Tác giả: Liên Lý Chi

[ChanhKien.org]

Tỉnh Giang Tây nằm ở hạ lưu sông Trường Giang, phía tây bắc tiếp giáp Hồ Bắc. Cảnh núi Tỉnh Cương ở Giang Tây được mệnh danh là cái nôi của Trung Cộng, Nam Xương là nơi Trung Cộng thành lập quân đội, Thụy Kim là nơi thành lập chính quyền Xô Viết Trung Cộng, còn An Nguyên lại là nơi khởi đầu phong trào công nhân của Trung Cộng. Có thể thấy Giang Tây mang màu sắc rất sâu đậm của chính quyền đỏ Trung Cộng, ngay cả đá sa thạch và đất ở Giang Tây cũng mang màu đỏ. Kỳ thực, Giang Tây chính là nơi lịch sử an bài để thể hiện vai trò lịch sử của Trung Cộng. Chính là nói, chủ đề của Giang Tây là: triển hiện vai trò lịch sử của Trung Cộng.

Giang Tây còn gọi là Giang Hữu, viết tắt là Cám. Khu vực phía bắc Giang Tây nơi sông Trường Giang chảy qua, gọi là Cửu Giang. Chữ “Giang” (江) trong Giang Tây chỉ sông Trường Giang. Trong bài viết trước về Hồ Bắc, chúng ta đã giải thích rằng Trường Giang, lấy các tên gọi “chim chín đầu trên trời” hay “Cửu phái” để ám chỉ Trung Cộng; vì vậy hàm nghĩa “Cửu Giang” cũng hiển nhiên là ám chỉ Trung Cộng. Vậy tại sao ở đây lại dùng tên “Giang Tây”, “Giang Hữu” để thể hiện Trung Cộng? Vì Giang Tây nằm ở hạ lưu, bờ nam sông Trường Giang, do đó dùng chữ “Tây” để ám chỉ Trung Cộng là u linh đến từ phương Tây, do đó mới gọi là “Giang Tây”, thể hiện Trung Cộng từ phương Tây đến.

Còn vì sao Giang Tây lại có cái tên “Giang Hữu”, chính là nhằm biểu thị Trung Cộng là âm linh. Bởi vì trong văn hóa truyền thống Trung Quốc, “bên trái là dương, bên phải là âm”; “bên trái là trên, bên phải là dưới”. Do đó, Trường Giang tượng trưng cho Trung Cộng chính là “Giang Hữu” – tức là âm, hạ đẳng, thứ yếu, cũng chính là đóng vai trò phụ diện trong lịch sử.

Hiển nhiên, chủ đề của Giang Tây chính là: Trung Cộng là u linh đến từ phương Tây, là âm linh, đóng vai phụ diện trong lịch sử. Toàn bộ nhân văn và địa lý của Giang Tây đều được bố trí xoay quanh chủ đề này.

(I) Nam Xương

Thủ phủ của tỉnh Giang Tây là Nam Xương. Nam Xương còn gọi là Hồng Đô, gọi tắt là Hồng. Nam Xương là nơi quân đội Trung Cộng thành lập, và “Khởi nghĩa Nam Xương 1/8” chính là dấu hiệu đánh dấu sự ra đời của quân đội Trung Cộng. Trung Cộng với lý niệm “quyền lực xuất phát từ nòng súng”, do đó dưới sự cai trị của Trung Cộng, quân đội, nòng súng chính là biểu tượng của chính quyền, vì thế “1/8” đại diện cho quân đội cũng đã trở thành con số biểu tượng của chính quyền Trung Cộng.

Chúng ta biết rằng Trung Cộng được thành lập lần đầu tại Thượng Hải ở phương Nam, xây dựng căn cứ địa cũng là ở phương Nam, do đó sự khởi đầu của Trung Cộng là ở miền Nam Trung Quốc, đây chính là ngụ ý tại sao nơi tượng trưng cho sự thành lập của chính quyền Trung Cộng lại gọi là “Nam Xương”.

Trung Cộng là gì? Là “Hồng”, là hồng thủy mãnh thú. Chữ “Hồng” (洪) trong “hồng thủy” dùng chữ “Cộng” (共) của Trung Cộng để biểu hiện, chính là ám chỉ rằng Trung Cộng là hồng thủy mãnh thú, sứ mệnh của Trung Cộng là giết người, hại người. Đây cũng chính là lý do vì sao “Nam Xương” với nội hàm là sự khởi đầu của Trung Cộng, được gọi là “Hồng Đô” và được gọi tắt là “Hồng”.

(II) Hồ Bà Dương

Hồ Bà Dương nằm ở phía bắc tỉnh Giang Tây, là hồ nước ngọt lớn thứ ba của Trung Quốc. Cái tên của hồ Bà Dương cũng là thể hiện của chính quyền Trung Cộng.

Chữ “Bà” (鄱) có bộ “phiên” (番), mang ý nghĩa phiên hiệu quân đội, mà Nam Xương biểu tượng cho “1/8”, nằm ở bờ nam của hồ Bà Dương. Bố cục này rõ ràng hàm ý: bộ “phiên” (番) trong chữ “Bà” (鄱) tương ứng với Nam Xương, ám chỉ phiên hiệu quân đội của Trung Cộng là “1/8”. Do đó, ý nghĩa cái tên của hồ Bà Dương chính là ẩn dụ cho quân đội Trung Cộng. Ngoài ra, chữ “phiên” còn mang nghĩa ngoại lai, ngoại tộc, hàm nghĩa này cũng chỉ ra rằng Trung Cộng là sản phẩm du nhập từ phương Tây – u linh đến từ phương Tây.

Hồ Bà Dương còn có một nơi kỳ lạ gọi là Lão Gia Miếu. Trung Quốc có câu nói cổ “đương quan tố lão gia” (làm quan rồi thì coi mình như lão gia không coi dân ra gì), rõ ràng Lão Gia Miếu ở đây cũng ám chỉ ngôi miếu của chính quyền Trung Cộng.

Có thể thấy, tên gọi “Bà Dương Hồ” và “Lão Gia Miếu” đều mang ý nghĩa thể hiện chính quyền Trung Cộng.

(III) Núi Lư Sơn

Ngọn núi nổi tiếng nhất của Giang Tây là Lư Sơn. Lư Sơn còn gọi là Khuông Lư, nằm ở phía tây bắc hồ Bà Dương, phía bắc tựa sông Trường Giang, phía đông giáp hồ Bà Dương, thuộc vùng Cửu Giang.

Đỉnh chính của Lư Sơn là đỉnh Đại Hán Dương, cao 1474 mét. Ở phía đông nam Lư Sơn có đỉnh Ngũ Lão, còn Tam Điệp Tuyền và Hàm Bà Khẩu của Lư Sơn đều là những thắng cảnh tự nhiên nổi tiếng. Lư Sơn còn xây dựng rất nhiều biệt thự theo phong cách của nhiều nơi trên thế giới, trong số các biệt thự đó phải kể đến “Mỹ Lư” – biệt thự từng là nơi ở của cả Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông. Từ xưa, Lư Sơn đã thu hút nhiều người nổi tiếng đến tham quan, nhưng người Trung Quốc ngày nay biết đến Lư Sơn lại bởi “Hội nghị Lư Sơn”, bởi một bức ảnh Mao Trạch Đông ở trên núi Lư Sơn.

1. “Lư”

Lịch sử đi đến ngày nay, những ngụ ý nội hàm mà lịch sử gán cho núi Lư được thể hiện ra một cách toàn diện: Lư Sơn là biểu tượng của Trung Quốc đại lục, là thể hiện của chính quyền Trung Cộng.

Chữ “Lư” (廬) giải thích theo nghĩa Hán tự là ngôi nhà đơn sơ. Nhà là nơi con người sinh sống, và ngụ ý nội hàm của ngôi nhà Lư Sơn đối ứng với Đại Lục mà người Trung Quốc hiện nay đang sinh sống. Chính quyền Tưởng Giới Thạch từng cai trị Đại Lục, sau đó Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc chuyển sang Đài Loan, Đại Lục trở thành nơi mà chính quyền Mao Trạch Đông cai trị. Hình tượng của trạng thái này được thể hiện qua “Mỹ Lư” – biệt thự mà cả Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông đều từng cư ngụ. “Mỹ Lư” là ngôi nhà duy nhất mà cả Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông từng ở. Do đó, nội hàm mà lịch sử gán cho “Mỹ Lư” và Lư Sơn chính là tượng trưng cho Trung Quốc đại lục ngày nay, tượng trưng cho chính quyền Trung Cộng tại Đại Lục.

Lư Sơn tượng trưng cho chính quyền Đại Lục. Vậy tại sao lại đặt tên núi tượng trưng cho chính quyền Đại Lục của Trung Cộng là “Lư” Sơn? Ý nghĩa là gì? Bởi vì Đại Lục là nơi lịch sử an bài cho các đệ tử Pháp Luân Công tu luyện, mà tu luyện của các đệ tử Đại Pháp giống như luyện đan trong lò luyện đan của Lão Quân. Vậy thì hoàn cảnh Đại Lục ngày nay cũng chính là “lò luyện đan” để các đệ tử Pháp Luân Công tu luyện. Chữ “Lư” trong Lư Sơn gồm “quảng” (广) và “lô” (爐) tổ hợp thành, có nghĩa là Đại Lục rộng lớn giống như một cái lò – lò luyện đan. Như Lý Bạch viết trong “Vọng Lư Sơn bộc bố”: “Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên, Dao khan bộc bố quải tiền xuyên” (Mặt trời chiếu xuống đỉnh Hương Lô sinh ra màu khói tía, Từ xa nhìn thác nước treo như con sông trước mặt). Lý Bạch rõ ràng coi Lư Sơn như một cái “lò”, “lư hương”.

Trong lò luyện đan phải có lửa, và ngọn lửa đó chính là “vụ tự thiêu giả ở Thiên An Môn” do Trung Cộng dàn dựng để đàn áp Pháp Luân Công. Trung Cộng đã lan truyền tin giả, vu khống Pháp Luân Công một cách rợp trời dậy đất, dùng toàn bộ bộ máy nhà nước để bức hại tàn bạo Pháp Luân Công, tạo nên hoàn cảnh khủng bố đối với các đệ tử Pháp Luân Công, chính là “lò luyện đan” để đệ tử Pháp Luân Công tu luyện. Chính là nói, đối với việc tu luyện của các đệ tử Pháp Luân Công mà nói, hoàn cảnh Trung Quốc đại lục ngày nay được giống như một cái “lò”, lò luyện đan. Đây chính là ý nghĩa của cái tên Lư Sơn.

2. Đỉnh Đại Hán Dương

Vậy thì mục đích của Trung Cộng trong việc vu khống và đàn áp Pháp Luân Công là gì? Mục đích cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản là đào thải con người, đào thải một lượng lớn con người. Nội hàm này được thể hiện qua chữ “Hán” (漢), chính là ý nghĩa tên gọi đỉnh Đại Hán Dương – đỉnh chính của Lư Sơn.

Chữ “Hán” (漢) phần bên phải là bộ “Cách” (革) và “Đại” (大), nội hàm trong đó triển hiện Trung Cộng muốn “cách đại” mạng sống của một bộ phận người. Trung Cộng khởi nghiệp bằng “cách mạng”, và cách mạng, cắt đứt mạng sống của một bộ phận lớn người chính là mục đích cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản. Do đó nói, mục đích cuối cùng của Trung Cộng là đào thải con người. Đây cũng là ý nghĩa của chữ “Hán” và tên gọi của đỉnh Đại Hán Dương.

Có Phật thì có ma; có ma đào thải con người thì có Phật Pháp cứu độ con người. Tại sao Pháp Luân Phật Pháp lại được truyền ra trong lịch sử ngày hôm nay? Chính là bởi vì Trung Cộng, con ma này muốn đào thải số lượng lớn con người, mà Pháp Luân Phật Pháp chính là triển hiện từ bi của Phật, muốn cứu người trong thời đại này. Khi Trung Cộng đàn áp Pháp Luân Công, bức hại đệ tử tu luyện Pháp Luân Công hồng truyền Phật Pháp, kỳ thực chính là cản trở Pháp Luân Phật Pháp cứu người. Vậy thì các đệ tử Pháp Luân Công vạch trần Trung Cộng, giúp thế nhân loại bỏ những nhận thức sai lệch về Pháp Luân Phật Pháp do Trung Cộng bôi nhọ Pháp Luân Công gây ra, trên thực tế chính là đang cứu người. Bởi vì chỉ khi con người nhận thức đúng về Pháp Luân Công, họ mới có thể được Phật Pháp cứu độ. Nội hàm của việc các đệ tử Pháp Luân Công giảng chân tướng vạch trần Trung Cộng, cứu người trong đại kiếp được thể hiện ở Lư Sơn qua Hàm Bà Khẩu.

3. Hàm Bà Khẩu

Ở phía đông nam của núi Lư Sơn, có ba ngọn núi hợp lại tạo thành một “cửa miệng”, hướng thẳng ra hồ Bà Dương, vì vậy có cái tên Hàm Bà Khẩu.

Chữ “khẩu” (口) có nghĩa là nói, giảng, giảng điều gì? Nói về “Bà” (鄱). Như đã đề cập trước đó, hồ Bà Dương mang nội hàm tượng trưng cho chính quyền Trung Cộng, vậy thì “Hàm Bà Khẩu” cũng nói ý là nói về Trung Cộng, nói về chân tướng “vụ tự thiêu giả ở Thiên An Môn” do Trung Cộng dàn dựng, nói về cuộc bức hại Pháp Luân Công của Trung Cộng, và nói về Trung Cộng thật sự là “hồng thủy mãnh thú” hại người. Chữ “Bồ” với bộ “phiên” (番) còn thể hiện phiên hiệu quân đội của Trung Cộng là “bát nhất” (1/8), vậy phiên hiệu là “bát nhất” (1/8) tượng trưng cho quân đội của Trung Cộng rốt cuộc có hàm nghĩa gì?

Quân đội Trung Cộng còn gọi là Bát Lộ Quân, chữ “bát” (八) cũng được gán nội hàm đại biểu cho chính quyền Trung Cộng. Kỳ thực, chữ “bát” là do chữ “nhân” (人) biến hóa mà thành. Nếu tách chữ “nhân” ra, đào thải một bộ phận thì chính là “bát”, chính là “bát nhất” (1/8). Chính là nói sứ mệnh của Trung Cộng là phân tách con người – đào thải con người, chính là cắt bỏ đi mạng sống của phần lớn người, đây là một trong những nội hàm của con số “bát nhất” (1/8) biểu tượng của chính quyền Trung Cộng.

Trung Cộng đào thải con người được thực hiện thông qua đàn áp và bức hại các đệ tử Pháp Luân Công, thủ đoạn và hình thức biểu hiện là khiến cho thế nhân thù hận Pháp Luân Đại Pháp đang cứu người. Vậy thì đối với các đệ tử Pháp Luân Công đang cứu người mà nói, Trung Cộng chính là lò luyện đan, chính là ma nạn, giống như Đường Tăng đi lấy kinh phải trải qua chín chín tám mươi mốt nạn. Do đó, “bát nhất” (1/8) còn có ý nghĩa chỉ 81 kiếp nạn.

Thế nhân đều biết biểu tượng trên cờ đảng của Trung Cộng là búa và liềm: “búa liềm” (錘鐮). Kỳ thực, biểu tượng búa liềm này của Trung Cộng còn ám chỉ “rèn luyện” (錘鍊), nội hàm của nó thể hiện rằng các đệ tử Pháp Luân Công đang cứu người cũng giống như được “rèn luyện” trong lò luyện đan. Như vậy, cả “búa liềm” và “bát nhất” (1/8) đều biểu thị cùng một nội dung hàm nghĩa.

Chính là nói, tà linh Trung Cộng là ma, nó muốn đào thải con người, nó đàn áp tàn khốc các đệ tử Pháp Luân Công, vậy thì Phật Pháp cũng vừa hay lợi dụng ma quỷ Trung Cộng này để rèn luyện các đệ tử tu luyện Pháp Luân Công cứu người. Vậy thì từ góc độ này mà giảng, Trung Cộng thực chất lại đang bị Thần Phật lợi dụng, lợi dụng xong liền tiêu diệt nó, tất cả các Thần Phật sẽ cùng nhau xóa bỏ nó – “cùng xóa đảng” (共鏟黨) (Trong tiếng Trung “cùng xóa đảng” đồng âm với “đảng cộng sản” 共産黨).

Cũng chính là nói, mặc dù Trung Cộng nắm chính quyền tại Đại Lục, nhưng lịch sử không phải an bài cho Trung Cộng, Trung Cộng chỉ là vai phụ diện trong lịch sử, giống như lò luyện đan, chỉ là vai phụ diện bị Thần Phật lợi dụng. Vì vậy, Giang Tây còn được gọi là “Giang Hữu” (江右), chữ “Hữu” (右) thể hiện hàm nghĩa “âm”, “hạ đẳng”, “thấp kém”, đã định vị vai trò lịch sử của Trung Cộng là vai phụ diện. Trung Cộng là vị trí “phụ” trong lịch sử, là “hàng kém”, nội hàm này còn được thể hiện ở thành phố gốm sứ nổi tiếng của Giang Tây – Cảnh Đức Trấn.

(4) Cảnh Đức Trấn

Cảnh Đức Trấn ở Giang Tây nổi tiếng sản xuất sứ, còn được gọi là thủ phủ gốm sứ. Hàm nghĩa của “Cảnh Đức” (景德) và “sứ” (瓷) là: Trung Cộng là một chiếc bình hoa, đạo đức mà Trung Cộng tuyên truyền chỉ là chiếc bình hoa đẹp, Trung Cộng chính là “hàng kém” của nhân loại.

Giải nghĩa “Cảnh Đức Trấn”: lấy đạo đức làm cảnh, vật trang trí cho đẹp, nên gọi là “Cảnh Đức”. Trung Cộng dựng lên những “cây đại thụ, cây đặc thụ” như Lôi Phong làm hình mẫu đạo đức, trên bề mặt là ra sức tuyên truyền những người tiên tiến, nhưng thực tế, quan chức lớn nhỏ của Trung Cộng từ trên xuống dưới đã mục nát hoàn toàn; Trung Cộng sớm đã thối nát, chỉ còn giương hình Lôi Phong ra để giả vờ che đậy. Trạng thái hành vi rất giỏi trong việc dùng đạo đức để che đậy, tô vẽ của Trung Cộng chính là “Cảnh Đức”. Cảnh Đức Trấn nổi tiếng sản xuất sứ, bình hoa, vậy thì “Cảnh Đức” – cảnh giới đạo đức của Trung Cộng cũng đúng nghĩa là một chiếc bình hoa đẹp nhưng rỗng tuếch.

Trong tiếng Anh, Trung Quốc (China) có nghĩa nghĩa là “đồ sứ”, mà lịch sử gán nội hàm cho “sứ” chính là ám chỉ Trung Cộng của ngày hôm nay. Chữ “sứ” (瓷) có bộ thủ là “thứ ngõa” (次瓦), nghĩa là ngói kém chất lượng, ở đây Trung Cộng được ví như ngói kém chất lượng trên ngôi nhà Lư Sơn. Chính là nói, chữ Hán “sứ” triển hiện nội hàm là “hàng kém”, chỉ Trung Cộng là “chiếc bình sứ”, là “ngói kém”, là “hàng kém”. Đạo đức của Trung Cộng là làm cảnh, là bình hoa, đương nhiên Trung Cộng chính là “hàng kém”.

Trung Cộng giỏi nhất là tô vẽ bề ngoài, nó tự bao bọc lấy mình như chiếc bình hoa đẹp của Cảnh Đức Trấn, do đó Trung Cộng chính là “sứ” do Cảnh Đức Trấn sản xuất. Lịch sử ví Phật Pháp như “kim cương”, còn Trung Cộng bức hại Pháp Luân Công là “sứ”. Sứ trông có vẻ cứng chắc, nhưng chỉ cần một cú đánh là vỡ tan; Trung Cộng nhìn có vẻ hùng mạnh, nhưng thực chất là không chịu nổi một đòn, giống như đảng cộng sản Liên Xô sụp đổ chỉ trong một đêm, Trung Cộng cũng sẽ sớm đối mặt với kết cục tan rã chỉ trong một đêm.

Vì vậy, chủ đề mà “Cảnh Đức” và “sứ” triển hiện là: Trung Cộng là bình hoa, là “sứ”, là “hàng kém” – rác rưởi của nhân loại.

(5). Sông Cám

Giang Tây có tên gọi tắt là “Cám”, vì có sông Cám. Sông Cám là con sông lớn nhất của Giang Tây, khởi nguồn từ núi Vũ Di phía nam Giang Tây, chảy vào hồ Bà Dương, rồi hợp lưu với sông Trường Giang. Sông Cám giải thích ý nghĩa Trung Cộng là cống phẩm.

Chữ “Cám” (贛) do các bộ chữ “chương” (章), “bị” (備), “cống” (貢)” tổ hợp mà thành: “Chương” chỉ hết thảy tư tưởng, cương lĩnh, lý niệm của Trung Cộng, tức là văn hóa đảng; “bị” là chuẩn bị, ý chỉ việc Trung Cộng làm là muốn đào thải con người, nhưng kỳ thực mọi việc đều nằm trong lòng bàn tay của Thần Phật, người lợi dụng lại nó, nên gọi là bị; “cống” là cống phẩm. Chữ “cám” xưa đồng nghĩa với “cống”, do đó nội hàm của “cám” nghĩa là cống phẩm. Chính là nói, vai trò lịch sử của Trung Cộng chính là cống phẩm, giống như Lý Bạch nói về “lư hương”, Trung Cộng là vai diễn phụ bị Thần Phật lợi dụng, là cống phẩm cho Phật Pháp cứu người và tế trời. Đây chính là vai diễn lịch sử của Trung Cộng, là nội hàm của tên gọi tắt “Cám” của Giang Tây.

Lư Sơn còn gọi là Khuông Lư. Chữ “khuông” nghĩa là chỉnh chính, chính Pháp, “Khuông Lư” cũng chính là chỉnh chính Trung Cộng tại chỗ. Chúng ta nhìn chữ “khuông” (匡), miệng mở về bên phải, bên trong là chữ “vương” (王) cũng hướng về bên phải, đối ứng với “Giang Hữu”.

Không khó nhận ra, toàn bộ tự nhiên, lịch sử và nhân văn của Giang Tây đều được lịch sử an bài bố cục theo hệ thống và có mục đích, xoay quanh một chủ đề thống nhất, chủ đề này chính là trình bày vai trò lịch sử của Trung Cộng từ các góc nhìn khác nhau.

Do đó, cho dù Trung Cộng là lò luyện đan, là lư hương, là bình hoa, là hàng kém, hay là cống phẩm tế trời, thì nó đều là vai diễn phụ diện của lịch sử.

“Ta không biết diện mạo thật của núi Lư Sơn, chỉ vì ta đang ở trên núi này”. Không nhận ra chân tướng bộ mặt của Trung Cộng, chỉ vì đang ở trong tổ chức của nó. Chính là nói, chỉ có thoái xuất khỏi Trung Cộng, mới có thể nhìn rõ diện mục chân thực của u linh đến từ phương Tây Trung Cộng.

Dịch từ: https://big5.zhengjian.org/node/247034