[ChanhKien.org]
Chương 7: Chí thiện chí mỹ
Phần 4: Vẻ đẹp của sinh mệnh
Khái niệm “mỹ” (đẹp) mà chúng ta nhắc đến rất rộng lớn, dường như đang nói đến vẻ đẹp của bậc đế vương, thật ra không phải, vẻ đẹp này đều có liên quan tới tất cả chúng ta. Các giáo viên chúng ta trước kia từng được gọi là vua của trẻ con đúng không, nghĩa là các thầy cô có ảnh hưởng rất lớn tới các em học sinh. Bạn có thể là một phóng viên hay chủ doanh nghiệp, hoặc bạn có thể là một nhà thiết kế, dù bạn làm ngành nghề gì thì chúng tôi đều mong bạn thật sự thành công, cùng mọi người sáng tạo nên nhiều điều mỹ hảo.
Hôm nay nhắc đến “mỹ” cũng là vì mọi người đều là những giáo viên nữ mỹ lệ, xinh đẹp, ai ai cũng xinh đẹp như hoa, nơi đây đúng là khu vườn trăm hoa tuyệt mỹ! Vậy thì chúng ta sẽ nói về hoa. Mọi người biết đấy, mỗi quốc gia, khu vực đều sẽ có một loài hoa tượng trưng cho đất nước, cho khu vực đó, Nhật Bản có hoa anh đào, Đài Loan thì có hoa mai. Đất nước chúng ta có hoa gì? Dù đã được thảo luận rất nhiều lần, nhưng đến nay vẫn chưa có kết luận, chủ yếu là vì ba quan điểm, một là mẫu đơn, còn một quan điểm khác nói về bốn loài hoa: hoa mẫu đơn vào mùa xuân, hoa sen mùa hè, hoa cúc mùa thu và hoa mai vào mùa đông; cũng có người đề xuất hai loại quốc hoa: mẫu đơn và hoa mai. Quốc hoa của Trung Hoa Dân Quốc là hoa mai, Macao sử dụng loại hoa tượng trưng cho khu vực là hoa sen, Hồng Công dùng hoa tử kinh. Trăm hoa đua nở, mỗi hoa một vẻ, cùng nhau khoe sắc.
Chúng ta nói về những bé gái, thường được ví như hoa như ngọc, vì sao các cô gái trẻ lại được ví như hoa? Vì họ có cùng một điểm chung đó là đều rất xinh đẹp. Trong văn minh Trung Quốc 5000 năm sáng lạn, đương nhiên bên trong những sự vật tốt đẹp đều có những câu chuyện tốt đẹp, ví như có rất nhiều câu chuyện về hoa, như câu chuyện “Thu Ông Ngộ Tiên Ký” kể về câu chuyện của thần hoa và ông lão yêu hoa, cũng rất thú vị. Hôm nay chúng ta sẽ nghe một câu chuyện về hoa mẫu đơn, kể về truyền thuyết nàng tiên hoa mẫu đơn và nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên.
Võ Tắc Thiên là vị nữ hoàng đế duy nhất trong lịch sử Trung Hoa, trong lịch sử Trung Quốc có rất nhiều nữ bá chủ đầy uy quyền có sức ảnh hưởng lớn như Lữ Hậu, Tiêu Thái Hậu, Hiếu Trang Hoàng Hậu, Từ Hi Thái Hậu, v.v, những người này đều rất xuất sắc, nhưng họ đều không được gọi là hoàng đế. Thời nhà Thanh có một cuốn sách tên là “Kính Hoa Duyên”, là một trong mười tác phẩm nổi danh của Trung Quốc, do Lý Nhữ Trân thời nhà Thanh viết, kể về câu chuyện phiêu lưu nơi hải ngoại của một thư sinh thời nhà Đường tên là Đường Ngao, chàng trai ấy theo đội thuyền đi đến rất nhiều quốc gia, nào là đất nước người khổng lồ, người tí hon, đất nước của người quân tử, nữ nhi quốc, v.v. Đây là nửa phần đầu của cuốn sách, nửa phần sau của sách chủ yếu lại nói về câu chuyện các nàng tiên của trăm loài hoa tề tựu về kinh thành Trường An, cả hai phần đều vô cùng thú vị. Tôi chỉ bàn về nửa phần sau của cuốn “Kính Hoa Duyên” này thôi, chủ yếu nói về câu chuyện của hàng trăm vị tiên hoa, chỉ vì một đoạn nhân duyên đã cùng đến nhân gian vào lúc Võ Tắc Thiên hạ thế, đó là chuyện gì vậy?
Chuyện kể rằng vào một ngày mùa đông, nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên uống rượu cùng mọi người, bà vô cùng cao hứng, sau khi ngà ngà say lại có hứng thú đi đến ngự hoa viên ngắm hoa, khi ấy vào đúng đợt rét đậm rét hại nên hoa rất ít, chẳng ngắm được mấy. Võ Tắc Thiên đã say rượu, nhìn thấy hoa không nở thì rất tức giận. Bà nói: “Ta là bậc đế vương chốn nhân gian, đến đây ngắm hoa, hoa mai này có thể nở, những loài hoa khác vì sao lại không thể nở chứ”. Bà liền gọi thái giám đến truyền chỉ, mệnh lệnh cho trăm hoa phải khai nở ngay lập tức cho bà ngắm. Thái giám đi một vòng rồi trở lại bẩm báo: “Thần đã nói rồi nhưng chúng không nghe”, định làm qua loa cho xong chuyện, nhưng Võ Tắc Thiên lại không chịu, cứ muốn hoa phải nở, thái giám chỉ đành nói: “Vậy phải cần ngài đích thân đến truyền chỉ”. Thế là Võ Tắc Thiên đã viết một bài thơ “Minh Triều Du Thượng Uyển”, sáng sớm ngày mai ta sẽ lại đến vườn ngự hoa viên này, “Minh triều du thượng uyển, hỏa tốc báo xuân tri. Hoa tu liên dạ phát, mạc đãi hiểu phong xuy”, không thể chờ đến trời sáng, bắt buộc phải toàn bộ nở hết. Viết xong liền đóng ấn, treo lên cành cây.
Khi này ở trên trời, 99 vị tiên hoa đã nhận được tin tức, liền đến tìm Bách Hoa tiên tử, nhưng lại không thấy nàng ta, mọi người cùng thương lượng nên làm thế nào. Những loài hoa quân tử như hoa sen, hoa quế, hoa cúc đương nhiên không đồng ý nở, vì Võ Tắc Thiên chỉ là đế vương chốn nhân gian, không có quyền lực quản chuyện trên thiên thượng, hơn nữa muốn trăm hoa đua nở vào mùa đông, đây là trái với thiên thời, trái thiên đạo, đây thật là vô lý, là yêu cầu bất chính, không thể chấp hành. Nhưng cũng có những loài hoa cảm thấy địa vị của mình thấp kém, không dám đắc tội hoàng đế, sợ bà ấy diệt hết ngọn nguồn của mình tại nhân gian, đã không dám đợi nữa, nhanh chóng chạy đi khai nở. Những vị tiên hoa khác thì lại muốn đợi thêm, nhưng khi ấy tìm thế nào cũng không tìm thấy Bách Hoa tiên tử, nàng ấy đã đi đánh cờ với người ta rồi, bạn xem, thật đúng là ham chơi làm lỡ dở sự việc.
Trời sáng rất mau, thật sự không tìm được, những vị tiên hoa còn lại nhanh chóng lần lượt rời đi, không dám chống lại ý chỉ của nữ hoàng đế, cuối cùng chỉ còn lại tiên hoa mẫu đơn không đi. Đến khi trời sáng, Võ Tắc Thiên đã tỉnh rượu, nhớ lại những chuyện mình đã làm khi say rượu thật quá hoang đường, nếu hoa không chịu nở thì thật mất mặt bậc làm đế vương. Nhưng bà ấy không ngờ là, sáng sớm nay hoa đều đã nở, bà vô cùng vui thích. Khi này chỉ có mỗi hoa mẫu đơn là vẫn còn chưa nở, Võ Tắc Thiên vô cùng tức giận, liền hạ chỉ nhổ sạch gốc của hoa mẫu đơn, lại dùng lửa than đốt sạch những gốc mẫu đơn này, bà nói rằng nếu đến buổi trưa mà hoa vẫn chưa nở, thì sẽ đốt sạch cả gốc lẫn ngọn mẫu đơn, khiến mẫu đơn bị tuyệt chủng khỏi nhân gian. Mẫu đơn tiên tử không muốn mất đi sắc hương của mình tại nhân gian, đành phải nhanh chóng hạ trần. Đến thời gian đã định, những gốc hoa mẫu đơn đã bị cháy xém hết cả gốc lại có thể bừng nở khoe sắc vô cùng mỹ lệ xinh đẹp. Những người yêu thích mẫu đơn đều kính phục tinh thần của mẫu đơn tiên tử không cúi đầu trước cường quyền, nhưng lại dám vì dân mà xả bỏ bản thân, đã gọi chúng là mẫu đơn rễ cháy, để ca tụng sức sống ngoan cường của mẫu đơn. Hoàng đế Võ Tắc Thiên đến lúc cuối cùng vẫn rất tức giận, đã đưa tất cả hoa mẫu đơn dọn đến phía đông thành Lạc Dương, thế nên sau này mẫu đơn tại vùng Lạc Dương là nhiều nhất, ngày nay trở thành thành phố hoa Lạc Dương.
Trung Quốc có từ “biếm trích” (贬谪 – lưu đày), tiên thơ Lý Bạch được gọi là trích tiên nhân (vị tiên trên trời bị phạt xuống hạ giới), ngoài ra còn có Trư Bát Giới, Sa Tăng đều bị lưu đày từ thiên thượng xuống. Có một chuyện mà người đọc sách làm quan thời xưa cơ bản đều sẽ trải qua, cũng chính là một bước ngoặt lớn của cuộc đời, đó là bị lưu đày, nghĩa là giáng chức quan. Những tác phẩm do các danh nhân như Liễu Đông Nguyên, Tô Đông Pha viết nên, phần lớn đều không phải được viết khi họ còn làm quan chốn kinh thành, mà là viết trong thời gian bị lưu đày, khi cuộc đời gặp bất hạnh mà viết nên những áng văn tuyệt sắc, những câu chuyện như thế vào thời cổ đại có rất nhiều, còn có câu nói nghiêm trọng hơn thế nữa là: “quốc gia bất hạnh, thi gia hạnh”. Trong những lúc gian nan khốn khó, trong ma nạn bất hạnh, những thánh nhân, quân tử thời xưa lại thể hiện được nhân cách thanh cao, tinh thần siêu phàm thoát tục, “tuế hàn nhiên hậu tri tùng bách chi hậu điêu dã” (diễn nghĩa: vào năm lạnh giá, mới biết cây tùng cây bách là loài héo úa sau cùng). Nói về mẫu đơn với nhan sắc diễm lệ tuyệt vời, hoa nở đóa lớn, đại biểu cho phú quý cát tường, đằng sau câu chuyện về những cây mẫu đơn cháy gốc đã thể hiện được vẻ đẹp của tinh thần, nó đã siêu việt khỏi những giá trị sắc đẹp vật chất bề ngoài, đây mới là những giá trị vĩnh hằng chân chính.
Hà hoa hay còn gọi là hoa sen cũng là một loài hoa được mọi người tán thưởng, có câu thơ rằng: “Xuất ô nê nhi bất nhiễm, trạc thanh liên nhi bất yêu” (diễn nghĩa: hoa sen từ bùn mọc lên mà không nhơ nhuốc, trơ trọi trên nước lăn tăn mà không ẻo lả cong vẹo), người người đều hết lời khen ngợi, có người tự xưng hoặc được người ta gọi là hà si (người say mê hoa sen), các chí sĩ văn nhân trong quá khứ đều vô cùng yêu quý phẩm cách này, Phật gia, Đạo gia, Nho gia, đều có truyền thống kính phụng bằng hoa sen, tiên thơ Lý Bạch có biệt hiệu là Thanh Liên cư sĩ, dù là người thi nhân nho nhã hay bách tính thường dân cũng đều yêu sen, kính sen, điều này là do hoa sen mang những nét đẹp tinh thần nội tại như chính trực, ngát hương, khiêm tốn và thoát tục.
Người xưa ca ngợi mẫu đơn tượng trưng cho sự phú quý, ca ngợi hoa sen là quân tử, sinh ra từ bùn mà lại chẳng bị ô nhiễm. Thân hoa thẳng không rẽ nhánh, nói lên rằng làm người cần chính trực, ở giữa lại trống rỗng, đại biểu cho sự khiêm nhường, nhã nhặn, hơn nữa mùi hương của sen cũng vô cùng thanh nhã, không hề sợ hãi mà đón cái nắng gay gắt ngày hè, thế nên những mỹ đức này đều là điều khiến người ta ca tụng. Hoa sen xuất hiện trong dân gian Trung Quốc, mọi người đều biết nó thường xuất hiện trong các bức tranh vẽ năm mới, có rất nhiều bức tranh như thế. Văn tự Trung Quốc cực kỳ thần kỳ, ví như nói những chữ đồng âm có rất nhiều, chữ “hà” trong từ hà hoa (hoa sen) đều đồng âm với chữ “hòa” (和) và chữ “hợp” (合), vừa có mối liên hệ lại vừa có sự khác biệt, tranh tết ở Trung Quốc thường có tranh “hòa hợp đồ”, còn một từ nữa là “hòa hợp nhị tiên”, nghe nói vào thời Đường có hai vị tăng nhân là Hàn Sơn, Thập Đắc, thơ của họ rất hay. Chữ “hòa” (和) và “hợp” (合) khác nhau thế nào, chữ “hòa” là do hai bộ ghép lại, chữ “hợp” lại là một chỉnh thể, trong “Luận ngữ” có câu rằng “Lễ chi dụng, hòa vi quý”. Đây là một khái niệm quan trọng trong văn hóa truyền thống Trung Quốc. Chính là nói, tác dụng của lễ, quý ở chỗ có thể hòa thuận. Ý nghĩa là, chiểu theo lễ để giải quyết hết thảy mọi việc, các mối quan hệ giữa người với nhau đều có thể giải quyết đúng mực, đều có thể hòa giải thích đáng, khiến các bên có thể hòa hợp lẫn nhau. Ngày nay tại Trung Quốc đại lục nhấn mạnh cách mạng, đấu tranh, phấn đấu, cạnh tranh, ác quả vô cùng lớn. Tại cố cung Bắc Kinh, khi hoàng đế thi hành quyền lực hoặc tổ chức đại hội thường dùng đến ba đại điện, lần lượt là Thái Hòa Điện, Trung Hòa Điện, Bảo Hòa Điện, có thể thấy được sự xem trọng của người xưa đối với chữ “hòa”, vì chỉ có như thế thì cá nhân, gia đình, đất nước và cả thế giới mới có thể tốt đẹp.
Còn có một câu nói khác là “quân tử hòa nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hòa” (diễn nghĩa: quân tử hoà mà không đồng, tiểu nhân đồng mà không hoà). Tâm người quân tử tương hòa, có thể kiến giải, biểu hiện, phương pháp không nhất định giống nhau, kẻ tiểu nhân ham muốn công danh lợi lộc có thể như nhau, nhưng lại tranh giành tư lợi cá nhân, thế nên mới nói là bất hòa. Chính là những gì mà nội tâm người quân tử nhìn thấy là tương đồng, nhưng biểu hiện bên ngoài của nó lại không phải đều như nhau, ví như nói việc tâm chứa đựng thiên hạ, có người làm quan, làm lãnh đạo ban hành chính sách tốt tạo phúc cho dân, có người lại làm thầy giáo dạy dỗ học trò, cái “bất đồng” này có thể cùng “hòa”; kẻ tiểu nhân tuy sở thích cũng tương đồng, nhưng vì điểm tương đồng là tranh giành tư lợi, ắt sẽ xung đột lẫn nhau, loại “đồng” này ngược lại lại dẫn đến “bất hòa”. Quân tử ở cùng nhau có thể đồng tâm dù biểu hiện mỗi người có thể là khác nhau, mọi người khi cùng nhau làm việc thì cũng như mối quan hệ của trăm hoa, chúng ta đều là những bậc quân tử khiêm nhường “hòa nhi bất đồng”, đều là những bông hoa xinh đẹp độc nhất vô nhị trên thế giới.
Khi Võ Tắc Thiên còn tại vị từng tổ chức cuộc thi nữ giới, Bách Hoa tiên tử vì chuyện trước đó bị đày xuống nhân gian, cuối cùng trăm nàng tiên Hoa lại tề tựu chốn nhân gian, đều đến kinh thành Trường An tham gia kỳ thi, đương nhiên họ đều thi đậu. Hôm nay chúng tôi muốn nói với mọi người, khi các bạn cùng đến phỏng vấn, học tập, thì đây là mối quan hệ bình đẳng, không cần phải đi tranh đi đấu, lần trước khi nói đến điều này mọi người đều đã hiểu, bây giờ tôi chỉ muốn nhắc lại. Chúng ta từng bàn về sự cảm ơn, từ “hiếu” mà nói, cần trên từ dưới hiếu; còn “đễ” chính là giống như anh chị em trong cùng một nhà, khi ở cùng nhau cần động viên lẫn nhau, vì sao thế? Trân quý duyên phận, thân thiết như chị em, giúp đỡ lẫn nhau, thật ra điều này vô cùng quan trọng. Quá khứ là có đạo lý: tương sinh tương khắc. Nói đơn giản về ngũ hành, kim mộc thủy hỏa thổ, năm phương hướng: đông, nam, trung tâm, tây, bắc và bốn mùa xuân hạ thu đông đều có sự đối ứng lẫn nhau, hướng trung tâm đối ứng với trường hạ của bốn mùa. Chúng ta vẫn nhấn mạnh vào hoa, mẫu đơn là hoa của mùa xuân, hoa sen là hoa của mùa hè, hoa cúc là hoa của mùa thu và hoa mai là hoa của mùa đông.
Xuân hạ thu đông, âm dương Trung Quốc đối ứng với ngũ hành, xuân là mộc, thời điểm thực vật sinh trưởng; hạ là hỏa, thời điểm nóng nhất; trung tâm là một chữ thổ; thu là kim, là mùa thu hoạch; đông là thủy. Tương sinh chính là thuận theo vòng ngũ hành, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy có thể sinh ra mộc, đây đều là tương sinh. Tương khắc chính là cách một nguyên tố, mộc khắc thổ, hỏa khắc kim, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa. Ý của tôi muốn nhắc đến những điều tương sinh tương khắc, cần thay đổi những thứ tương khắc với nhau. Trong quá khứ giả như nói bạn là một người vợ nóng tính, có lẽ ông trời đã hy vọng bạn có thể ổn thỏa hơn, nên đã chọn cho bạn một người chồng có tính cách chậm chạp, giữa hai người bạn cũng có cùng ý nghĩa này. Nếu như chúng ta ngày nay không cần đến sự khắc chế lẫn nhau này, toàn bộ là tương sinh, không tương khắc mà là cùng giúp lẫn nhau, bổ sung cho viên dung, đây chính là một vườn hoa mỹ lệ, tốt đẹp.
Còn hoa cúc thì sao, nó có liên quan rất lớn với Đào Uyên Minh, “thải cúc đông li hạ, du nhiên kiến nam san” (diễn nghĩa: rào đông hái cúc chiều nay, xa trông thấy núi Nam ngay trước nhà). Đào Uyên Minh yêu thích hoa cúc, hoa cúc là kẻ ẩn dật trong các loài hoa, xem danh lợi rất đạm bạc, an bần vui đạo. Hoàng Sào cũng từng viết những áng thơ về hoa cúc, toát lên vẻ cao ngạo, sự xông phá, còn có cả sự tiêu điều của ngày thu.
Vừa nãy khi nói về hoa mai cũng rất đáng được ca ngợi, có người gọi là hoa tuyết mai, khi đặt tên cho nó, các vị trưởng bối đều đã cấp cho nó những điều vô cùng mỹ hảo. Vương An Thạch thời Bắc Tống có một bài thơ “Mai”, “tường giác sổ chi mai, lăng hàn độc tự khai. Dao tri bất thị tuyết, vi hữu ám hương lai” (diễn nghĩa: Ở góc tường có mấy nhành mai, khi rét tới, chỉ nở một mình. Từ xa đã biết không phải là tuyết, vì có hương thoang thoảng bay tới). Ở đây ông ấy đã so sánh “tường giác sổ chi mai”, số lượng của nó rất ít, “lăng hàn độc tự khai”, dùng một chữ “lăng”, mang nghĩa lăng vân chi chí – chí hướng cao xa, vượt xa khỏi cái lạnh này, cái lạnh này đã lạnh đến mức khiến nhiều loài hoa gục ngã, lăng hàn độc tự khai, không sợ cô độc, không sợ khó khăn. “Dao tri bất thị tuyết”, vì sao biết được đây không phải tuyết? Vì “vi hữu ám hương lai” có hương thơm bay đến.
Vì sao lại so sánh hoa mai với tuyết, vì tuyết rất thuần khiết, rất trắng, hơn nữa nó lại rơi từ trên trời xuống, những thứ từ trên trời đều rất thánh khiết, không bị ô nhiễm. Đương nhiên những áng văn thơ ca ngợi tuyết cũng có rất nhiều, ca tụng sự thanh khiết của nó, sau khi bị mùa xuân làm tan chảy còn có thể nhuận thắm cho vạn vật, “đông thiên mạch cái nhất tằng bị, lai niên chẩm trước man đầu thụy” (diễn nghĩa: Mùa đông tuyết rơi dày như đắp ba lớp chăn cho lúa mạch, năm sau được mùa tha hồ gối đầu lên bánh bao mà ngủ), tuyết có lợi cho chúng sinh. Vậy còn hoa mai? Vì để mai ngát hương, nó không những có sự thanh cao của tuyết, lại còn ngát hương thơm và xinh đẹp, hoa mai đã vô tư đem vẻ đẹp ấy và cả hương thơm thanh đạm kia, âm thầm tặng cho con người. Hoa sen, hoa mai đều có một loại hương thơm thoang thoảng, càng xa lại càng thấy thơm, “trạc thanh liên nhi bất yêu” ý nói bề ngoài của nó rất đẹp, nhưng là cái đẹp thanh thuần, thánh khiết, thế nên “bất yêu” (không ẻo lả).
Vậy nên tuyết mai là cái tên có ý nghĩa như thế, đem đến hy vọng cho mọi người, gửi gắm sự tốt đẹp, vì người khác mà làm thuần khiết chính mình, hương thơm nhẹ dịu ấy cùng sự mỹ hảo là để chia sẻ đến cho người khác. Khí thế “lăng hàn độc tự khai” của nó có một vẻ đẹp tinh thần siêu nhiên, bừng nở mỹ lệ, đem tặng hương thơm thanh mát cho người khác, thế nên loại hoa như hoa mai được gọi là hoa của người quân tử, hoa báo mùa xuân. Trong “Kính Hoa Duyên” đã phân hoa làm ba loài, loài hoa đẳng cấp cao có thể làm thầy, hoa bậc trung có thể làm bạn, loại hoa bậc thấp chỉ có thể làm nô tỳ. Có loài hoa vô cùng diêm dúa, mùi hương cũng rất nặng, rất đẹp nhưng lại thiếu tinh thần cốt cách, loại ấy chỉ có thể như tỳ nữ, như nha hoàn được người ta yêu quý, chỉ được người ta thưởng thức chứ không được tôn kính.
Có loài hoa có thể xem như người bạn, ví như nói hoa hồng, nó lẽ ra khá là thấp kém, nên được xếp vào nhóm tỳ, vậy sao nó lại được xếp vào nhóm bạn bè? Trong sách nói rằng vì thời gian nở hoa của nó khá dài, ba mùa xuân hạ thu đều có thể khai nở, thời gian nở hoa của nó khá dài, mà giữa bạn bè với nhau đều hy vọng có thể có tình bạn dài lâu, nó có mỹ đức như thế. Trong nhóm hoa làm thầy, bốn loài mẫu đơn, hoa sen, hoa cúc, hoa mai chắc chắn đều có, chúng như thánh hiền vậy, bên ngoài mỹ lệ, nội tâm đẹp đẽ, cái đẹp tinh thần ấy càng siêu việt vẻ đẹp bên ngoài, con người có thể học được rất nhiều từ chúng, thế nên chúng có thể làm thầy, như người thầy của chúng ta vậy.
Cũng như việc đặt tên cho con trẻ, mọi người đều sẽ nghĩ đến những cái tên như Hà, Phương, v.v., đều rất thanh cao, tốt đẹp. Nói đến những loài hoa, thật ra chúng là nói về mọi người chúng ta đang ngồi tại đây, chúng ta đều là những đóa hoa ngát thơm xinh đẹp. Mọi người có thể tề tựu cùng nhau tại đây cũng là một loại duyên phận, thế nên khi nãy tôi nói việc chúng ta động viên lẫn nhau là rất quan trọng, chính là khi bình thường mọi người cần động viên nhau nhiều hơn nữa. Mặc dù mọi người có tính cách khác biệt, là “hòa nhi bất đồng”, mọi người vẫn vô cùng hòa thuận, rất tự nhiên mà dung hòa thành một thể, nhưng mỗi người lại có những tính cách khác nhau, tuy mọi người không y hệt, tương đồng, nhưng đều rất mỹ hảo.
Tiểu nhân thì “đồng nhưng bất hòa”, mục tiêu của họ có thể cùng là một, tất cả đều đang giành giật, trộm cướp, giành giật cướp đoạt xong thì chia nhau, nhưng khi phân chia đồ, mỗi người đều muốn được phần nhiều hơn, lại đố kỵ, tính toán lẫn nhau, họ không có sự tương hợp trong nội tâm. Chúng ta ở đây cùng nhau dạy học, dấn thân vào ngành giáo dục, loại hòa này là phù hợp với Đạo, mọi người cùng nhau “hữu bằng tự viễn phương lai”, tạo ra những việc có lợi cho thế giới, cho xã hội, như việc chúng ta giáo dục thật tốt thế hệ sau, điều này tốt đẹp biết bao! Nhưng ngược lại, thánh nhân đã nói, nếu giáo dục không tốt thế hệ sau, chúng ta thân làm cha mẹ, làm thầy cô, làm trưởng bối thì sẽ phạm đại tội.
Vậy nên mọi người ở cùng nhau thì hòa nhi bất đồng, chúng ta vẫn có những phong cách khác nhau, mọi người có thể học tập, noi gương lẫn nhau thì sẽ có được môi trường thật tốt, như thế sẽ giúp tất cả chúng ta cùng nhau trưởng thành nhanh hơn. Vậy nên rất nhiều giáo viên của chúng ta ngồi tại đây đều cảm thấy thu hoạch được rất nhiều, thật ra chính là vì có một môi trường như thế này, khi mọi người đang giảng bài, giả sử chúng ta có 10 giáo viên, mỗi người giảng một tiết học thì mỗi giáo viên đều sẽ có rất nhiều thu hoạch trong mấy tiết học ấy, đây chính là hòa nhi bất đồng, vậy thì bạn sẽ trưởng thành nhanh hơn nữa. Khi một mình bạn nghiên cứu một bài học, suy nghĩ của bản thân bạn rất khó đạt được rộng như thế, thế nên tôi nói mọi người cần tương sinh, cần thấu hiểu lẫn nhau, tôn trọng lẫn nhau, không nên tương khắc nhau. Trong quá khứ nói là có duyên phận, thật ra ở đây có cả thiện duyên và ác duyên, khi bạn nhìn thấy những khuyết điểm và thiếu sót của người khác, bạn chủ động giúp đỡ, bổ sung, viên dung cho nhau, cùng nhau làm sự việc trở nên tốt hơn, thay vì tương khắc nhau, như vậy có thể xây dựng được mối quan hệ đúng đắn giữa người với người. Dù là tại gia đình hay trong đơn vị, bạn đều làm được chính, thì bạn chính là hoa mai trong giá lạnh, là hoa sen không nhuốm bùn, không chỉ bản thân bạn không bị nhiễm bẩn, mà còn có thể đem lại điều tốt đẹp cho người khác.
Cuối cùng tôi muốn giảng với mọi người, chính là “khổ kỳ tâm chí” (diễn nghĩa: khổ về tinh thần), làm một người trẻ, bạn nhất định không được sợ chịu khổ. Từ góc độ của bậc trưởng bối trong gia đình, mỗi bậc phụ huynh đều hy vọng bạn tìm được công việc tốt hơn, hy vọng bạn tìm được một hoàng tử Bạch Mã thương yêu bạn, không có mâu thuẫn, cực kỳ hạnh phúc. Nhưng trong cuộc sống thực tế, mọi người cũng đã phát hiện rằng các sự việc không thể nào thuận buồm xuôi gió được như thế, đời người không thể không gặp khó khăn gì. Thế nên nói “khổ kỳ tâm chí” là vô cùng cần thiết, dù tương lai bạn gặp phải những mâu thuẫn nào, bạn đều có thể xem hoa sen, hoa mai như bạn bè, như người thầy, hoặc nói bạn xem thánh hiền như người bạn, như người thầy. Gặp khó khăn, gặp việc không như ý, bạn hãy nghĩ đến Khuất Nguyên, khoảng thời gian để ông duy trì sự thanh cao ấy đã được đánh đổi bằng chính sinh mạng của ông, Nhạc Phi cũng thế, chúng ta cần học tập tinh thần của họ. Tôi muốn nói là ý nghĩa này, chính là hy vọng mọi người có một hoàn cảnh thật tốt, không có mâu thuẫn mới tốt, nhưng nếu có mâu thuẫn thì chúng ta cũng không sợ, coi đó là để thành tựu chúng ta, “thiên tương giáng đại nhậm vu tư nhân dã!” (diễn nghĩa: Là trời sắp ban cho nhiệm vụ trọng đại).
Dù bạn thích hay không thích những chuyện khó khăn, phiền toái thì có lúc nó vẫn sẽ cứ xảy ra, những lúc như thế, mọi người nhất định cần nghĩ rằng đây là cơ hội mà ông trời ban cho để thành tựu chính bạn, trong “Học Ký” có viết: “Ngọc bất trác, bất thành khí”, ngọc phải được mài giũa thì nó mới trở thành món trang sức đẹp đẽ. Có một câu chuyện thế này, kể rằng trong núi có một khối đá lớn, bị người đá qua đá lại thành hai khối đá, một khối được làm bậc thang lên núi, một khối thì được chế tác thành một pho tượng Phật, người ta giẫm trên bậc thang để leo lên núi, nhưng lại bái lạy pho tượng Phật. Thời gian lâu rồi, bậc thang đó cảm thấy bất bình, nó nói với pho tượng Phật: “Chúng ta là từ cùng một khối đá tách làm hai, vì sao người ta lại đạp lên ta mà lại bái lạy ngươi chứ?”
Pho tượng bình tĩnh đáp: “Người làm bậc thang chỉ phải chịu vài nhát đao, còn ta để trở thành tượng Phật thì phải trải qua ngàn vạn nhát đao”. Chính là nói việc chịu khổ có thể giúp thành tựu con người, cổ ngữ có câu “Bảo kiếm phong tòng ma lệ xuất, mai hoa hương tự cổ hàn lai” (diễn nghĩa: Bảo kiếm sắc là nhờ được mài ra, hoa mai thơm là nhờ thống khổ trong buốt giá). Trong tác phẩm “Lãng Đào Sa” của Lưu Vũ Tích viết: “Tiên đào vạn lộc tuy tân khổ, xuy tận cuồng sa thủy đáo kim” (diễn nghĩa: Đãi lọc nghìn vạn lần tuy vất vả, thổi hết cát cuồng mới thấy được vàng). Sóng lớn cuốn cát đi, còn lại mới là vàng ròng. Đây chính là điều mà chúng ta thể nghiệm được trong quá trình ấy, vậy nên mọi người sau này nếu khi gặp những chuyện cực kỳ khó khăn, bạn đừng xem nó thật sự là khổ.
Chúng ta không chỉ cần không được sợ khổ kỳ tâm chí, mà còn có thể đổi thành một cách nghĩ khác tốt hơn nữa, cũng chính là một cảnh giới khác cao hơn, ấy là lấy khổ làm vui. Bạn nhìn nhận nó một cách chính xác, xem nó là những bậc thang cho sự thành công của mình, một cơ hội tôi luyện bản thân, như thế là bạn đang hướng đến thành công. Vậy thì bạn cũng sẽ như hoa mai, như hoa sen, đem đến điều tốt đẹp cho người khác, bản thân cũng sẽ đạt đến cảnh giới gần bùn mà chẳng tanh hôi mùi bùn. Hôm nay nói về mỹ hảo, thật ra tôi đang tặng lời chúc phúc lớn nhất đến mọi người, hy vọng mọi người đều có thể có được cuộc đời tốt đẹp, hạnh phúc, khi gặp phải khốn cảnh bạn cũng không sợ hãi, khi bạn có thể nhìn nhận nó một cách chính xác, lấy khổ làm vui không phải trong khi chịu khổ lại giả vờ như đang vui, khi tôi khó chịu tôi cũng phải ép mình cười tươi, không phải như thế, khi bạn thật sự phát hiện rằng việc chịu khổ là việc tốt nhất, thì đó mới là thật sự tốt, thật sự vui vẻ.
Trân quý duyên phận này, kỳ thực cái khổ này cũng cần được trân quý, dù bạn ở hoàn cảnh này hay một hoàn cảnh khác, mọi người có thể được ở cạnh nhau đều là duyên phận, đều cần được trân quý. Các bạn không phải là mối quan hệ cạnh tranh, giả sử khi bạn coi mọi người như chị em, khi người ta tuyển chọn mười người, có 12 người đến ứng tuyển, thế thì chúng ta có thể nói là: “Bạn đến đi, tôi sẽ rút!” Người dám làm như thế, đến nơi khác có phải cũng sẽ vui vẻ như thế, người này đi đến đâu cũng được người ta chào đón, phải không? Mọi người chúng ta nhất định không được tranh giành, là của bạn thì không ai giành được, “nhân thiện nhân khi thiên bất khi” (diễn nghĩa: người thiện lương dù bị người khác đối xử tệ bạc thì trời cao cũng sẽ không phụ bạc). Quá khứ người xưa nói thế này: “Nhất niên chi kế tại vu xuân, nhất thiên chi kế tại vu thần, nhất sinh chi kế tại vu cần” (diễn nghĩa: Một năm lo liệu từ xuân, kế hoạch một ngày từ sáng sớm, một đời muốn sướng phải lo chuyên cần). Đây là nói đến việc quý trọng thời gian. Thời Bắc Tống có một nhà dự ngôn tên là Thiệu Ung, là một đại sư xem bói, ngày nay rất nhiều người xem bói ngoài phố đều đang sử dụng phương pháp của ông ấy, ông từng nói một câu thế này: “Thiên hạ tương trị, tất thượng nghĩa dã, thượng nghĩa tắc khiêm nhượng chi phong thịnh hành” (diễn nghĩa: khi thiên hạ an định, tất nhiên phải trọng nghĩa, trọng nghĩa thì ắt sẽ thịnh hành không khí khiêm nhường), tôn sùng nghĩa khí, đạo đức, ấy là tinh thần của con người, “hướng nghĩa tắc khiêm nhượng chi phong thịnh hành”, mọi người cần khiêm tốn nhường nhịn lẫn nhau.
Còn một câu nữa là: “thiên hạ tương loạn, tất thượng lợi dã, thượng lợi tắc nhương đoạt chi phong thịnh hành” (diễn nghĩa: khi thiên hạ loạn, ắt sẽ xem trọng lợi, xem trọng lợi thì sẽ thịnh hành việc tranh đoạt cướp bóc), tranh đoạt lẫn nhau, nếu là như thế, thiên hạ ắt sẽ đại loạn, họa hoạn của cá nhân bạn chẳng phải cũng nằm trong ấy sao? Khi chúng ta cùng nhau trân quý duyên phận hiếm gặp này, chúng ta sẽ có chí hướng rộng lớn hơn, vậy nên trăm hoa khai nở không phải là tranh giành, chúng ta đưa điều tốt đẹp của mình triển hiện ra, nếu người khác có cơ hội tốt đẹp hơn, chúng ta cũng cam tâm tình nguyện làm viên đá lót đường, làm bậc thang nâng đỡ họ thăng hoa, làm viên đá thử ngọc cho họ, bạn có bằng lòng làm viên đá ấy chăng? Bạn có nguyện lòng gánh chịu những giá lạnh, những ô uế, những khốn khổ ấy hay không?
Thật ra thánh hiền thời cổ đại đều đã để lại cho chúng ta những tấm gương, mọi người đều biết thánh hiền cổ đại đều chịu rất nhiều khổ, sở dĩ Khuất Nguyên viết nên được tác phẩm “Ly Tao” là vì ông ấy đã bị lưu đày; tác phẩm “Tả Truyền” của Tả Khâu Minh được viết khi mắt ông đã mù; Tư Mã Thiên đã để lại cho chúng ta những trang sử đáng tin, những áng văn mỹ hảo, thành tựu văn học, sử học cao đến thế, nhưng ông ấy cũng từng chịu họa cung hình, ông ấy nhờ nhẫn chịu nỗi sỉ nhục này, mới để lại những thành tựu như thế, mới vĩ đại đến vậy, thế nên đôi khi khổ không phải chuyện xấu. Dưới ánh sáng rực rỡ của thiện chiếu rọi, những nỗi khổ mà trước kia mọi người từng nếm trải, những gì trước đây chúng ta từng cho là khổ, thì nay có thể sẽ biến thành vẻ đẹp tuyệt mỹ của vũ trụ lấp lánh ánh vàng kim, hạnh phúc vô tỷ!
Được rồi, hôm nay chúng ta đã nói về chí thiện chí mỹ, hy vọng mọi người đều có thể thông qua việc tu dưỡng bản thân mà chân chính đạt đến cảnh giới như thế, sự chí thiện trong nội tâm và chí mỹ bề ngoài được dung hợp thành một. Chân thành chúc mọi người có một cuộc đời hạnh phúc, vĩnh viễn tốt đẹp!
(Giảng vào tháng 12 năm 2008)