[ChanhKien.org]

Chương 7: Chí thiện chí mỹ

Phần 2: Vẻ đẹp của học tập

Hôm nay mọi người đến đây, chính là để học tập, vậy thì hai chữ “học tập” này rốt cuộc có ý nghĩa thế nào? Chúng ta nói ra hai từ này rất thuận miệng, vậy theo cách nói của người xưa thì liệu hai từ này còn có những nội hàm đẹp đẽ và sâu sắc nào nữa không? Ngày nay rất nhiều chuyên gia không thể giảng giải được rõ ý nghĩa của những câu trong “Luận Ngữ”, thực ra mấu chốt nằm ở học tập, họ không phân biệt được sự khác biệt giữa học và tập, họ căn bản không biết. Khổng Tử nói: “Học nhi thời tập chi bất diệc thuyết hồ” (diễn nghĩa: Học mà thường xuyên ôn tập, chẳng phải vui lắm sao), câu nói này rất quan trọng, nó đã làm rõ được việc học và tập là gì, chính là học tập đạo lý làm người, thậm chí là những đạo lý cao thâm hơn. Nói về chữ “học”, ngày nay có bao nhiêu sinh viên vì tham gia kỳ thi đại học mà phải “thức khuya dậy sớm”, như vậy có đủ để gọi là “hiếu học” hay chưa? Chúng ta hãy cùng xem thánh nhân Khổng Tử nói thế nào về hiếu học nhé.

Lỗ Ai Công hỏi Khổng Tử, ai là người hiếu học nhất? Khổng Tử đáp: Có một người tên Nhan Hồi, không trút giận lên người khác, không phạm lại lỗi sai lần thứ hai, cậu ta là hiếu học nhất, đáng tiếc lại mất sớm, ngoài người ấy ra thì chẳng còn ai nữa. Mọi người đã biết Khổng Tử có 3.000 đệ tử và 72 vị hiền nhân, họ đều có thành tựu rất cao, kể cả Tăng Tử còn là học trò đời thứ hai của ông. Thế nhưng khi nói đến hiếu học, trong 72 vị hiền nhân ấy chỉ có mỗi Nhan Hồi, đáng tiếc ông ấy lại mất sớm, sau này cũng chẳng còn ai nữa. Bạn nói xem Tăng Tử lẽ nào lại không hiếu học? 72 hiền nhân đều có thành tựu rất cao, rất nhiều người có những thành tựu rất cao trong các phương diện khác nhau như trị quốc, ngoại giao, ngôn ngữ, văn học, nhưng thánh nhân Khổng Tử lại không nói họ hiếu học, vậy chữ học trong từ “hiếu học” mà ông nói là học điều gì? Trên thực tế chính là học các đạo lý làm người tại các cảnh giới khác nhau: nghĩa, nhân, đức, Đạo, chỉ có Khổng Tử và Nhan Hồi là “chí vu đạo” (tạm dịch: hướng về đạo), chính là học “Đạo”.

Không biết mọi người có từng nghe qua câu nói “triêu văn đạo, tịch tử khả hĩ” chưa, cũng là một câu nói của Khổng Tử, có ý nói rằng sáng sớm được nghe Đạo, thì đến tối dù có chết cũng không sợ nữa. Vậy bạn nghĩ xem ông ấy đã nghe được những gì? Là tri thức phổ thông chăng? “Triêu văn đạo, tịch tử khả hĩ”, đây là câu nói trong “Luận Ngữ”. Lại bàn về chữ “học”, dù cho người ngày nay mỗi ngày học được gì, thì điều mà người xưa được học chính là “Đạo” làm người, vậy nên thời cổ đại trong quá khứ không hề có khái niệm cầu tri thức, điều họ cầu là Đạo, cầu Đạo, học Đạo, tu Đạo. Người Trung Quốc ngày nay thường hay nói: “Bạn biết (tri đạo) không?” Mọi người đều đáp: “Biết (tri đạo)”. Chữ “tri” và chữ “đạo” ấy có quan hệ gì? Chữ biết thời xưa gồm có hai từ: là tri và đạo, tri cái gì đây? Là tri đạo (biết về đạo), mà chữ tri đạo thời nay lại chỉ còn có một nghĩa, chỉ còn mang ý nghĩa của chữ tri, chứ không còn “đạo” nữa, “tri đạo” của ngày nay chỉ còn mang ý nghĩa chữ “tri” của thời xưa, ý nghĩa của chữ “đạo” đã bị đánh mất, không còn nữa. Nhưng mọi người vẫn đang nói: “Bạn tri đạo (biết) không?”, vậy chữ “đạo” trong “tri đạo” ấy nghĩa là gì? Hàn Dũ nói rằng người giáo viên cần “truyền đạo, truyền thụ, giải mê hoặc”, điều đầu tiên là “truyền đạo”, ấy là đạo lý chân chính, thật ra đây cũng là điều chúng ta muốn giảng, là đạo lý chân chính chúng ta cần học.

Cổ nhân trong quá khứ cầu Đạo chứ không cầu tri thức. Trang Tử từng nói một câu, mà hiện nay được treo tại rất nhiều trường học ở Trung Quốc đại lục: “nhân sinh dã hữu nhai nhi tri dã vô nhai”, ý nghĩa là đời người thì hữu hạn, còn tri thức lại vô hạn, thế nên các giáo viên ngày nay đã dùng câu nói này để động viên học sinh nỗ lực học tập. Nhưng tiếp sau đó Trang Tử còn nói thêm một câu “dĩ hữu nhai tuỳ vô nhai, đãi hĩ” (diễn nghĩa: đem cái có hạn mà theo đuổi cái vô hạn thì quá nguy hiểm vậy), bạn dùng sinh mệnh hữu hạn của mình để theo đuổi tri thức vô tận thì sẽ không thể theo đuổi nổi, quá nguy hiểm, bỏ gốc lấy ngọn, có hại cho bản tính của bản thân. Mọi người chúng ta dù học điều gì thì cũng không thể mơ mơ hồ hồ, cần nắm vững chúng. Lại giảng câu nói của Khổng Tử từ một tầng diện khác, ít nhất cũng cần phải học được các đạo lý nhân nghĩa làm người, tuy nhiên sự thăng hoa của sinh mệnh lại không có giới hạn, ngoài đó ra còn có những Đạo, Pháp mà Lão Tử, Phật hay Bồ Tát giảng, đều là “Đạo” mà người xưa nhắc đến, đương nhiên người Trung Quốc cho rằng thiên ngoại hữu thiên (diễn nghĩa: bên ngoài trời còn có trời khác), vũ trụ ảo diệu vô cùng, tự nhiên sẽ lại có Đại Pháp chính đạo cao hơn nữa. Vậy mới nói điều mà chúng ta cần học chính là “đạo” chứ không phải tri thức, còn “tập” là làm được, không phải chỉ là biết đạo lý không thôi, mà còn phải hành được đạo lý ấy, như thế đối với chính mình mới là tốt đẹp, có lợi ích cho xã hội.

Vậy thì ngày nay chúng ta đã lý giải chữ “tập” thành gì? Đặc biệt là ngày nay trong các trường tiểu học và trung học tại Đại Lục đều đang dùng phương pháp “biển câu hỏi”. Trẻ em ngày nay thật bất hạnh, hằng ngày đều phải luyện tập, ngoài ra chúng còn phải ôn luyện, ôn tập, có câu nói rằng “ôn cố nhi tri tân”. Khổng Tử đã nói câu: “ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hĩ”, ôn lại những điều cũ để biết những điều mới thì có thể làm giáo viên. Vậy giả dụ như những cách nói ôn tập, luyện tập như ngày nay vẫn nói; ôn tập, luyện tập những kiến thức cũ, thì họ đã có thể trở thành giáo viên? Thời nay người ta đều chú trọng những thứ bề mặt, muốn con trẻ làm thật nhiều bài tập, làm đến mức thuộc luôn câu hỏi, như thế gọi là ôn tập chứ chưa phải là làm được. Một sự việc nào đó khi mọi người đã nghe nhiều rồi, nghe mãi đã thành quen, cho rằng nó rất tốt, nhưng bạn có thể làm được hay không, ví như nói chúng ta nên “thiện đãi người khác”, mọi người nghe thấy đều cảm thấy rất đúng, nhưng có thể làm được hay không, gặp phải chuyện gì liệu có thể thật sự “thiện đãi người khác” được không? Cần làm được trong thực tiễn, thực tập, “thời tập chi”, tập nghĩa là làm được, khi gặp phải loại tình huống như thế thì thật sự làm được “thiện đãi người khác”.

“Ôn cố nhi tri tân”, chính là xem lịch sử thời cổ đại thì có thể biết được lịch sử ngày nay, chúng có quy luật, có Đạo được quán xuyến bên trong. Ví như nói triều nhà Tùy diệt vong, Đường Thái Tông thấy nhà Tùy đã diệt vong, nên đã đề ra câu thơ thế này “thuỷ khả tải chu diệc khả phú chu” (tạm dịch: nước có thể nâng thuyền, cũng có thể lật thuyền), đây gọi là “ôn cố nhi tri tân”, nếu muốn để một triều đại không bị diệt vong, vậy thì phải nghĩ nhiều hơn cho bách tính, đây cũng là “ôn cố nhi tri tân”, triều Tùy là cố, triều Đường là tân, đạo lý hưng vong cũng giống như thế, ông ấy cũng đang nói dựa trên góc độ đạo lý chứ không phải trên góc độ về tri thức, thế nên “học nhi thì tập chi bất diệc thuyết hồ”, mọi người chúng ta đang ngồi đây hôm nay là vì để học đạo lý làm người, thế nên trong khi chúng ta học tập, thật ra mọi người đều có thể cảm nhận được rằng, điều này đúng là cực kỳ tốt đẹp, trong tương lai khi các vị có thể làm được các đạo lý này, thì nhất định sẽ cảm nhận được còn tốt đẹp hơn nữa. Con người hiện đại ngày nay rất khó cảm nhận được “duyệt” (悦: niềm vui) của việc học và tập, họ cũng không còn biết được ý nghĩa chân chính trong đó nữa.

Chúng ta làm một phép so sánh, “hữu bằng tự viễn phương lai bất diệc lạc hồ” (tạm dịch: có người bạn từ phương xa đến há lại không vui mừng ư), thời xưa người ta tách biệt chữ “lạc” và “duyệt”, theo cách lý giải đơn giản nhất hiện nay thì ta có thể hiểu rằng hai chữ này có cùng một ý nghĩa, nhưng “lạc” thể hiện nhiều ở bề ngoài; còn “duyệt” (悦) có bộ tâm đứng, điều nó thể hiện chính là một loại vui thích từ trong nội tâm. Ngày nay có những đứa trẻ có một trạng thái thế này, chúng sẽ cảm thấy thi cử rất tốt, còn có những đứa trẻ nghiện thi cử giống như nghiện thuốc lá vậy, một bài viết từng nói rằng, có những đứa trẻ khi đến kỳ thi thì lại rất hưng phấn, nhưng khi không phải làm kiểm tra thì ngược lại như không còn sức lực, tuy chúng cảm thấy không tốt nhưng vẫn thích ứng được. Ngày nay rất khó để giúp con trẻ cảm nhận được niềm vui thích từ nội tâm. “Duyệt” là sự thăng hoa chân chính của nội tâm, có những giáo viên ngồi đây đã viết trong tâm đắc của mình rằng họ thấy rất thực tế, “cảm thấy bản thân càng ngày càng dung tục”, ấy là vì bạn đã đứng tại góc độ cao hơn để tự nhìn lại bản thân mình, tôi nói rằng thật tốt, vì bạn đang thăng hoa.

Cũng như có người mặt bị bẩn, nếu không thường xuyên rửa mặt thì cũng sẽ không cảm thấy bẩn, có một câu là “tẩy tâm cách diện” (tạm dịch: thay đổi triệt để), trái tim của chúng ta cũng như việc rửa mặt vậy, người hiện đại không có khái niệm này, nhưng trái tim con người cũng thế, nếu không thường xuyên gột rửa sẽ tích bụi bẩn. Khi ở cùng thầy cô, trưởng bối hoặc bạn bè thời gian lâu, cũng sẽ trong bất tri bất giác mà học theo họ, cũng sẽ học theo cái không thuần tịnh của họ, nếu không gột rửa đi thì cũng như khuôn mặt lâu ngày không rửa kia, rồi một ngày chợt nhìn thấy mình trong “gương”: A! Tâm của mình sao lại bẩn như thế. Khi này cảnh giới của bạn đã được thăng hoa. Cũng như con ếch dưới đáy giếng, cá chậu chim lồng, khi chúng được nhảy ra khỏi mặt giếng, được bay ra khỏi chiếc lồng kia, chúng sẽ biết rằng, bầu trời hiện nay hoàn toàn khác với bầu trời trước kia chúng từng thấy, từng nghĩ, sao lại to lớn như thế! Khi này chúng đã thật sự thăng hoa, không phải chỉ thăng hoa một chút, mà là như đã thay đổi một bầu trời khác, một vùng đất khác vậy.

“Hữu bằng tự viễn phương lai”, người xưa nói về “bằng” (朋) và “hữu” (友) là có sự khác biệt, “đồng môn viết bằng đồng chí viết hữu” (đồng môn gọi là bằng, đồng chí gọi là hữu), “hữu bằng tự viễn phương lai”, những người đồng chí hợp đạo với nhau, cũng là có cùng chí hướng cầu đạo, đều là hướng thiện, đều là tích lũy sự lạc quan, những người này khi ở cùng nhau thì sẽ vui vẻ biết mấy, càng đông người lại càng vui vẻ. “Nhân bất tri nhi bất uấn, bất diệc quân tử hồ?” (Diễn nghĩa: Nếu không ai biết tới mình mà mình không hờn giận thì chẳng cũng là quân tử ư?) Người ta không biết, không hiểu được, thậm chí còn hiểu lầm bản thân tôi, tôi cũng sẽ không tức giận, đây chẳng phải cũng là điều một người quân tử cần làm được sao?

Chúng ta hãy lật ngược vấn đề lại xem, gặp phải sự việc gì cũng không tức giận chính là một loại cảnh giới, có những người bạn có cùng chí hướng hợp đạo với mình cùng nhau học tập, làm việc, đây là việc cực kỳ vui vẻ, điều này chẳng phải đã cao hơn cảnh giới không nóng giận rất nhiều rồi sao? Luôn luôn vui vẻ, hạnh phúc. Nhưng cảnh giới cao hơn nữa là “học nhi thời tập chi bất diệc thuyết hồ”, học tập chân đạo, tận lực thực hành chân đạo, khi đạt được đến việc nội tâm đồng hóa chân đạo, hạnh phúc từ trong tâm, ấy là đã quá tốt đẹp rồi, đây là điều không ai làm thay được, đồng thời cũng không có bất kỳ ai có thể cướp đoạt nó đi được, chân chính đạt được “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”, ấy không phải là sự thoải mái, vui vẻ thông thường nữa, sự mỹ hảo ấy khó mà biểu đạt bằng lời. Thánh nhân Khổng Tử đã đạt đến cảnh giới ấy, thế nên mới vào phần mở đầu trong “Luận Ngữ”, ông đã muốn chia sẻ sự mỹ hảo này với mọi người, nhưng có mấy ai có thể hiểu được tâm cảnh ấy của ông đây?

Hôm nay giảng cho mọi người về chí thiện chí mỹ, vừa rồi bàn đến sự tốt đẹp của việc học tập chân chính, mọi người cũng đều đã hiểu rồi, đây là sự tốt đẹp mà chỉ có dùng nội tâm mới cảm nhận được, chúng ta lại kể về câu chuyện của hai thầy trò Khổng Tử và Tử Cống, nó cực kỳ có ý nghĩa, nhưng nếu tự bạn đọc thì có thể có nhiều chỗ khó mà hiểu hết. Trong “Luận Ngữ – Học Nhi Đệ Nhất”, Tử Cống viết: “Bần nhi vô siểm, phú nhi vô kiêu, hà như?” Tử (Khổng Tử) viết: “Khả dã. Vị nhược bần nhi lạc, phú nhi hiếu lễ giả dã”. Tử Cống viết: “[Kinh Thi] vân, ‘Như thiết như tha, như trác như ma’, kỳ tư chi vị dư?” Tử viết: “Tứ dã! Thủy khả dữ ngôn [Thi] dĩ hĩ, cáo chư vãng nhi tri lai giả”.

Tử Cống đã nói với thầy Khổng Tử rằng: “Bần nhi vô siểm, phú nhi vô kiêu, hà như?” Khi tôi còn bần cùng hoặc đang có địa vị thấp kém, thì không xu nịnh những người có địa vị cao hơn; khi tôi giàu có rồi, có địa vị cao hơn rồi, cũng sẽ không xem thường người khác. Thế nào? Ông đã hỏi Khổng Tử: Thưa thầy, thầy thấy con làm được thế nào? Bản thân ông cảm thấy tâm thái này, cách làm này của mình là cực kỳ tốt, mọi người hãy xem hai chữ “thế nào?” này. Thật ra trong lòng ông ấy đang nói: Mình làm được thật là tốt! Thầy ơi thầy hãy khen trò thêm hai câu nữa đi. Trên thực tế ông là có ý này, ở đây có ý ở trong lời, hãy khen tôi đi. Những đứa trẻ của chúng ta cũng đôi khi như thế, không phải là để hỏi bạn, mà là muốn được thầy cô công nhận, bạn khen chúng vài câu, chúng sẽ cảm thấy được bạn xem trọng, trong lòng cảm thấy yên tâm, chúng sợ bị thầy cô phớt lờ, thế nên làm người thầy, cần phải nghe hiểu những ẩn ý bên trong, biết cách thấu hiểu ý nghĩa thật sự trong câu nói của người ta.

Mọi người hãy xem cách trả lời của Khổng Tử đặc biệt hay, ông nói “khả dã”, “vị nhã”, có thể như thế, nhưng “bất như bần nhi lạc, phú nhi hảo lễ”. Nói rằng trò làm như thế là khả dĩ, làm được cũng khá tốt; thế nhưng, vẫn chưa bằng khi còn nghèo vẫn sống thanh bần vui với đạo, khi giàu có, khi có địa vị cao “phú nhi hảo lễ giả dã”, tôi vẫn tôn trọng người khác, vẫn trọng lễ. “Bần nhi vô siểm, phú nhi vô kiêu” vẫn chưa bằng “bần nhi lạc, phú nhi hảo lễ” (tạm dịch: nghèo nhưng vẫn vui vẻ, giàu nhưng vẫn trọng lễ), sự khác biệt giữa hai câu này là gì? “Bần nhi vô siểm, phú nhi vô kiêu” nghĩa là tôi không xấu, xu nịnh, ngạo mạn là xấu, tôi không như thế. Khổng Tử nói “khả dã”, “vị nhã”, trước tiên là công nhận người khác, bạn nghĩ là không tốt, đương nhiên là được; nhưng, còn có những điều tốt hơn nữa, trò xem làm thế này chẳng phải sẽ càng tốt hơn nữa sao.

Tử Cống viết: “[Thi] vân, ‘như thiết như tha như trác như ma’, kỳ tư chi vị dữ?” (tạm dịch: “Kinh Thi có câu: ‘Như cắt như giũa, như đục như mài’, có phải là ý này chăng) Tử Cống rất thông minh, ông đã nói ra một câu trong Kinh Thi “như thiết như tha, như trác như ma”. Thiết và tha, ví như việc chạm khắc ngà voi, ngọc thạch trong quá khứ. “thiết” là cắt gọt nó thành những khối lớn, “tha” là mài thành chi tiết, cắt gọt xong thì vẫn chưa gọi là hoàn thành, còn cần mài, chính là công đoạn chạm khắc, khi một món đồ vật chạm khắc xong rồi, cuối cùng vẫn cần phải mài bóng, như thế nó mới tinh xảo, tinh mỹ, vì thế bốn chữ này (thiết – tha – trác – ma 切-磋-琢-磨) chính là một quá trình chế tác đồ ngọc.

“Kinh Thi” rất hay, bên trong có rất nhiều đạo lý, vì sao mà “Kinh Thi” được gọi là “Kinh”? Vì nó có thể chính lại nhân tâm, rất nhiều những bài thơ ngày nay không thể khởi được tác dụng này, Tử Cống nói: “[Thi] vân, ‘như thiết như tha như trác như ma’, kỳ tư chi vị dữ?”, “Kỳ tư chi vị dữ”, câu này đã có cảnh giới khác hẳn câu nói trước đó của ông. Chạm khắc cần một quá trình, vậy thì con người có phải cũng có những cảnh giới khác nhau, việc làm người cũng phải cần một quá trình tu dưỡng, thăng hoa tại những cảnh giới khác nhau. Sự hoàn mỹ trong nội tâm chúng ta, cũng có thể là rất thô tháo hoặc rất tinh mỹ, thậm chí có thể là hoàn mỹ hơn nữa, làm người là một loại cảnh giới, còn đời người lại chính là một quá trình đề thăng không ngừng. Ông phát hiện khi thầy đang trả lời câu hỏi của mình, thì thầy cũng đang nói tại những cảnh giới khác nhau, chứ không phải chỉ là từ sự luận sự, bàn về việc nên làm thế nào. Ấy là tư duy của người xưa, gọi là cử nhất phản tam (học một biết mười), bạn không làm được thế thì tôi sẽ không dạy bạn nữa.

Ví như khi tôi giảng cho mọi người về chuyện nếu ứng tuyển bị thất bại thì nên đối đãi thế nào, vậy thì nếu mất việc nên làm sao, chẳng phải cũng như nhau, thất tình nên làm thế nào cũng giống thế, còn cần giải thích riêng hay sao? Yêu là vì bạn đang thích thú, bạn yêu quý món đồ này, rất nhiều những món đồ khác chẳng phải cũng đều như thế sao, khi xảy ra sự việc bạn làm mất nó, có phải bạn sẽ suy nghĩ rất nhiều không, điều tôi giảng hôm nay chính là muốn nói cho bạn biết vào những thời điểm ấy, làm sao để bạn đối đãi được chính xác, nếu bạn có thể nghe và hiểu rõ, thì rất nhiều rất nhiều sự việc đều sẽ giải quyết được tốt, thật ra việc điêu khắc mà tôi nói so với những điều người xưa nói thì còn tinh tế, tốt đẹp hơn.

Tử Cống đã minh bạch lời của thầy, thế nên ông rất vui thích hỏi: “Kỳ tư chi vị dữ?” Trên miệng ông hỏi: Thưa thầy, có phải ý này không? Thật ra trong lòng ông hiểu rõ, chính là ý thế này. Ông ấy có nói hay không cũng như thế, tâm hồn của thầy và trò đã câu thông với nhau, có thể tâm lĩnh thần hội. Người nước ngoài rất khó để hiểu được tư duy của người Trung Quốc, vì người nước ngoài khá đơn giản, một đứa trẻ nước ngoài nói: “Con không thích thầy cô!” Người kia sẽ tức giận. Người nước ngoài khá thẳng thắn, còn người Trung Quốc lại có cách biểu đạt khá vòng vo, nếu một cô gái cũng nói: “Tôi không thích anh!” Người kia không nhất định sẽ tức giận, có khả năng sẽ vui thích, cao hứng. Tư duy người nước ngoài khá đơn giản, người Trung Quốc thì lại phức tạp.

Âm nhạc, mọi người đã nghe cái từ này, nghe âm nhạc, học lớp âm nhạc, nhưng “âm nhạc” là có ý nghĩa gì? Vào thời Trung Quốc cổ đại, âm và nhạc là hai từ riêng biệt, còn một từ khác nữa gọi là thanh. Thanh là một tầng thứ, tất cả mọi âm thanh đều dùng chữ thanh này, nó là một thứ có tính vật chất. Chữ “âm” (音) là nhóm những thanh âm rất đặc thù, có quy luật thì mới được gọi là “âm”, tiếng vọng du dương, dư âm suốt ba ngày, tiếng dễ nghe thì gọi là “thiên lại chi âm” (âm thanh thiên nhiên), âm thanh khiến con người chìm đắm, trụy lạc thì gọi là “mĩ mĩ chi âm” (âm thanh đồi trụy), âm thanh vong quốc (mất nước), trong lời có ý thì gọi là huyền ngoại chi âm (ý tại ngôn ngoại). Tầng thứ cao nhất gọi là nhạc, nhạc là một loại âm rất đặc biệt, là có thể khiến cho tinh thần người ta có được niềm vui chân chính, giúp người ta trong lúc vui vẻ có thể đồng thời bất tri bất giác được tịnh hóa tâm linh, những âm thanh khởi được tác dụng như thế mới được gọi là nhạc, vậy nên mới có câu “lễ nhạc trị quốc”. Thanh âm thì có thể trị quốc chăng? Không thể! Người xưa giảng: đức âm gọi là nhạc, âm nhạc là thứ mà từ trong nội tại của nó đã chứa đựng những nhân tố đạo đức tốt đẹp thì mới đáng được gọi là nhạc, dương xuân bạch tuyết, cao sơn lưu thủy chính là những tác phẩm như thế, là những tác phẩm chân chính mỹ hảo có thể siêu việt thời gian, không gian.

Tử viết: “Tứ dã! Thủy khả dữ ngôn ‘Thi’ dĩ hĩ, cáo chư vãng nhi tri lai giả”. Khổng Tử nói, hiện tại ta có thể đàm luận Kinh Thi cùng trò rồi, là có thể cùng ông ấy đàm luận về tinh thần nội hàm của các tác phẩm văn nghệ rồi, chứ không chỉ còn là những ý nghĩa trên bề mặt văn tự nữa. Những văn tự được gọi là “kinh”, bản thân nó có thể khởi một tác dụng làm đoan chính nhân tâm, “Quan Sư” gọi là “hậu phi chi đức”, là một điều rất chính, Khổng Tử đã chỉnh lý 305 bài trong “Kinh Thi”, đại khái nói là: Tư vô tà! Tư tưởng thuần chính, tịnh hóa tâm hồn, thế mới gọi là Kinh, chỉ là ngày nay chẳng còn mấy ai hiểu được nữa. Tử Cống vào thời điểm nói câu “bần nhi vô siểm, phú nhi vô kiêu” thì vẫn nghe chưa hiểu, không xứng để nghe “Kinh Thi”, hy vọng mọi người đều có thể siêu việt cảnh giới này, bạn sẽ có thể nghe hiểu, ấy là cái đẹp thật sự! Chí thiện mới có thể chí mỹ, chí thiện rồi thì mới có thể biết được, mới có thể đạt đến chí mỹ!

Hai thầy trò đang nói về những trạng thái làm người, “kỳ tư chi vị dữ” cùng với “hà như” đã là khác nhau rồi, cái tâm đã thanh thản, không còn hiển thị, nhỏ nhen, ngạo mạn nữa mà tràn ngập niềm vui, tự tin và cảm ơn. Khổng Tử nói: “Tứ dã! Thủy khả dữ ngôn ‘Thi’ dĩ hĩ”, ông khen ngợi người học trò này của ông, thật vui thích, an tâm mà lại tràn ngập yêu thương và động viên. Hiện nay con người ít ai có thể có được sự giao tiếp tâm hồn một cách sâu sắc, chỉ có thể dùng những từ ngữ bề mặt như “thật tốt, thật giỏi” để biểu đạt. Cuộc đối thoại của hai thầy trò Khổng Tử và Tử Cống ở đây, đều có cảm tình tốt đẹp như chữ “duyệt” (悦 vui vẻ), đây đúng là sự tốt đẹp của việc dạy, sự tốt đẹp của việc học, thật hạnh phúc biết bao! Hy vọng mọi người có thể hiểu được những điều tôi giảng, thế thì tôi cũng sẽ rất hạnh phúc, hy vọng các thầy cô giáo trong tương lai đều có thể đạt được cảnh giới tốt đẹp của “học nhi bất yếm hối nhân bất quyện lạc dĩ vong ưu” (tạm dịch: Học không biết chán, dạy người không biết mệt), ấy đúng là phúc phận của học sinh các vị, tôi thay mặt những đứa trẻ và phụ huynh của chúng cảm ơn các thầy cô!

Chữ “dục” trong từ giáo dục thời xưa có ý nghĩa gì? “Dưỡng tử sử tác thiện dã”! Vậy nên làm một người thầy, chúng ta cần phải học tập để lương thiện, làm được người lương thiện; dạy con trẻ học tập thiện lương, cũng làm được thiện lương. Mọi người khi làm người hay làm việc gì thì nhất định đều phải yêu cầu cho chính, khi bạn làm một việc gì đó, thì phải dựa trên thiện ý, cần phải cân nhắc đến người khác, chứ không phải cân nhắc những thứ khác, cảm thấy nên làm thế nào thì hãy làm như thế nấy. Khi chúng ta làm việc gì, thì nhất định đừng suy tính thiệt hơn, làm thế này có đúng không, có thích hợp hay không, nghĩ tới tính lui. Trong lòng bạn cân nhắc nhiều đến người khác, làm việc tốt không cần người ta nhìn thấy, không sợ người ta đánh giá là tốt hay xấu. Người lương thiện chân chính, làm việc gì cũng đều xuất phát từ bản tính thiện lương, nghĩa là không có vì sao, chỉ cần nó là việc lương thiện thì là đúng rồi, không cần chứng minh. Thiện chính là bản tính của chúng ta, thế nên không cần phải chứng minh vì sao nó đúng, khoa học ngày nay cũng đã đứng từ nhiều phương diện khác nhau mà chứng minh được rằng thiện là đúng, là lựa chọn tốt nhất của đời người.

Muốn có được hạnh phúc thì bạn phải lương thiện, Nhật Bản có một vị tiến sĩ tên Emoto Masaru, dùng kính hiển vi tốc độ cao chụp được hình ảnh vi quan của nước, kết quả nhận được rằng “những tín tức của thiện có thể sinh ra tinh thể nước tuyệt đẹp”. Nó đã nói cho bạn một sự thật, nếu chúng ta có một tâm hồn lương thiện, thì nhất định có thể tạo ra một cuộc đời hạnh phúc mỹ lệ nhất. Cũng là nước, nhưng khi ông phát ra những tín tức mang điều thiện, thì nó có thể sinh ra những tinh thể nước hình lục giác mỹ lệ, vô cùng đẹp đẽ, như những bông hoa tuyết mỹ lệ. Ông đã viết một mẩu giấy dán lên chiếc ống nghiệm đựng nước, khi thông điệp trên mẩu giấy chứa những điều xấu ác, phân tử nước liền trở thành những hình dạng méo mó, xấu xí, phân bố tán loạn, khiến người ta thấy ghê sợ và cực kỳ khó quan sát. Vậy nên các thầy cô giáo của chúng ta nhất định phải nói những lời nói chứa đựng thiện ý và tốt đẹp. Người xưa nói “lương ngôn nhất cú, tam đông noãn, ác ngữ thương nhân lục nguyệt hàn” (tạm dịch: thiện ý một câu ấm ba đông, lời độc lạnh người sáu tháng ròng), câu này rất hay, hy vọng mọi người có thể nghe được nhiều lời ấm áp, nói nhiều câu lương thiện.

Nước còn có thể nghe, khi nước được nghe những bản nhạc giao hưởng đồng quê của Beethoven, nó cũng có thể sinh ra những tinh thể nước tuyệt đẹp, cho thấy rõ rằng những giai điệu đẹp có thể giúp nước cảm nhận được niềm hạnh phúc của sinh mệnh. Nước còn có thể cảm tri, người dân tại các địa phương khác nhau của Nhật Bản đã từng hướng về một ly nước đặt trên bàn làm việc trong một văn phòng ở Tokyo cùng một lúc phát ra thông điệp yêu thương kiểu như “nước trở nên sạch sẽ!”, tinh thể nước ấy sau đó đã phát triển thành những hình dáng tuyệt đẹp khiến người ta chấn động. Nước trong tự nhiên như ở Nam cực, nước ở các suối khoáng đều có thể hình thành những tinh thể đẹp đẽ, nhưng nước trong các thành phố lớn trên khắp thế giới lại không thể nào kết tinh thành tinh thể được, chúng ta ngày nay đang uống chính là loại nước không thể kết tinh được ấy, mọi người thử nghĩ xem nó có đẹp hay không, có đáng sợ hay không? Vài năm trước báo chí có đăng tải một bài dân ca Thái Hồ, kể về quá trình nước tại Thái Hồ bị ô nhiễm nghiêm trọng: “Thập niên 50 vo gạo rửa rau, thập niên 60 chất nước thành xấu, thập niên 80 cá tôm chết sạch, thập niên 90 thân tâm bị hại”. Như thời chúng ta còn nhỏ, trước thôn còn có những con sông con suối nhỏ, đến khi trưởng thành không còn thấy nhiều sông suối nữa. Vào những năm 50 nước có thể uống trực tiếp; đến những năm 60 thì vẫn còn có thể dùng nước sông tưới tắm ruộng vườn; đến thập niên 70 chất lượng nước gần như đã xấu đi rất nhiều; những năm 80 thì cá tôm chết sạch, nói lên rằng nước đã ô nhiễm đến mức độ thế nào; cho đến thập niên 90 thân tâm đều bị hại, nước đã có mùi hôi, nhiễm độc, mọi người thử nghĩ xem nước ở Thái Hồ chỉ qua mấy chục năm mà đã thay đổi lớn biết bao!

Thiên nhân tương ứng, thật ra bài dân ca Thái Hồ cũng đã thể hiện được sự đổi thay của nhân tâm thời hiện đại, nước bị ô nhiễm là quả ác, sự thay đổi trở nên ác của lòng người mới chính là nguyên nhân căn bản. Mọi người có biết ở Tây An, trước kia vào thời nhà Đường còn được gọi là bát thủy Trường An, xung quanh có tám con sông, gồm cả hai con sông Vị và sông Kinh, ý muốn nói Trường An là vô cùng mỹ hảo. Sau này cưỡng chế xây dựng đập Tam Môn Hiệp đã làm mực nước sông Vị bị dâng cao khi chảy hòa vào dòng Hoàng Hà, trước đây tám trăm dặm đồng bằng Tần Xuyên là vùng đất của ngư dân, được gọi là Tiểu Giang Nam, từ khi xây đập thì cảnh đẹp ấy đã hoàn toàn biến mất, lũ lụt liên miên, đây đều là do con người tạo ra, “chiến trời đấu đất”, “đại nhảy vọt”, “ba lá cờ đỏ”, là do cuồng vọng, ngu xuẩn và tham lam của con người tạo nên, đến nay vấn đề hoàn cảnh tự nhiên bị ô nhiễm đã càng thêm nghiêm trọng, các ngành công nghiệp hóa học gây ô nhiễm như sản xuất giấy, dệt vải, mẹ trái đất không còn gánh nổi, đã rất khó để tự làm sạch được nữa rồi.

Thần kỳ nhất là kết tinh nước là quá trình trung gian từ băng hóa lỏng thành nước, khi băng đá sắp tan chảy nhưng vẫn chưa đạt đến trạng thái nước lỏng, hoàn toàn đều là cùng một chữ Hán là chữ Thủy (水), điều này khiến tiến sĩ Nhật Bản kia cảm thấy bội phục, sùng kính sát đất về chữ tượng hình Trung Quốc, cũng như khả năng nhìn thấu đến vi quan của người Trung Quốc cổ đại. Vậy nên mọi người nhất định phải kính trọng tiên tổ thánh hiền của dân tộc Trung Hoa chúng ta, họ kính trời lễ Thần, đại nhân đức, đại lương thiện, vì thế mới có được đại trí đại huệ, chúng ta nên học tập thật tốt những tấm gương ấy.

Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/149017