Tác giả: Nhược Bình Tử

[ChanhKien.org]

Dựa trên các sách cổ hiện còn lưu giữ, “chúc do” được tìm thấy xuất hiện sớm nhất ở các phần “Tố Vấn” và “Linh Khu” trong sách “Hoàng Đế Nội Kinh”. Theo mô tả trong hai cuốn sách này và ý nghĩa gốc của từ “chúc do” (祝由), thì “chúc” (祝) có nghĩa là “khấn cầu”, phần lớn được thực hiện bởi thầy cúng (vu: 巫), bởi vì “vu” và “chúc” về cơ bản có cùng nội hàm trong thời cổ đại. “Do” (由) tức để chỉ nguyên nhân hoặc nguồn gốc của bệnh. Vì vậy “chúc do” (祝由) là một phương pháp chữa bệnh bằng cách sử dụng lời khấn cầu dựa trên nguyên nhân bệnh ở chỗ đó.

Sách “Tố Vấn” giải thích rằng đây là “phương pháp chữa bệnh cổ truyền”, nhằm loại bỏ nguyên nhân gây bệnh bằng cách “di tinh biến khí” (điều tiết tinh thần, thay đổi khí). Do đó có thể thấy rằng “chúc đảo” (khấn cầu) chỉ là hình thức bề ngoài mà mọi người có thể nhìn thấy, quá trình chữa bệnh thực sự và cốt lõi được thực hiện trong “di tinh biến khí” vượt ra ngoài các cơ quan cảm giác. Thời “vãng cổ”, mọi người không có những hoạt động tâm lý phức tạp, tâm trí họ hướng vào bên trong, không bi lụy với thân quyến, sống hòa mình với thiên nhiên và thuận theo sự thay đổi của bốn mùa. Trong một thế giới tĩnh lặng như vậy, sinh lực của con người mạnh mẽ và khỏe mạnh, tà khí không thể xâm nhập sâu vào cơ thể họ. Do đó, “Di tinh chúc do” (thay đổi tinh thần, điều hòa sự vận hành của khí và dùng chúc do) là đủ để chữa khỏi bệnh. Đến thời Hoàng Đế và Kỳ Bá, con người đã thay đổi không còn tuân theo quy luật tự nhiên nữa. “Bên trong thì bị ưu sầu trăn trở ràng buộc, bên ngoài thì bị lao khổ làm tổn thương thân thể”. Hơn nữa, việc không thích nghi với sự thay đổi của bốn mùa và làm việc trái với khí tiết tự nhiên của nóng lạnh sẽ khiến cho “tặc phong” (gió độc) và “hư tà” (tà khí) thường xuyên tấn công cơ thể, gây tổn hại cho “ngũ tạng và tủy xương” ở bên trong, cũng như tổn hại đến các huyệt và da ở bên ngoài. Điều này có thể dẫn đến những bệnh nhẹ trở thành bệnh nặng, bệnh nặng dẫn đến tử vong. Cứ như vậy, các phương pháp chúc do không còn hiệu quả như trước nữa. Theo ghi chép của sách “Linh Khu”, phương pháp chữa bệnh của chúc do xưa nay vốn dĩ có hiệu quả trong việc điều trị các bệnh lạ xuất hiện đột ngột mà không rõ nguyên nhân bên trong hay bên ngoài. Các bệnh này thường được cho là do quỷ thần gây ra, vì vậy việc thầy cúng đến cầu khấn là điều đương nhiên. Nhưng, Kỳ Bá cho rằng một số tà bệnh vẫn còn tồn tại trong cơ thể “chưa phát bệnh”, một khi tình chí của bệnh nhân dao động, “khí huyết sẽ rối loạn”, chính tà “hai loại khí đánh nhau” sẽ gây ra bệnh tật. Vì nguyên nhân (cấu trúc vật chất) của các bệnh này vô cùng tinh vi, “thị chi bất kiến, thính nhi bất văn” (nhìn không thấy, nghe không được), do đó giống như quỷ thần gây ra. Khi Hoàng Đế hỏi tại sao cầu khấn có thể chữa khỏi bệnh, Kỳ Bá trả lời rằng các thầy mo thời xưa biết cách khắc chế các loại bệnh tật, lại có thể đoán trước được bệnh tật đến từ đâu, vì vậy họ dùng cầu khấn để chữa trị thì có thể hiệu quả.

Theo ghi chép của “Lịch đại chức quan biểu” thì phương pháp chữa bệnh bằng “chúc do” không được đề cập đến trong các cơ quan chữa bệnh nhà nước từ trước thời nhà Chu đến thời nhà Đường. Tuy nhiên, đây là một trong bốn bộ phận chính của “Thái Y Thự” thời nhà Đường, chỉ khác là nó được gọi là “chú cấm” (咒禁), nhấn mạnh nội hàm “chúc đảo” (祝祷: cầu đảo) và tính chất “chú ngữ” (咒语: câu thần chú) của lời cầu khấn. “Thái Y Thự” thời nhà Đường vừa là cơ sở giáo dục y tế vừa là đơn vị chữa bệnh, được tổ chức thành bốn bộ phận: Y khoa (khoa Y học), Châm khoa (khoa Châm cứu), Án ma khoa (khoa Xoa bóp) và Chú cấm khoa (khoa dùng thần chú trị bệnh). Trong đó Y khoa lại lập ra các chuyên ngành khác nhau như Thể liệu (Nội khoa tổng quát), Thiếu tiểu (Nhi khoa), Sang thũng (Ngoại khoa), Nhĩ Tỵ Khẩu Xỉ (Khoa tai–mũi–miệng–răng), và Giác pháp (Khoa giác hơi), v.v. Trong mỗi khoa đều bố trí một “Bác sĩ”, ngoài ra, lần lượt còn có một số người giữ các chức danh như “Y sư” (thầy thuốc giỏi có thể độc lập chữa trị), “Y công” (kỹ thuật viên như bào chế thuốc, xoa bóp, châm cứu,…) và “Y sinh” (thực tập sinh y khoa). Riêng trong Y khoa và Châm khoa, mỗi khoa còn có thêm một “Trợ giáo” (người hỗ trợ bác sĩ trong việc giảng dạy y sinh, có vị trí thấp hơn “Bác sĩ” nhưng cao hơn “Y sư”). Trong “Chú Cấm Khoa” lúc bấy giờ có một “Bác sĩ Chú Cấm”, hai “Chú Cấm Sư”, tám “Kỹ thuật viên Chú Cấm” và mười “Học viên Chú Cấm”.

Từ sau thời nhà Đường đến trước thời nhà Minh, các thuật ngữ “Chúc do” hoặc “Chú cấm” đã không còn thấy ghi chép trong các văn bản chính thức nữa. Cơ quan quản lý và đào tạo y tế cao nhất thời nhà Minh là “Thái Y Viện”. Trong Thái Y Viện có 13 khoa gồm: Đại phương mạch (Nội khoa người lớn), Tiểu phương mạch (Nội khoa trẻ em), Phụ nhân (Phụ khoa), Sang dương (Ngoại khoa), Châm cứu (khoa Châm cứu), Nhãn (khoa Mắt), Khẩu xỉ (khoa Răng miệng), Tiếp cốt (Khoa chỉnh hình nối xương), Thương hàn (Khoa thương hàn), Yết hầu (Khoa tai mũi họng), Kim thốc (Khoa điều trị thương tích do binh khí kim loại), Án ma (Khoa xoa bóp, vật lý trị liệu), Chúc do (Khoa chúc do, trị bệnh bằng cầu khấn, thần chú). Một mặt, phương pháp chữa bệnh bằng chúc do đã lấy lại được sự công nhận và ủng hộ từ các cơ quan y tế cao nhất của nhà nước; mặt khác, khoa chúc do là khoa cuối cùng trong mười ba khoa, do đó có tên gọi là “khoa mười ba chúc do”. Vào đầu triều đại nhà Thanh, các khoa của Thái Y Viện được thu hẹp xuống còn mười một khoa, khoa Chúc Do bị loại khỏi Thái Y Viện. Sau thời nhà Minh, dường như khoa chúc do đã không còn quay trở lại danh sách các cơ sở y tế chính thức nữa.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là phương pháp chữa bệnh bằng chúc do không còn được sử dụng hoặc đã bị thất truyền. Trong thời kỳ cao trào khí công ở Trung Quốc đại lục, một số người còn truyền phương pháp trị bệnh bằng chúc do như là phương pháp khí công, hoặc sử dụng chúng để chữa bệnh kiếm tiền. Vì nó có một số điểm tương đồng với phương pháp trị bệnh bằng khí công: cả hai đều không sử dụng thuốc; cơ chế trị bệnh đều không thể dùng các lý luận y học thông thường để giải thích, v.v., vì vậy một số người nhầm lẫn nó với phương pháp chữa bệnh bằng khí công.

Nếu một phương pháp điều trị vượt ra ngoài phạm vi mà các giác quan người bình thường có thể cảm nhận được, đồng thời cũng vượt khỏi khuôn khổ nhận thức thông thường của con người, hơn nữa thường không thể thông qua sự nỗ lực của bản thân người thường mà học được, lại càng không thể truyền dạy và phổ biến trên diện rộng, thì chúng ta gọi đó là phương pháp điều trị “siêu thường”. Ví dụ, các phương pháp nội khoa trong Trung Y không phải là siêu thường, bởi vì trong hầu hết các trường hợp, các bài thuốc của Trung Y đều phù hợp với lý luận cơ bản của Trung Y hiện có, những lý luận này mọi người đều có thể học và truyền dạy; châm cứu và xoa bóp cũng không phải là những phương pháp siêu thường, quá trình điều trị của chúng có thể được đa số bệnh nhân cảm nhận hoặc ít nhất là cảm nhận được một phần, lý luận của chúng đã trở thành chuẩn tắc chỉ đạo cho điều trị lâm sàng, việc học tập cũng như truyền thụ các phương pháp này cũng đã được phổ biến rộng rãi. Còn “chúc do” chính là một phương pháp điều trị mang tính siêu thường, bởi cho đến nay con người vẫn chưa có một hệ thống lý luận phổ biến nào có thể được người bình thường hiểu và chấp nhận để hướng dẫn và giải thích nguyên tắc trị bệnh của nó. Cần lưu ý rằng, trong bất kỳ phương pháp trị liệu nào không mang tính siêu thường cũng có thể hàm chứa một số yếu tố mang tính siêu thường. Ví dụ, phương pháp nội khoa trong Trung Y không phải siêu thường, nhưng một số bài thuốc trong Trung Y (chẳng hạn như một số bài thuốc trong cuốn “Thiên Kim Yếu Phương” của Tôn Tư Mạc) lại có cấu trúc hoàn toàn không phù hợp, thậm chí trái ngược với các lý luận Trung Y hiện hành, nhưng lại có hiệu quả trị liệu rất tốt, khi chúng ta sử dụng những bài thuốc này để điều trị bệnh, chúng ta có thể nói rằng chúng ta đang sử dụng những phương pháp siêu thường. Vì vậy, khi chúng ta nói rằng một phương pháp điều trị không phải là siêu thường, thì điều đó có nghĩa là trong các ca dùng phương pháp này để chữa bệnh, thì tuyệt đại đa số đều không sử dụng những phương pháp siêu thường.

Khi một phương pháp trị liệu siêu thường dần dần ngày càng được nhiều người thường “nắm chắc”, và khi ngày càng có nhiều lý thuyết và phương pháp thực tiễn có thể phổ truyền, thì nó cũng dần dần trở thành một phương pháp không còn siêu thường nữa, tức là trở thành thứ thuộc tầng thứ của người thường. Quá trình này chính là điều mà chúng ta gọi là quá trình “thường nhân hóa”. Khái niệm “thường nhân hóa” đã được nêu ra một cách rõ ràng, nhưng việc mô tả chi tiết cũng như sử dụng khái niệm này để giải thích và trình bày nhiều hiện tượng quan trọng trong lịch sử Trung Y thì sẽ được dành cho các bài viết riêng sau này.

Điều đáng lưu ý là, bất kỳ một phương pháp trị liệu nào trước và sau khi bị “thường nhân hóa” đều là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Sự khác biệt rõ rệt nhất là: sau khi bị “thường nhân hóa”, hiệu quả điều trị sẽ kém xa so với trước khi bị “thường nhân hóa”. Không chỉ vậy, ngay cả khi một phương pháp nào đó chưa bị “thường nhân hóa”, nhưng nếu nó được sử dụng trên diện rộng, thì hiệu quả điều trị của nó chắc chắn cũng sẽ giảm sút đáng kể. Liệu pháp “chúc do” chính là một ví dụ như vậy. (Một ví dụ gần đây khác rõ ràng nhất là việc trị bệnh bằng “khí công”).

Vào thời cổ đại (tức thời kỳ trước Hoàng Đế), có một người tên là Miêu Phụ, được hậu thế tôn xưng là “thầy thuốc thời thượng cổ”. Các thủ pháp, quá trình chẩn đoán và điều trị của ông ấy rất đặc biệt và siêu thường: Ông dùng cây sậy (một loại thực vật thân thảo lâu năm) đan thành chiếu để bệnh nhân và chính ông ngồi và nằm, đồng thời buộc các bó cỏ thành hình giống con chó. Đối với bất kỳ bệnh nhân nào đến cầu cứu, ông đều cầm lấy một con chó cỏ, quay mặt về hướng Bắc, miệng lẩm nhẩm đọc, niệm ra mười chữ. Thế là dù là bệnh nhân được dìu đến hay được khiêng đến, thì lập tức đều có thể hồi phục như ban đầu.

Phương pháp chữa bệnh của Miêu Phụ hoàn toàn đáp ứng định nghĩa về việc chữa bệnh bằng “chúc do”, nhưng chúng ta không thể xem ông là thầy thuốc thuộc “khoa chúc do” theo cách gọi của các đời sau, bởi vì các thầy thuốc “khoa chúc do” về sau này hoàn toàn không có được hiệu quả chữa trị kỳ diệu đến như vậy. “Chúc do” là một phương pháp trị liệu rất khó để “thường nhân hóa”, đặc biệt là trong xã hội ngày nay, rất nhiều người không còn tin vào Thần linh nữa. Tuy nhiên, trong quá trình truyền thừa liên tục, nó cũng đã phát triển một số kỹ năng chung có thể được phổ biến rộng rãi, chẳng hạn như niệm chú, vẽ bùa, đốt bùa, thắp hương và đốt tiền giấy v.v. Tuy nhiên, cũng chính vì nguyên nhân này mà hiệu quả điều trị của nó tất yếu sẽ suy giảm, do đó, các thầy thuốc thuộc “khoa chúc do” về sau thường không chữa được những bệnh nặng, không thể giống như Miêu Phụ, chỉ cần dùng một con chó cỏ và câu chú mười chữ là có thể chữa được đủ loại bệnh lớn nhỏ.

Kỳ thực chúng tôi cho rằng những người dùng “chúc do” để chữa bệnh và cơ chế chữa trị của họ có thể khác nhau rất xa về mặt tầng thứ. Vào thời viễn cổ, những người dùng “chúc do” để chữa bệnh có thể phần lớn là người tu luyện hoặc là những người bẩm sinh có công năng đặc dị, về sau khi phương pháp này được truyền bá rộng rãi, không những hiệu quả chữa bệnh không còn tốt nữa, mà ngay cả cơ chế chữa bệnh cũng đã thay đổi. Đặc biệt là những người ở hậu thế lợi dụng việc sai khiến các linh thể tầng thấp để mưu cầu lợi ích vật chất cho bản thân, họ không chỉ hoàn toàn làm bại hoại phương pháp chữa bệnh “chúc do” vốn có lịch sử vô cùng lâu đời, mà còn có thể mang đến rất nhiều nguy hiểm khó lường cho người bệnh, thậm chí cho chính bản thân họ.

[Tài liệu tham khảo]

1. “Thuyết văn giải tự”, do Hứa Thận biên soạn (thời nhà Hán), Từ Huyễn hiệu đính (thời nhà Tống).

2. “Di tinh biến khí luận”, trích từ “Hoàng Đế nội kinh – Tố vấn”, Vương Băng chú giải, Lâm Ức Đẳng hiệu chính.

3. “Tặc phong”, trích từ “Hoàng Đế Nội Kinh – Linh Khu”.

4. “Lịch đại chức quan biểu” (Bảng danh sách quan lại các triều đại), quyển 36, do Vĩnh Dũng Đẳng biên soạn và chỉnh sửa (triều đại nhà Thanh).

5. “Giáo trình lịch sử Y học Trung Quốc”, do Đại học Y học cổ truyền Bắc Kinh chủ biên.

6. “Nội hàm tu luyện của Trung Y”, Zhengjian.org, ngày 15 tháng 5 năm 2004.

7. “Miêu Phụ, Du Phụ liệt truyện”, Zhengjian.org, ngày 9 tháng 4 năm 2004.

Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/58778