Luân hồi ký sự: Gian khổ tìm Pháp (phần 6) – Ngắm cảnh nước Thục



Tác giả: Đệ tử Đại Pháp tại Trung Quốc Đại lục


[ChanhKien.org]
Tiếp theo phần 5.

Có một người tu luyện giữ vị trí cao trong một công ty lớn, những lúc phải đối mặt với đủ các loại dụ hoặc và cạm bẫy trong quá trình làm việc, cô đều có thể xử lý một cách thỏa đáng. Tuy vậy cũng có khi không được như ý: Một lần cô dùng cơm cùng khách hàng, bởi vì cô từ chối uống rượu nên làm cho khách hàng phật ý, cấp trên của cô cũng không vui, xong việc còn nói cô mấy câu, lúc ấy cô cũng chảy nước mắt. Nhưng rốt cuộc làm một người tu luyện, gặp phải sự tình gì cũng có thể nghĩ thông, có thể buông xuống, qua một chốc lại cảm thấy nhẹ nhõm.

Trong số rất nhiều người tu luyện, những nhân sĩ thuộc giai tầng xã hội khá cao cũng chiếm một tỷ lệ nhất định, đối diện với dụ hoặc và can nhiễu từ các loại nhân tố bất chính trong công việc và cuộc sống thường nhật ở xã hội này, họ đều giống như hoa sen vươn lên từ bùn lầy mà không bị vấy bẩn, khiến những người không tu luyện trên thế gian thấy được sự mỹ hảo của Đại Pháp và sự thuần tịnh của người tu luyện.

Bài viết này nhân cơ hội lấy cô làm ví dụ để viết về quá trình kiếm tìm Pháp của sinh mệnh.

Trong luân hồi nhân thế, cô đã trải qua rất nhiều lần kiếm tìm Pháp, trong đó có hai lần chuyển sinh thành thân nam đi tìm Pháp, những gì đã trải qua rất có ý nghĩa.

Trải nghiệm tìm Pháp của thư sinh thời Bắc Tống

Bắc Tống có thể được xem như một thời đại coi trọng văn tài, có rất nhiều thống lĩnh trong quân đội đều là quan văn. Đây cũng là chính sách trị quốc được Thái Tổ Triệu Khuông Dận chọn dùng vì sợ tái diễn màn kịch “phiên trấn cát cứ”[1] của triều Đường, “thân khoác hoàng bào”[2] của thời kỳ Hậu Chu (Triệu Khuông Dận vì vậy mà được lên làm Hoàng Đế).

Tại đời ấy cậu sinh ra ở nước Thục (thành phố Tứ Xuyên) trong một gia đình trí thức nhiều đời, phụ thân là quan lớn bị triều đình bãi chức.

Từ nhỏ cậu đã đam mê đọc sách, hơn nữa lại có bản sự “đọc nhanh như gió” và “xem một lượt là nhớ”, những cuốn sách cậu đã xem qua vài lượt về cơ bản đều có thể thuộc nằm lòng. Đồng thời cậu cũng kết giao với rất nhiều bằng hữu văn chương. Mấy người họ cả ngày ở cùng nhau làm thơ đối đáp rất sôi nổi, cũng rất phong phú.

Một ngày nọ, có người bạn dẫn một cô gái xấu xí đến chỗ cậu, cô gái này cũng khoảng chừng 20 tuổi, dáng người thấp bé, tóc thưa, khuôn mặt lại rất dài, mắt giống như chiếc chuông nhỏ, chóp mũi hình củ tỏi, nói quá lên một chút thì có thể xem là tập hợp mọi đặc điểm của những cô gái xấu xí.

Cô gái xấu xí này đến đó cũng không hề mất bình tĩnh, nói một cách thẳng thắn dứt khoát: “Nghe nói ở đây trong số các anh, có người có thể đọc sách “nhanh như gió” và “xem một lượt là nhớ”. Nói xong cô rút từ trong ngực ra tấm khăn lụa chừng một thước vuông có viết chữ bên trong đặt lên bàn.

Cô cười nói: “Trong các anh, ai có bản sự hãy đọc chữ trên khăn lụa cho mọi người nghe thử đi”.

Cậu xem qua thấy chữ trên chiếc khăn lụa cũng vừa phải, số lượng chữ cũng không quá nhiều, cảm thấy khá dễ dàng đọc hết, vậy nên cậu bèn bắt đầu đọc.

Trong quá trình đọc, cậu phát hiện không hiểu sao những chữ này càng đọc càng nhiều? Đã mấy canh giờ rồi mà vẫn chưa đọc hết tấm khăn. Người xung quanh đều kinh ngạc không ít.

Cô gái xấu xí thấy cậu đọc mệt rồi, liền nói: “Đọc đến đây là được rồi, cho phép tôi xem chữ trên tấm khăn một lát, sau đó sẽ đọc thuộc cho mọi người”.

Cậu nghe xong cảm thấy như cô gái xấu xí đang giúp mình giải vây, bèn tranh thủ cơ hội đồng ý ngay. Sau đó cậu phát hiện mình đã rơi vào một “cái bẫy” khác. Thực ra chữ trên tấm khăn này mỗi lần đọc lại từ đầu thì nội dung và hàm nghĩa của chữ đều sẽ khác đi. Khi phát hiện ra vấn đề, cậu định dùng chút mưu mẹo, bèn nói với cô gái xấu xí: “Tấm khăn này mỗi lần đọc lại từ đầu thì chữ đều khác đi, nếu tôi có đọc thuộc thì nội dung đọc ra cũng sẽ không giống trong tấm khăn bây giờ nữa, vì chữ trên chiếc khăn đã biến đổi đi so với nguyên bản rồi, cô sẽ nói tôi đọc không đúng. Vậy nên cũng không đọc thuộc. Tôi đã lĩnh giáo được đạo lý “Thiên ngoại hữu thiên” (Bên ngoài trời còn có trời) rồi.”

Lúc này cha cậu xuất hiện, sau khi hiểu đầu đuôi sự tình, bèn mời cô gái xấu xí cùng người bạn của cậu vào phòng ngồi, sau đó cẩn thận hỏi bạn cậu: “Chẳng hay vị cô nương này từ đâu tới? Hạ cố đến tệ xá phải chăng có việc gì?”. Cô gái xấu xí không đợi bạn cậu trả lời đã thẳng thắn đáp: “Tôi là người nước Thục, nhưng tu đạo trên núi Nga Mi, sư phụ chúng tôi phái tôi mang tấm khăn này xuống núi, chính là muốn tìm được một người có duyên phận, có thể truyền thừa phương pháp tu hành trong môn này của chúng tôi. (cô chỉ tay về phía người bạn của cậu nói tiếp) Anh ấy vốn là hàng xóm của tôi, sau khi xuống núi tôi có nhờ anh ấy giúp đỡ, kết quả là anh ấy dẫn tôi đến phủ của ngài”.

“Vậy con trai ta có thể nào được truyền thừa phương pháp tu hành trong môn của các cô không?” – cha cậu không hiểu bèn hỏi.

“Vậy phải mời con trai ngài nói một chút xem trong lúc đọc tấm khăn anh ấy đã trông thấy được những gì?” – Cô gái xấu xí trả lời.

Cậu nói: “Tôi thấy được rất nhiều nội hàm, cũng không thể nhớ hết nổi, điều mơ hồ là khi tôi xem tấm khăn lần đầu tiên thì đọc thấy ‘Tôi bây giờ liệu có thực sự là tôi nguyên lai chân chính hay không?’, lần thứ hai tôi đọc thấy ‘Tôi trước đây đã từng ở đâu?’ cùng với trải nghiệm chuyển sinh ở một vài triều đại, lần thứ ba tôi thấy ‘Tôi phải đi đến nơi đâu?’ rồi làm quan giao vận như thế nào, lấy mấy người vợ, chết ra sao v.v. thấy rất chi tiết”. Nói xong dường như cậu bỗng chốc ngộ ra được điều gì, bèn nói: “Chẳng phải nội dung trên tấm khăn chính là đang kể ra những chuyện có liên quan đến tôi hay sao?”

Cô gái xấu xí gật đầu thừa nhận, sau đó nói: “Nếu là người khác đến xem tấm khăn này, nội dung kia sẽ là liên quan đến người ấy, sẽ tuyệt không giống với những gì anh xem được”.

Nghe đến đây, cậu lập tức thỉnh cầu được đi cùng cô gái lên núi Nga Mi tu luyện.

Được cha mẹ cho phép, cậu và cô gái xấu xí đã lên đường đến núi Nga Mi.

Trên đường đi cậu có rất nhiều chuyện muốn biết, nhưng cô gái xấu xí không trả lời cậu nhiều, dường như chỉ hứng thú với phong cảnh xung quanh.

Hai người họ đi tới chân núi Nga Mi, đến khi phải leo lên núi, cô gái nói: “Sư phụ đã dặn dò rằng, để lên được núi này thì thân thể cần phải tịnh như ngọc, anh ở trong thế tục nhiều năm như vậy, thân thể đã dơ bẩn, cần phải tẩy tịnh một chút”. “Vậy làm thế nào mới có thể tẩy tịnh được thân thể đây?” – anh hỏi lại. “Đơn giản thế này thôi, nước Thục chúng ta có rất nhiều cảnh đẹp, anh chỉ cần đi nhiều một chút, lưu lại những cảnh đẹp này trong tâm, đến lúc thì thân thể tự nhiên sẽ kiền tịnh trở lại. Đặc biệt là dãy núi gồm núi Tứ Cô Nương, núi Thanh Thành, núi Tây Lĩnh Tuyết v.v. Thời hạn là ba năm. Đến lúc ấy xem thân thể anh có đạt đến trình độ phù hợp với núi Nga Mi hay không, phù hợp tiêu chuẩn sẽ được phép lên núi, còn nếu không phù hợp thì anh vẫn còn phải đi ngắm cảnh”.

Cậu đành theo lời cô gái xấu xí mà đi ngắm cảnh. Lúc đầu cậu coi chuyện ngắm cảnh này thật quá đơn giản. Sau đó dần dần phong cảnh xem được càng ngày càng nhiều, đồng thời cậu ngẫm nghĩ lại thật kỹ từng chữ từng chữ trên tấm khăn, bỗng chốc cậu minh bạch được rất nhiều đạo lý. Cùng lúc đó các loại vấn đề cũng thi nhau xuất hiện: “Ví như cho là cô gái xấu xí dùng hình thức tấm khăn để khiến ta hiểu được ‘Thiên ngoại hữu thiên’, vậy thì trên thế giới này liệu có một phương pháp tu hành còn tốt hơn pháp môn của họ không?”. Đặc biệt là khi cậu đã đi hết một vòng rồi quay về tới chỗ tượng Đại Phật ở Lạc Sơn gần núi Nga Mi, cậu cảm thấy bức tượng Di Lặc thế tôn đang ngồi trông rất gần gũi thân thiết. Lúc này cậu nhìn thấy mắt của tượng Phật Di Lặc dường như khẽ động một chút. Cậu quỳ xuống chắp tay dập đầu, trong tâm nghĩ: “Nếu như có cơ hội thì nhất định phải kết duyên phận với Phật Di Lặc”.

Thời điểm ấy cậu đã thông qua hình thức đi khắp nơi ngắm cảnh mà bỏ hết ra khỏi đầu những tạp niệm và lối nghĩ tự cho mình là đúng v.v., thân thể cũng đã tịnh hóa rồi. Đến khi quay lại chân núi Nga Mi một lần nữa, cậu cảm thấy bản thân đã đạt đến tiêu chuẩn lên núi. Vậy nên cậu ở dưới chân núi đợi cô gái xấu xí ấy (để giúp cậu đánh giá xem đã có thể lên núi chưa), kết quả đợi liên tục rất nhiều ngày mà chẳng thấy tung tích cô gái đâu. Không còn cách nào khác, để biểu thị sự thành kính, cậu quỳ gối xuống đất mà bò lên núi. Nhưng khi cậu lên tới đỉnh núi, lại phát hiện xung quanh không một bóng người.

Cậu nghĩ sư phụ và cô gái ấy chắc sẽ không lừa gạt mình đâu! Chắc chắn là họ đang thử lòng mình đây mà. Vậy nên cậu bèn quỳ gối đợi ở đỉnh núi.

Ba ngày trôi qua, trên đỉnh núi xuất hiện Phật quang, sau đó có một Đạo nhân xuất hiện, bên cạnh ông chính là cô gái xấu xí.

Đạo nhân cười nói: “Cuối cùng con đã tới. Đời này ta sẽ truyền lại cho con phương pháp tu luyện trong môn này của ta, nhưng con cần phải nhớ rõ: Đến cuối cùng con phải trở thành đệ tử của vị Giác giả tương lai lai sẽ truyền Pháp cứu độ thế nhân ở nhân gian, người có liên quan đến Phật hiệu ‘Di Lặc’. Cũng chỉ có ở trong pháp môn tu hành ấy, con mới có thể đạt đến đại giải thoát và đại tự tại chân chính. Ta truyền cho con những điều này cũng chỉ là để giúp con đặt định một chút văn hóa và cơ sở tu luyện trước khi vị Giác giả ấy hồng truyền Đại Pháp ở nhân gian trong tương lai mà thôi”.

Lúc này cô gái xấu xí nhìn cậu mỉm cười, rồi dẫn cậu đến một nơi bí mật trong hang động, bắt đầu quá trình tu luyện Đạo gia của kiếp ấy.

Con đường tìm Pháp của người ăn mày thời nhà Minh

Vào triều nhà Minh, cô chuyển sinh vào một gia đình vô cùng giàu có ở Nam Kinh, đời ấy cô là thân nam.

Bởi vì gia đình rất khá giả, nên từ nhỏ cậu đã được giáo dục rất tốt, cũng rất có học vấn, trông cũng rất anh tuấn. Đến khi lớn, cậu ghi danh tham gia khoa cử, nhưng vào đêm trước kỳ thi, cậu bỗng đổ bệnh một cách rất kỳ lạ. Kỳ thi kết thúc thì bệnh của cậu cũng khỏi. Liên tiếp ba lần đều như vậy.

Cha cậu chứng kiến tình cảnh này, bèn an ủi cậu: “Con trai ta không tham gia khoa cử được, vậy ta giúp con tìm một nàng dâu, tiền của nhà chúng ta cũng đủ sống đến mấy đời”.

Vậy là cha cậu thu xếp cho cậu lấy vợ. Kết quả là lúc rước cô dâu nhà họ Vương về thì cậu đổ bệnh, hôn nhân không thuận lợi, bị hủy; đêm trước ngày đón cô dâu nhà họ Lưu, cậu lại đổ bệnh, hôn nhân không thuận lợi, bị hủy; đêm trước ngày rước cô dâu nhà họ Mã, vẫn là cậu đổ bệnh, hôn nhân không thuận lợi, lại bị hủy.

Cả ba lần hôn sự đều là do cậu đổ bệnh mà liên tiếp không thành. Chẳng còn cách nào khác, mẹ cậu đành lên chùa tìm sư trụ trì, hỏi vì sao cậu không tham gia được khoa cử lại cũng không thể kết hôn.

Bà vào trong chùa gặp một vị sư nói rõ mục đích đến đây, rồi xin được gặp trực tiếp trụ trì. Vị sư nói: “Trụ trì của chúng tôi thường bế quan (đóng cửa) tu luyện, trước khi bế quan có để lại một lá thư đã phong kín, giao cho tôi cất giữ. Trụ trì bảo tôi trao nó cho một người gặp phải sự tình kỳ lạ không thể giải khai”. Nói xong vị sư bèn đi tìm phong thư trao lại cho mẹ cậu. Bà về đến nhà lấy phong thư mở ra xem, chỉ thấy viết mấy chữ:

Khoa cử hôn nhân như mộng huyễn
Bệnh giải sợi dây trói buộc danh tình
Phòng ấm tiền bạc như rượu độc
Ăn mày ngoạn cảnh…

Bà xem những mấy câu này thì không hiểu rõ lắm, bèn tìm chồng và con trai đến cùng nghiên cứu.

Cậu xem một hồi lâu rồi nói: “Có thể con thật sự không phải là người thuộc về cõi hồng trần. Những thứ danh lợi tình trong hồng trần kia, có rất nhiều điều đều giống như mộng ảo, như sợi dây trói người ta vào trong mê, con lại vô tình nhờ ngã bệnh mà giải quyết được những vấn đề ấy rồi.

Cuộc sống dễ chịu chỉ giống như rượu độc. Có thể tương lai con sẽ lưu lạc thành hành khất dùng phương thức vân du ngoạn cảnh để… để làm gì nhỉ? (cậu suy nghĩ cả nửa ngày mới nói tiếp) để vứt bỏ các loại dục vọng của bản thân. Có thể điều mà trụ trì còn chưa viết hết chính là ý tứ này”.

Tuy đã chứng kiến tất cả những chuyện mà con trai gặp phải trong khoa cử và hôn sự, nhưng hai vợ chồng họ vẫn chưa từng nghĩ đến loại vấn đề này (con trai họ không có duyên với danh lợi tình chốn hồng trần), nhưng rốt cuộc vì sợ con trai mình tương lai sẽ chịu khổ cực, họ vẫn buồn bã rơi nước mắt.

Mấy ngày sau, hai vợ chồng họ được mời ra vùng khác chơi, cậu cũng đi theo cha mẹ. Kết quả ở lại đó một mạch ba tháng. Đến khi cả gia đình quay về thì nhận được tin báo: Đêm qua nhà họ vừa bị cháy, vừa cháy nhà người ta liền đến hôi của, trong nhà bây giờ bị thiêu bị cướp đã chẳng còn lại gì.

Cha mẹ cậu nghe tin xong đều lẩm bẩm: “Xem ra Ông Trời để con trai chúng ta làm ăn mày rồi!”

Sau đó cha mẹ cậu được họ hàng đưa về chăm sóc, chuyện này không nói nhiều nữa.

Đối mặt với biến cố gia đình như vậy cậu cũng không nghĩ quá nhiều, cảm thấy lời của vị trụ trì thật là chuẩn xác. Vì số mình đời này chính là làm ăn mày, vậy thì mình đi du ngoạn ngắm cảnh thôi, hoàn thành tốt ước nguyện là được rồi.

Nhưng mà biết ngắm cảnh gì, đi đâu ngắm cảnh, hoàn thành ước nguyện nào, đây mới là điều quan trọng. Sau đó cậu ngẫm nghĩ một chút, vẫn là nên đến ngôi chùa mà mẹ cậu đã từng tới để hỏi sư trụ trì.

Cậu vừa đến nơi, trụ trì đã ra tiếp đón. Cậu nói ra những chuyện trong lòng. Trụ trì nói: “Con hãy đi đến nước Thục ngắm cảnh, nhất định phải hành khất xin ăn, hãy dùng phương thức vân du của hòa thượng mà đi, không được dùng đến học vấn và tiền bạc của con, cũng không được nhận sự cảm thông (của người khác). Còn nói về việc hoàn thành nguyện gì, đến lúc ấy con sẽ biết”.

“Vậy tại sao lại cần đến nước Thục mà không phải nơi nào khác?” – Cậu không hiểu bèn hỏi lại.

“Bởi vì đó là một vùng đất vô cùng đặc biệt. Rất nhiều biến động lớn của xã hội đều là khởi nguồn hoặc có điềm báo từ nước Thục; nơi ấy cũng là một chỗ tốt để người tu yên tâm tu hành”.

Nghe xong khai thị của trụ trì, cậu chuẩn bị một chút hành trang rồi lên đường. Đang là một công tử con nhà giàu có, nháy mắt một cái đã lưu lạc thành ăn mày, trong tâm cậu tự nhiên có rất nhiều cảm khái về sự vô thường của kiếp nhân sinh, nhưng số mệnh đã nên là như thế này thì cũng không còn cách nào khác.

Suốt chặng đường hành khất, cậu cũng gặp phải lăng mạ và con mắt khinh thường của rất nhiều người. Khi đã vào đến nước Thục, cậu bắt đầu đi thăm tất cả các danh sơn và những danh tích lịch sử.

Ban đầu cậu không nhìn ra được điều gì, thiên phủ chi quốc đất đai rộng lớn sản vật phong phú, tuy nhiên thuận theo phong cảnh xem được càng ngày càng nhiều, cậu cũng dần dần hiểu được vì sao vùng đất này lại là điểm hóa cho rất nhiều biến hóa lớn của hoàn cảnh xã hội. Liên tưởng đến việc nơi này cũng là quê nhà của Luy Tổ – chính thê của Hiên Viên Hoàng Đế, thì đây cũng đã trở thành quê ngoại trong tâm trí của Viêm Hoàng tử tôn (con cháu của Viêm Hoàng, chỉ người Trung Hoa). Lần theo mạch tư duy này mà nghĩ rộng ra, cậu cảm thấy những nhân tố được sơn thủy nơi đây cấu thành cũng đã trở thành gia viên trong tâm trí người Trung Quốc. Khi hoàn cảnh lớn cần biến đổi, ở nơi này sẽ xuất hiện một số điềm báo hoặc biểu tượng. Bởi vì nơi đây là suối nguồn!

Mặc dù đường tới nước Thục rất gian nan, nhưng rất nhiều những người vốn đã nhìn thấu ảo ảnh của hồng trần đều muốn tìm một chốn dừng chân, tìm một nơi trú ẩn tại vùng đất này (Trong tính cách của Lý Bạch, Tô Đông Pha đều có những nét tính cách lạc quan, tự tại của người nước Thục. Thậm chí cho đến bây giờ người Tứ Xuyên vẫn còn bảo trì được tâm thái lạc quan và tự tại ấy). Có người tiến thêm một bước, dựng lều độc tu giữa non nước nơi đây, trở thành một người tu hành.

Sau khi đi hết những non non nước nước trên khắp đất Thục, cậu đã minh bạch được rất nhiều vấn đề nhân sinh mà mình muốn biết. Điều quan trọng nhất trong số đó là: Mọi thứ được Thần Tự Nhiên sáng tạo ra thật mỹ hảo và thần kỳ. Đây tuyệt đối không phải là những thứ mà sức lực của con người có thể làm được.

Sau khi tiếp xúc với một vài người tu hành, cậu càng nhìn thấu triệt hơn toàn bộ thế gian, cũng cảm thấy chỉ có tu hành mới có thể là con đường đến cõi vĩnh hằng và đạt được trí huệ cao hơn.

Cậu đã hỏi rất nhiều người tu hành: “Liệu có thể nào không xuất gia, thậm chí là dùng phương thức hành khất như tôi để tu hành, mà vẫn có thể khiến tôi có được trí huệ nhìn thấu triệt toàn bộ quá trình và nhân quả của thế gian hay không?”

Những người tu hành ấy đều lắc đầu nói không thể.

Sau đó cậu đến một quán rượu, cậu ở đó xin ăn xong đang chuẩn bị rời đi thì bà chủ nói: “Cậu đã đi nhiều như vậy ở nước Thục, lẽ nào không có chuyện gì kể hay sao?”

Cậu vừa nghe liền cảm thấy rất bối rối: “Cảm thấy bà chủ làm sao biết được cậu đã đi nhiều nơi như vậy ở nước Thục?”

Bà chủ thấy cậu ngập ngừng liền cười rồi nói tiếp: “Thực ra cậu vẫn luôn tìm kiếm một phương pháp cho phép con người không cần xuất gia, thay vào đó là dùng một loại phương thức tồn tại trong xã hội mà vẫn có thể tu hành, hơn nữa còn có thể đạt đến trí huệ hiểu biết được những sự tình trong phạm vi lớn hơn”.

“Bà chủ nói không sai, nhưng làm thế nào bà biết? Hơn nữa phương thức tu hành loại này phải đến đâu tìm?”

Bà chủ vẫn cười: “Thực ra vị trụ trì ấy chính là để cậu đến nước Thục, tự mình phát hiện ra rằng trong tâm mình đang tìm kiếm một pháp môn tu hành mang theo đặc điểm nào đó. Khi cậu đã xác định rõ nguyện vọng của mình thì có rất nhiều sự việc cũng đã được dàn xếp tốt rồi. Theo ta được biết, phương pháp tu hành ấy sẽ được truyền xuất ra nhân gian sau vài trăm năm nữa, nếu cậu có duyên, đến lúc ấy tự nhiên sẽ đắc được. Ta nói với cậu những chuyện này là vì nhận phó thác từ người khác. Nếu kiếp này muốn tìm được vị Giác giả sẽ truyền Đại Pháp trong tương lai thì cũng không quá khó, cậu chỉ cần xây một ngôi nhà lớn ở gần đây là được”.

“Tại sao lại là xây nhà mà không phải là xây chùa? Hơn nữa trụ trì đã dặn dò rằng tôi chỉ có thể xin ăn, không thể xin tiền. Không có tiền thì làm sao xây được nhà? Mà tìm một người có tiền nói họ xây nhà để gặp được Giác giả truyền Pháp trong tương lai thì ai có thể tin đây?”

Lần này bà chủ nói với vẻ mặt rất nghiêm túc: “Chẳng phải cậu là người rất biết suy nghĩ, rất có trí huệ hay sao? Việc lần này có thể làm khó cậu ư?”

Cậu quay về nơi trọ cẩn thận suy xét một hồi, cảm thấy cho dù khó thế nào cũng được, miễn là đời này có thể kết duyên phận với vị Giác giả tương lai truyền Đại Pháp.

Vậy là cậu nằm ở đó bắt đầu nghĩ cách xoay sở, sau đó thấy mình nên dùng các loại kiến thức chuyên sâu đã được học khi còn ở nhà để giúp người dân nơi này giải quyết một số vấn đề, mình không cần nhận tiền, chỉ cần họ xuất tiền xuất lực xây một ngôi nhà to là được rồi.

Ngày thứ hai cậu đi đến một nơi phố xá đông người, trước tiên nghe người ta nói chuyện để biết được người khác đang có vấn đề khúc mắc ở phương diện nào, nghe đến việc bản thân có thể giải quyết được, cậu liền chủ động đề xuất giúp người ta giải quyết. Mọi người cũng rất vui mừng.

Đương nhiên trong quá trình này cũng có rất nhiều chỗ không thuận lợi, có vấn đề cậu giải quyết không xong, ngược lại bị người ta mắng cho một trận.

Nhìn chung là sự tình của người ta loại nào cũng có, cậu có thể vận dụng đầy đủ học vấn trong quá khứ cùng thiện ý để giúp đỡ mọi người.

Sau đó đến khi mọi người đều đã biết vì sao cậu giúp đỡ họ giải quyết vấn đề, không phải là để cuộc sống của bản thân tốt đẹp như thế nào đó, mà là vì để xây nhà to, để kết duyên với vị Giác giả tương lai truyền Đại Pháp tại nhân gian, rất nhiều người đều chủ động đến giúp đỡ cậu, cuối cùng cũng đã xây thành một căn nhà.

Nhà xây xong rồi, mọi người đều rất vui mừng, đều tập hợp đông đủ tại đó để đợi Giác giả xuất hiện.

Vào buổi chiều của một ngày trời nắng ráo trong xanh, có một vị mặc y phục thường dân đến, cười nói với mọi người rằng: “Nguyện vọng và tâm cầu Pháp của mọi người thực sự rất đáng khen ngợi, tương lai mọi người phải nhớ rằng pháp môn tu luyện mà mình muốn tìm sẽ có đặc điểm như thế này”. Nói xong bèn xuất hiện thứ gì đó nhiều như hoa tuyết, to bằng đồng tiền, có hình dạng tròn tròn, đang xoay chuyển, bay lơ lửng trên không trung.

Mọi người đều kinh ngạc, quỳ xuống đất, đều mong muốn tương lai có thể đắc được loại phương pháp tu hành khó gặp này.

Lúc này, vị mặc y phục dân thường đến trước mặt cậu, mỉm cười nói: “Ngộ tính của con quả thực rất tốt, cũng rất biết cách vận dụng những học vấn đã học được. Tương lai đến khi con thật sự đắc Pháp, con sẽ sinh ra trong một gia đình khá giàu có, cũng có trí huệ và năng lực ở rất nhiều phương diện, tới khi ấy, con cần dốc sức phát huy năng lực của mình mà mang lên vũ đài, con hãy cứ đi phát huy cho tốt”.

Cậu nghe xong những lời này, đã sớm không cầm được nước mắt…

Đây chính là:

Hành khất quan cảnh nhập Ba Thục
Bạt thiệp sơn thủy nhẫn khuất nhục
Tao ngộ vạn nan chí bất cải
Đắc Pháp tu hành hiển thắng thù

Dịch nghĩa:

Vào nước Thục hành khất ngắm cảnh
Bôn ba sơn thủy nhẫn chịu khuất nhục
Gặp phải muôn vàn khó khăn không thay đổi ý chí
Đắc Pháp tu hành biểu hiện ra sự thù thắng

Chú giải: Câu này ý nói trong quá trình chân chính đắc Pháp tu luyện, sẽ thể hiện ra năng lực và trí huệ thù thắng.

 

Chú thích của người dịch:

[1] phiên trấn cát cứ: Giữa thời Đường, ở vùng biên giới và các khu vực trọng yếu đều có Tiết độ sứ trấn giữ, chủ yếu lo việc quân chính địa phương, về sau quyền lực càng lớn, kiêm việc nắm giữ dân chính, tài chính, hình thành quân chiếm cứ, thường đối kháng với triều đình, trong lịch sử gọi là “phiên trấn”

[2] thân khoác hoàng bào: chỉ chính biến thành công, đoạt được quyền lực.

Xem tiếp: phần 7

Dịch từ: http://big5.zhengjian.org/node/239186


Ngày đăng: 05-04-2020