[ChanhKien.org]
Chương 7: Chí thiện chí mỹ
Phần 1: Vẻ đẹp của nghệ thuật
Xin chào mọi người! Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục chuyến hành trình với văn hóa truyền thống, giảng về chí thiện chí mỹ.
Chí thiện chí mỹ còn được gọi là tận thiện tận mỹ, là một vấn đề rất quan trọng trong văn hóa truyền thống. Trong “Luận Ngữ – Bát Dật” có nói: “Tử vị ‘Thiều’, tận mỹ hĩ, hựu tận thiện dã. Vị ‘Vũ’ tận mỹ hĩ, vị tận thiện dã.” (Diễn nghĩa: Khổng Tử khen nhạc Thiều hoàn hảo cả nội dung lẫn hình thức, còn nhạc Vũ chỉ mới đẹp về hình thức chứ chưa hoàn hảo về nội dung). Khổng Tử đã phân tích những điểm khác biệt giữa hai tác phẩm âm nhạc là Thiều và Vũ (1) từ góc độ nghệ thuật, cũng là đứng tại cảnh giới sinh mệnh của ông để đánh giá sự khác biệt giữa Đế Thuấn và Chu Vũ Vương. Mỹ (đẹp) mà chúng ta giảng bao hàm hai phương diện, đẹp của nghệ thuật và đẹp của nhân sinh, chí thiện chí mỹ là sự kết hợp hoàn mỹ giữa nội hàm tinh thần chí thiện chí chân và hình thức bên ngoài mỹ hảo của nghệ thuật. Đồng thời, chí thiện chí mỹ cũng là sự dung hòa làm một của đạo đức cao thượng và hạnh phúc đời người, đây là chí thiện chí mỹ mà chúng ta giảng hôm nay.
Chúng ta sẽ bắt đầu nói từ vẻ đẹp của nghệ thuật, trong văn hóa truyền thống, vẻ đẹp của nghệ thuật trước hết không phải là vẻ đẹp hoa lệ biểu hiện bên ngoài, mà quan trọng là tinh thần bên trong. Xét từ góc độ nghệ thuật, “Hồng Lâu Mộng” của Tào Tuyết Cần là một kiệt tác, từ văn chương, thi từ, nhân vật, phục sức, kiến trúc, ẩm thực, trò chơi, phong tục dân gian, v.v. không đâu là không thể hiện vẻ đẹp của văn hóa truyền thống bác đại tinh thâm. Nhưng nguồn gốc của hết thảy những điều này, được bắt nguồn từ tấm lòng đại thiện thương xót con người của tiên sinh Tào Tuyết Cần. “Từng trang giấy đầy những lời hoang đường, những giọt lệ cay đắng tuôn trào. Đều nói tác giả si, ai hiểu nỗi niềm trong ấy?” “Xem ra từng chữ toàn viết bằng máu. Cay đắng mười năm khéo lạ lùng”. Ông có ý chí bao la, tấm lòng như Bồ Tát, thế nên tác phẩm của ông có cả máu và nước mắt, ông đã dùng những hình thức mà người ta ưa thích như tiểu thuyết, chuyện kể, thơ ca để nói những lời ông muốn nói, nói ra những lời khó nói. Con người ngày nay nếu có thể buông xuống những suy nghĩ đầy tranh đấu, bôn ba, thì nhất định sẽ thể hội được sự vất vả dụng tâm và tấm lòng cực kỳ chân thành của tiên sinh Tào Tuyết Cần.
Tiên sinh Tào Tuyết Cần sở dĩ có thể viết ra được những lời văn đầy tao nhã, hoa mỹ như thế, là xuất phát từ những truy cầu nội tâm chí chân chí chính của ông. Chúng ta sẽ bắt đầu giảng từ một bài thơ của ông, hy vọng có thể phần nào gợi mở và giúp đỡ mọi người trong sáng tác nghệ thuật, cũng như đạt được hạnh phúc đời người sau này. “Hồng Lâu Mộng” còn có một phiên bản tên là “Chi Nghiễn Trai trùng bình Thạch Đầu Ký” (2), thông thường trước mỗi chương đều có một bài thơ, gọi là thơ hồi tiền, bài thơ hồi tiền của chương thứ 42 rất xuất sắc, nó có ý nghĩa rất quan trọng với những người làm nghệ thuật kể cả trong phương diện làm người, mọi người hãy xem:
Thùy vị thi thư tiên ngộ nhân, hào hoa tương thượng thất thiên chân.
Kiến đắc cổ nhân nguyên lập ý, bất chính tâm thân tổng mạc luận”
(Diễn nghĩa: Ai bảo đọc sách làm thơ làm lỡ dở đời người, hào hoa quá thì mất sự chân thật.
Nhìn thấy cổ nhân vốn giữ nguyên ý, những thứ không chính cho thân và tâm thì không bàn đến)
“Thùy vị thi thư tiên ngộ nhân”, tiên (鲜) có ý là thiếu, ai nói đọc ít thơ, sách thì làm lỡ dở đời người; các tác phẩm nghệ thuật như thơ ca, văn chương, hội họa, âm nhạc, cũng có thể khiến người ta trầm mê, trụy lạc, khiến con người trở nên không còn tốt nữa. “Hào hoa tương thượng thất thiên chân”, có rất nhiều người theo đuổi những thứ hình thức bề ngoài, như sự hoa lệ trong văn chương, bao gồm cả sự kích thích, sắc màu trong âm nhạc, mỹ thuật, họ tập trung vào những thứ trên bề mặt, vào kỹ pháp, đó đều là theo đuổi sự hào hoa, phù phiếm. Lý Bạch có một câu thơ rằng: “Thanh thủy xuất phù dung, thiên nhiên khứ điêu sức” (Diễn nghĩa: Đầm nước trong nảy mọc ra cây phù dung, tự nhiên không phải trang sức gì). Ý tứ của ông trong bài này cũng giống như cách nói của Tào Tuyết Cần; Đỗ Phủ cũng có một câu thơ: “Thiết phàn Khuất Tống nghi phương giá, khủng dữ Tề Lương tác hậu trần” (Diễn nghĩa: Muốn nổi tiếng như Khuất Nguyên, Tống Ngọc thì phải có tinh thần và tài năng sánh ngang với họ, chỉ sợ theo gót phong cách thơ ca thời nhà Tề Lương), ông bằng lòng học tập theo hình mẫu của Khuất Nguyên ôm chí lớn thiên hạ, học theo cảnh giới tinh thần vì nước vì dân, trên hành trình của mình, Lý Bạch, Đỗ Phủ đều vô cùng tôn kính Khuất Nguyên.
Thế nhưng “khủng dữ tề lương tác hậu trần”, tại Nam triều vào thời Nam – Bắc triều, văn học, phong cách thơ ca của thời đại Nam Tề và thời Lương cực kỳ không tốt, theo đuổi những thể loại thơ ca với nội dung rỗng tuếch, viết về một cây trâm cài trên tóc người phụ nữ cũng có thể viết ra cực kỳ hoa mỹ, cực kỳ khéo léo, tỉ mỉ, thế nhưng lại thiếu hẳn nội hàm và sự hoàn chỉnh về tinh thần. Những tác phẩm thơ ca như thế đúng là sẽ khiến người ta bị lỡ dở, thế nên những tác phẩm nghệ thuật không tốt như vậy cũng sẽ ảnh hưởng rất xấu đến con người. “Kiến đắc cổ nhân nguyên lập ý, bất chính tâm thân tổng mạc luận”. Người xưa lương thiện, thuần tịnh, chân thành, làm bất cứ việc gì, kể cả chuyện viết lách đều vô cùng thần thánh, không hề có kiểu tán hươu tán vượn, mọi người cũng đã biết người xưa khi tạo ra chữ Hán, mỗi chữ đều cực kỳ có ý nghĩa. “Bất chính tâm thân tổng mạc luận”, với những việc không khởi tác dụng đoan chính cho tâm hồn con người, thì người xưa sẽ không làm, không nói những lời như thế, không vẽ những bức tranh như thế, không sáng tác những âm nhạc như thế. Loại nghệ thuật không chính với thân tâm, thì sẽ khiến con người phóng túng dục vọng và ma tính, không có điểm gì tốt đối với con người và xã hội, cuối cùng sẽ mang đến tai họa cho chính mình.
Chúng ta kể một câu chuyện: Hoàng Đình Kiên còn có tên khác là Hoàng Sơn Cốc, là nhà văn, họa sĩ ngang hàng với Tô Đông Pha. Khi ấy có một họa sĩ nổi tiếng khác tên là Lý Bá Thời (tên gốc: Lý Công Lân 李公麟), Hoàng Đình Kiên đã cùng họa sĩ này đến gặp cao tăng Thiền sư Nguyên Thông Tú. Sau khi thiền sư gặp mặt hai người họ, nhìn thấy tác phẩm của Hoàng Đình Kiên thì không nói lời nào, nhưng khi nhìn Lý Bá Thời, thì lại nói với ông ta: “Khi ông vẽ ngựa đừng quá nhập tâm như vậy, cứ thế thì kiếp sau của ông sẽ bị đầu thai vào đạo súc sinh, chuyển sinh thành ngựa”. Vì người xưa làm bất cứ việc gì cũng đều cực kỳ chuyên chú, khi ông ta vẽ ngựa thì vô cùng chuyên tâm, ông ta đã nghiền ngẫm và mô phỏng theo tâm lý, hành vi của ngựa, thể nghiệm thử các phương diện về tâm lý của ngựa, thế nên thiền sư này mới nói nếu ông lại cứ tiếp tục như thế, thì kiếp sau ắt sẽ chuyển sinh thành ngựa. Sau khi Lý Bá Thời nghe được những lời ấy của Thiền sư Nguyên Thông Tú, đã thật sự bị dọa cho kinh hãi một phen. Bản thân việc thích vẽ ngựa không phải là vấn đề, nhưng nhập tâm đến nỗi không thoát ra được, trở thành mối quan tâm duy nhất của sinh mệnh, những điều khác không còn quan trọng nữa, đều không muốn quan tâm nữa, thì đã trở thành sự cố chấp, bị vật làm cho “mê” mất rồi.
Hoàng Đình Kiên nghe Thiền sư Nguyên Thông Tú nói người khác như thế, không nói gì đến mình liền thấy khá tốt, ông có chút đắc ý nói với Thiền sư: “Ta viết thơ thì sẽ không bị sa ngã vào đạo súc sinh đâu nhỉ?” Thiền sư nghe xong liền nói: “Ông viết ra những bài thơ dâm dục, những áng văn chương bất hảo, khiến rất nhiều người trẻ tuổi trong xã hội bị suy thoái đạo đức, trong khi khống chế không vững bản thân mà phạm tội, làm tổn thương người khác. Ông ta vẽ ngựa là chuyện của cá nhân ông ta, còn ông viết nên những áng văn không tốt kia thì sẽ tạo nên lối sống bại hoại của xã hội, phạm tội quá lớn, ông sẽ bị đọa vào địa ngục. Ông làm những bài thơ ca ấy lại không phải là chuyện của cá nhân ông, có ảnh hưởng cực lớn đối với người khác, danh vọng của ông, tiếng tăm của ông càng lớn, kỹ xảo của ông càng cao siêu, tinh tế, thì cái xấu của ông lại gây ảnh hưởng càng lớn, tội của ông vì thế càng lớn hơn nữa. Tội của ông đã quá to lớn rồi!” Nghe Thiền sư Nguyên Thông Tú nói thế, Hoàng Đình Kiên cảm thấy cực kỳ chấn động.
Văn hóa có ảnh hưởng rất lớn với xã hội, thể nên thời cổ đại người ta giảng lễ nhạc trị quốc, nhạc có thể khởi tác dụng giúp đoan chính nhân tâm, cổ nhân nói “đức âm chi vị nhạc”, lễ là để phân biệt đẳng cấp trên dưới, còn nhạc là để hòa hoãn, đều có tác dụng rất lớn giúp cho xã hội hòa thuận mỹ hảo. Từ thời Trung Quốc cổ đại đã có khá nhiều lập luận về âm nhạc, các tác phẩm âm nhạc nổi danh như Dương Xuân Bạch Tuyết (ca khúc nổi tiếng của nước Sở thời Xuân thu Chiến quốc) cũng có khá nhiều, thời của Hoàng Đế có “Hàm Trì”, “Thanh Giác”, “Vân Môn”, thời của Chuyên Húc Đế có “Thừa Vân”, thời vua Nghiêu Thuấn thì có “Đại Chương”, “Thiều”. Khi mà đạo đức của xã hội ở trạng thái cực kỳ tốt, chính là xã hội ấy nếu muốn đoan chính, thì đầu tiên cần bắt tay từ phương diện âm nhạc và mỹ thuật, dùng chúng để ca tụng những sự vật tốt đẹp, chúng có tác dụng cực kỳ to lớn trong việc chính lại nhân tâm. Vì âm nhạc và mỹ thuật là trực tiếp kích thích một cách mạnh mẽ vào cảm quan của người ta. Khi xã hội ở trạng thái cực kỳ không tốt, chỉ cần chúng (âm nhạc và mỹ thuật) là tốt, vậy thì chúng có thể khởi tác dụng chính diện, giúp làm chính lại nhân tâm. Thế nhưng khi đạo đức xã hội bại hoại, khi xã hội vô cùng không tốt, biểu hiện trực tiếp rõ nhất chính là việc âm nhạc và mỹ thuật đều không còn tốt nữa, chính là thứ nghệ thuật rác rưởi tạp loạn.
Đại sư Lý Hồng Chí đã từng giảng trong Giảng Pháp tại Buổi họp Sáng tác và Nghiên cứu Mỹ thuật như sau:
“Mỹ thuật đối với nhân loại mà nói là rất trọng yếu, nó cũng giống như các văn hoá khác của nhân loại, là có thể ở xã hội nhân loại mà khởi một loại tác dụng hướng đạo đối với quan niệm của con người, ảnh hưởng tới quan niệm thẩm mỹ của con người. Đối với ‘thế nào là đẹp, thế nào là cảm thụ cái đẹp đúng đắn mà nhân loại nên có’, chúng là có tương quan chặt chẽ với chuẩn mực nền tảng của đạo đức nhân loại. Nếu con người coi cái không đẹp là đẹp, thế thì đạo đức nhân loại là đã ‘xong’ rồi.”
“Bản thân đạo đức của nhân loại là ảnh hưởng tới nghệ thuật của nhân loại, mà nghệ thuật, quay trở lại, là ảnh hưởng tới nhân loại.”
Các giáo viên của chúng ta đều tốt nghiệp từ các trường đại học, đều có tri thức, mọi người đã nắm vững những kỹ thuật, âm nhạc, mỹ thuật, văn nghệ,… có sức ảnh hưởng rất lớn đến người khác. Một tác phẩm được sáng tác bởi một nghệ thuật gia, người ta sẽ muốn xem, muốn nghe, đây không còn là sự việc của bản thân người ấy nữa. Chúng ta làm giáo viên cũng như thế, tri thức của bạn, từng ngôn hành cử chỉ của bạn có ảnh hưởng rất lớn đến học sinh. Bạn có trách nhiệm làm cho xã hội này tốt đẹp hơn, nhất định phải dựng lập được những điều thật thiện lương, thật chính, hy vọng tất cả chúng ta đều có thể làm tốt, làm tốt hơn nữa trên phương diện này. Tất cả chúng ta hãy cùng đọc lại lần nữa, cảm nhận lại lần nữa tâm ý của tiên sinh Tào Tuyết Cần:
“Thùy vị thi thư tiên ngộ nhân, hào hoa tương thượng thất thiên chân.
Kiến đắc cổ nhân nguyên lập ý, bất chính tâm thân tổng mạc luận”
Chú thích của người dịch:
(1) Thiều là khúc nhạc thời vua Thuấn, Vũ là khúc nhạc thời Chu Vũ Vương
(2) Tác phẩm “Hồng Lâu Mộng” còn có tên là “Thạch Đầu Ký”, Chi Nghiễn Trai là tác giả của một trong những bản phê bình Hồng Lâu Mộng thông dụng nhất hiện nay. Các bản Hồng Lâu Mộng do Chi Nghiễn Trai phê bình gọi là “Chi bản” hay tên đầy đủ là “Chi Nghiễn Trai trùng bình Thạch Đầu Ký”