khung

Tà ác sính kỷ thời.
Tận hiển chúng sinh chí.
Thử kiếp thùy tại ngoại.
Tiếu khán chúng Thần si.

Diễn nghĩa:

Chính Đại Khung

Tà ác khoe khoang đến lúc nào.
Ý chí của chúng sinh đều thể hiện tường tận.
Kiếp này không ai được thoát khỏi.
Mỉm cười mà xem các vị Thần mơ ước vớ vẩn.

Chòm sao Thiên Xứng (Libra) chi phối Tây phương, là nói thế giới Tây phương được khống chế bởi các vị Thần đại biểu cho sự công bình và chính nghĩa; họ là thần linh tại một tầng thứ nhất định quản lý con người thế gian, khống chế các vị Vua trong Trời Đất. Theo chiêm tinh học, chòm sao Thiên Xứng là cung thứ bảy của Hoàng Đạo, sao bảo vệ là Kim tinh, Thần bảo vệ là Nữ thần Chính nghĩa và Thần Tình ái. Ở đây cung thứ bảy của Hoàng Đạo được đề cập tại câu cuối cùng của bài thơ là có quan hệ với “Sự tuần hoàn của con số bảy vĩ đại” (trong Các Thế Kỷ X, Khổ 74); vậy có thể thấy các vị Thần đại biểu cho sự công bình và chính nghĩa không hề chú ý tới thế lực tội ác tại Châu Á, cho rằng không có quan hệ gì đến họ, là sự việc của phương Đông, kết quả tạo thành nguy cơ tiến tới hủy diệt của thế giới, và cuối cùng chính bản thân họ cũng nằm trong kiếp nạn này. Thượng Đế Toàn Năng tại đây đã khải thị cho chúng ta rằng: Nhất định phải lưu tâm đến thế lực tội ác tại Đông phương, phải đấu tranh với chúng, mới có thể bảo vệ thế giới và vị lai.

Từ những bài thơ tiên tri này, chúng ta có thể thấy rằng trước khi tai nạn tối hậu thời mạt thế tới, Thượng Đế Toàn Năng (Almighty God), vị Thần tối cao của vũ trụ, đã thấy trước trạng thái không phân biệt rõ Thiện-ác của các chúng sinh trên Địa cầu, khiến họ nằm trong nguy hiểm bị đào thải: Một số lượng rất lớn con người thế gian vì bận rộn với lợi ích thiết thân nên không thể dùng tiêu chuẩn “nhân đạo” chân chính để phân biệt các lực lượng Chính-tà; rất nhiều các quốc gia, chính phủ, tập đoàn công ty lãnh đạm trước sự bức hại tín ngưỡng chính nghĩa, vì lợi ích của mình mà lấy lòng chính quyền tà ác; các chủng tôn giáo chỉ chú trọng đến sự phát triển của mình, đối với sự bức hại tín ngưỡng khác thì không thèm quan tâm; thậm chí các vị Thần tại một tầng thứ nhất định trong vũ trụ cũng làm ngơ trước tập đoàn tà ác ĐCSTQ, đẩy thế giới và vị lai đến bờ diệt vong, khiến tà ác bức hại Pháp Luân Công càng thêm trầm trọng.

Chính vì thế, Thượng Đế Toàn Năng đã cấp dự ngôn «Các Thế Kỷ» cho nhân loại, để khuyên răn con người thế gian, hy vọng họ có thể thấy rõ chân tướng trong lịch sử và ở tương lai, chớ có tiếp tục phạm sai lầm, đừng nằm trong số bị đào thải lúc cuối cùng.

Sau khi phá giải dự ngôn «Các Thế Kỷ», tôi đã hối tiếc khi không làm nó sớm hơn, bởi vì đại đào thải tối hậu của nhân loại đã thực sự đến rất gần rồi. Nhờ “Phật ân hạo đãng” của Pháp Luân Thánh Vương đối với vũ trụ và nhân loại, nhờ các đệ tử Đại Pháp trợ Sư Chính Pháp trong suốt những năm qua, Chính Pháp vũ trụ là tất thành, sự hủy diệt của thế giới và nhân loại đã được cứu vãn. Trận đại chiến Armageddon tối hậu giữa Chính và tà đã có kết cục rõ ràng, tuy nhiên vẫn chưa kết thúc; chúng sinh trên Địa cầu vẫn còn cơ hội tự mình gia nhập phe chính nghĩa; những người bị ĐCSTQ tà ác ấn ký, nếu như có thể thanh tỉnh, thì vẫn còn cơ hội xóa bỏ dấu vết con thú. Như vậy, dù tai nạn đã định trong lịch sử vẫn sẽ tới nhưng tổn thất và số người bị đào thải đã có thể được giảm thiểu, con người vẫn còn cơ hội được cứu vãn. Tuy nhiên, thời gian và cơ hội đã càng ngày càng ít đi.

Hỡi các bạn, xin hãy trân quý cơ hội cuối cùng này!

Bây giờ, chúng ta hãy bắt đầu tìm kiếm chân tướng của lịch sử và tương lai trong dự ngôn «Các Thế Kỷ», cuốn sách vĩ đại mà Thần cấp cho nhân loại. Trước hết, xin các bạn lắng nghe lời ca của đệ tử Đại Pháp Tâm Thanh trong Dạ hội mừng năm mới 2007 của Đài truyền hình Tân Đường Nhân—bài hát «Trảo Chân Tướng»:

Trảo Chân Tướng

“Thiên Địa lưỡng mang mang,
Thế nhân hướng hà phương,
Mê trung bất tri lộ,
Chỉ nam hữu chân tướng.

Bần phú đô nhất dạng,
Đại nạn vô xứ tàng,
Võng khai hữu nhất diện,
Khoái khoái trảo chân tướng.”

Tạm dịch:

Tìm Chân Tướng

“Trời Đất rộng mênh mang,
Thế nhân hướng nơi đâu?
Mê mờ chẳng thấy đường,
Chỉ nam là chân tướng.

Khi đại nạn giáng xuống,
Giàu nghèo cũng như nhau,
Vẫn còn một lối thoát,
Chân tướng tìm cho mau!”

Dịch từ:

http://www.zhengjian.org/zj/articles/2007/12/10/49717.html


Ngày đăng: 27-04-2011