Tác giả: Liên Lý Chi

[ChanhKien.org]

Lịch sử sắp đặt cho tỉnh Hồ Nam với chủ đề là phơi bày “vụ tự thiêu giả ở Quảng trường Thiên An Môn” do Trung Cộng dàn dựng để bức hại Pháp Luân Công, đồng thời nói cho thế nhân biết rằng: việc một người có nghe các đệ tử Pháp Luân Công giảng chân tướng hay không, có phân rõ ranh giới với Trung Cộng hay không, sẽ quyết định người đó vào thời khắc cuối cùng có được lưu lại hay không.

Tỉnh Hồ Nam nằm ở phía nam hồ Động Đình, cũng được gọi tắt là Tương, thủ phủ là thành phố Trường Sa. Ngọn núi có lịch sử lâu đời và nổi tiếng nhất của Hồ Nam là Hành Sơn; Sông Tương Giang men theo dãy Hành Sơn, chảy từ nam ra bắc xuyên qua Hồ Nam rồi đổ vào sông Trường Giang. Hiện nay nơi du lịch nổi tiếng nhất của Hồ Nam là Trương Gia Giới. Lịch sử chủ yếu thông qua núi Hành Sơn, sông Tương và Trương Gia Giới để thể hiện chủ đề của tỉnh Hồ Nam.

1. Hành Sơn

Hành Sơn là Nam Nhạc, còn có tên là Thọ Sơn, Nam Sơn. Thành ngữ “thọ tỷ Nam Sơn” (sống lâu như Nam Sơn) chính là chỉ Hành Sơn. Cái tên Hành Sơn bắt nguồn từ tên của một chòm sao, mang ý nghĩa giống như cán cân, có thể cân trời đất, đo lường mọi thứ. Vì vậy, việc đặt tên Nam Nhạc là “Hành Sơn” đã thể hiện ý nghĩa cân đo, đánh giá (chữ “hành – 衡” ở đây có nghĩa là cái cân, cũng có nghĩa là đo lường). Vậy ý nghĩa “cân đo” mà Hành Sơn biểu thị là cân đo ai? Dùng cái gì để cân đo? Lịch sử đặt tên Hành Sơn như vậy với mục đích gì?

Hành Sơn được chia ra thành tiền sơn và hậu sơn, ở tiền sơn thì không thể nhìn thấy hậu sơn. Trạng thái này cũng giống như nhận thức về Hành Sơn vậy – nội hàm ẩn ý của Hành Sơn nằm ở đằng sau đó.

Hậu sơn của Hành Sơn, cũng chính là đỉnh cao nhất của Hành Sơn, gọi là đỉnh Chúc Dung. Đỉnh này được đặt tên theo hỏa thần Chúc Dung. Trên Chúc Dung Phong có chùa Thượng Phong, chùa Thượng Phong là ngôi chùa nằm ở vị trí cao nhất của Hành Sơn. Chúc Dung là Thần Lửa, tượng trưng cho lửa. Vậy thì đây là loại lửa nào? Đáp án nằm ở chùa Thượng Phong.

Chùa Thượng Phong có lịch sử xây dựng rất lâu đời, nhưng gần như không để lại bất kỳ ghi chép lịch sử nào. Ngược lại, những việc làm xảy ra ở chùa Thượng Phong trong thời cận đại lại được lịch sử ghi chép rõ ràng và chi tiết. Đó chính là cuộc vận động nổi tiếng trong lịch sử Trung Cộng gọi là “công thiền” và “nông thiền”. Vào những năm 1930 của thế kỷ trước, Trung Cộng lợi dụng thời cơ kháng chiến chống Nhật, truyền bá cho những người được gọi là người xuất gia ở chùa Thượng Phong những khẩu hiệu như: “Ta không vào địa ngục thì ai vào địa ngục”, “Hãy đặt thân xác của mình vào ngọn lửa dữ dội của cuộc kháng chiến chống Nhật để thiêu đốt”, từ đó phát động cái gọi là cuộc vận động “công thiền” và “nông thiền”.

Chính là nói, chùa Thượng Phong là nơi Trung Cộng kích động và xúi giục người ta thiêu đốt “thân xác” của mình, vậy thì chùa Thượng Phong hiển nhiên bị gán cho nội hàm đại diện cho Trung Cộng. Chùa Thượng Phong được xây trên đỉnh Chúc Dung, mà Chúc Dung lại là “lửa”. Vậy thì ngôi chùa thể hiện việc “thiêu đốt thân xác của mình” lại được xây trên đỉnh Chúc Dung biểu thị “lửa”, trạng thái này chẳng phải đang triển hiện “tự thiêu” hay sao?

Ai đang “tự thiêu”? Chính là Trung Cộng xúi giục những hòa thượng giả tự thiêu. Vậy thì trong bố cục lịch sử, mục đích của việc Trung Cộng xúi giục những hòa thượng giả “tự thiêu” là gì? Đó chính là một sự diễn tập được lịch sử an bài cho ngày hôm nay – chính là triển hiện “vụ tự thiêu giả ở Thiên An Môn” do Trung Cộng dàn dựng vào tháng 1 năm 2001 để vu khống và đàn áp Pháp Luân Công.

Trung Cộng đàn áp Pháp Luân Phật Pháp cứu độ chúng sinh trong thời mạt kiếp là việc mà trời đất không dung, do đó Thiên ý đã tuyên cáo sự diệt vong của Trung Cộng vào năm 2005. Điều này được thể hiện là vào năm 2005, tại huyện Bình Đường tỉnh Quý Châu xuất hiện một kỳ thạch thiên cổ – Tàng Tự Thạch. Tàng Tự Thạch ở Bình Đường có sáu chữ lớn hình thành một cách tự nhiên: “Trung Quốc cộng sản đảng vong”. Sáu chữ lớn này xuất hiện trên mặt cắt được tách rời của một tảng đá khổng lồ đã nứt ra từ 500 năm trước, nhưng mãi đến năm 2005 mới được thế nhân phát hiện, đúng vào thời điểm sau khi Trung Cộng điên cuồng đàn áp Pháp Luân Công. Cũng tức là nói Trung Cộng đàn áp Pháp Luân Công là hành vi nghịch thiên, nên Thiên ý muốn giải thể nó; hàm ý Thiên ý giải thể Trung Cộng cũng được thể hiện bằng một khối “thiên cổ kỳ thạch” tại chùa Thượng Phong trên đỉnh Chúc Dung.

Tại chùa Thượng Phong có dựng một “thiên cổ kỳ thạch”, trên đó có tám chữ liên quan đến Trung Cộng: “Điện băng phá đông, thiên cổ kỳ thạch”. Chính là đang diễn giải Tàng Tự Thạch ở Bình Đường. Chúng ta hãy xem:

“Điện băng” nghĩa là đại điện làm bằng băng, hiển nhiên “điện băng” cũng giống như trang phục mới của hoàng đế, chỉ chủ nghĩa cộng sản; mà “điện băng phá đông” tức là chỉ Trung Cộng sẽ bị giải thể và tiêu vong giống như băng tan vậy.

Chữ “điện” (殿) được tổ thành từ các chữ “thi” (尸), “cộng” (共), “một” (没): “thi” (尸) là chỉ thi thể, thi thể của những người gia nhập tổ chức của Trung Cộng; “cộng” (共) là Trung Cộng; “một” (没) nghĩa là chìm xuống (沉没), không còn nữa (没有了), tiêu vong. Vậy thì ý nghĩa của chữ “điện” cũng trở nên rất rõ: tất cả những người gia nhập Trung Cộng sẽ chìm đắm theo con thuyền của Trung Cộng mà bị đào thải.

Còn “thiên cổ kỳ thạch” đương nhiên là chỉ Tàng Tự Thạch ở Bình Đường, Quý Châu.

Điều kỳ diệu nhất của khối đá này nằm ở chỗ: trong sáu chữ “Trung Quốc cộng sản đảng vong” này, có một chữ giản thể “đảng” (党) mà năm 1965 mới xuất hiện. Trước khi có chữ giản thể của Trung Cộng, chữ phồn thể “đảng” (黨) là “thượng hắc” (尚黑), nghĩa là một tổ chức tôn sùng hắc ám. Còn chữ giản thể “đảng” (党) của Trung Cộng lại thể hiện chữ “huynh” (兄). Việc làm nổi bật chữ “huynh” (兄) tức là “thị huynh” (示兄), chính là “chúc” (祝), chữ “chúc” trong Chúc Dung. Rõ ràng chữ “chúc” trong Chúc Dung chính là chỉ “đảng”, chỉ Trung Cộng; còn “dung” nghĩa là dung hóa, tiêu vong. Vậy thì “Chúc Dung” đương nhiên cũng mang ý nghĩa “điện băng phá đông”, ý chỉ Trung Cộng tan rã và diệt vong.

Ở đây, việc trời diệt Trung Cộng được biểu hiện bằng cụm từ “điện băng phá đông”, dùng chữ “dung” trong dung hóa để biểu hiện. Trạng thái này ám chỉ rằng việc các đệ tử Pháp Luân Công khuyên thế nhân thoái Đảng chính là trạng thái “điện băng phá đông” Trung Cộng. Bởi vì quá trình thế nhân không ngừng thoái đảng cũng chính là quá trình Trung Cộng bị giải thể, tiêu vong; biểu hiện hình tượng của quá trình này chính là quá trình băng tan “điện băng phá đông”.

Chúc Dung lại là Thần Lửa, rõ ràng là chỉ Trung Cộng dàn dựng “vụ tự thiêu giả ở Thiên An Môn”. Lịch sử đã dùng hình tượng “Chúc Dung” để biểu hiện Trung Cộng, rồi lại dùng thân phận “Thần Lửa” để biểu hiện nó, dụng ý càng rõ ràng dễ thấy: Trung Cộng do dàn dựng “vụ tự thiêu giả ở Thiên An Môn” để đàn áp Pháp Luân Công mà bị trời diệt. Đây cũng chính là nguyên nhân tại sao “Chúc Dung” lại là Thần Lửa.

Còn “chùa Thượng Phong” có nghĩa là “phía trên bị phong bế”. “Phía trên” ở đây tức là chỉ “chim chín đầu trên trời”. Trong bài viết “Hồ Bắc” trước đó đã bàn đến, Trung Cộng chính là “cửu phái”, là cơ cấu được phái xuống của “chim chín đầu trên trời”. Vậy thì cái tên “Thượng Phong Tự” biểu tượng cho Trung Cộng đương nhiên cũng thể hiện hàm ý phía trên bị phong bế.

Hành Sơn cũng chính là Thọ Sơn, Nam Sơn, thể hiện ý nghĩa “thọ tỷ Nam Sơn”. Nhưng “thọ tỷ Nam Sơn” còn có một nội hàm sâu hơn chính là: tuổi thọ của con người có liên quan đến Nam Sơn (Hành Sơn); nguyên nhân con người có tuổi thọ, có kết cục ra sao đều được thể hiện ở Nam Sơn. Mà Nam Sơn thông qua đỉnh Chúc Dung lại thể hiện việc Trung Cộng dàn dựng “vụ tự thiêu giả ở Thiên An Môn”, vậy thì hiển nhiên “thọ tỷ Nam Sơn” muốn nói với thế nhân rằng: tuổi thọ của con người có liên quan đến “vụ tự thiêu giả ở Thiên An Môn” do Trung Cộng dàn dựng, tức là có liên quan đến Trung Cộng. Bộ thủ “công” (工) trong chữ “thọ” (壽) chính là thể hiện Trung Cộng “lấy giai cấp công nhân làm chủ thể”. Vậy mối quan hệ đó là gì?

Chính là nói: ai tin vào “vụ tự thiêu giả ở Thiên An Môn” do Trung Cộng dàn dựng, ai không tuyên bố thoái xuất khỏi Trung Cộng, ai kiên quyết đứng về đội ngũ của Trung Cộng, thì người đó sẽ trở thành đối tượng bị đào thải cùng với Trung Cộng khi “điện băng phá đông”, để rồi “thọ” biến thành “thi cộng” (尸共). Chính vì vậy, các đệ tử Pháp Luân Công mới giảng rõ chân tướng cho thế nhân, vạch trần Trung Cộng và khuyên thế nhân thoái xuất khỏi Trung Cộng, để tránh trở thành vật tuẫn táng của Trung Cộng. Nội hàm việc các đệ tử Pháp Luân Công giảng chân tướng cho thế nhân này được biểu hiện bằng hình tượng sông Tương.

2. Sông Tương

Hồ Nam gọi tắt là Tương, là vì con sông lớn nhất của Hồ Nam là sông Tương. Sông Tương men theo dãy Hành Sơn, chảy từ nam ra bắc rồi đổ vào sông Trường Giang. Trạng thái bố cục của sông Tương và dãy Hành Sơn triển hiện hiện nội hàm chính là: các đệ tử Pháp Luân Công nói với thế nhân chân tướng về “vụ tự thiêu giả ở Thiên An Môn”, đây chính là ý nghĩa tên gọi “Tương” của sông Tương.

Trước hết, dãy Hành Sơn là thể hiện tượng trưng cho thế nhân.

Dãy Hành Sơn có 72 ngọn núi, được gọi là tám trăm dặm Hành Sơn. Dãy núi Hành Sơn còn được ví như một đàn chim nhạn bay về phương nam, trong đó đỉnh Hồi Nhạn Phong ở Hành Dương là đầu, còn đỉnh Nhạc Lộc ở Trường Sa là đuôi. Chúng ta biết rằng chữ “nhạn” (雁) có bộ “nhân” (亻), biểu thị con người; ngay cả đội hình bay của ngỗng trời cũng xếp thành hình chữ “nhân” (人). Kỳ thực, nội hàm mà lịch sử gán cho chim nhạn chính là tượng trưng cho con người. Vậy thì lịch sử sắp đặt dãy Hành Sơn như một đàn nhạn bay thành hàng, thì thực chất là ngụ ý rằng dãy Hành Sơn chính là thể hiện tượng trưng cho thế nhân.

Thứ hai, sông “Tương” (湘) dùng chữ “tương” (相) trong chân tướng (真相) để thể hiện các đệ tử Pháp Luân Công giảng chân tướng. Vậy thì sông Tương tượng trưng cho các đệ tử Pháp Luân Công giảng chân tướng ở hướng bắc, đối ứng với dãy Hành Sơn tượng trưng cho thế nhân ở phía nam. Trạng thái này thể hiện nội hàm là: các đệ tử Pháp Luân Công đối diện hướng tới thế nhân, giảng cho họ chân tướng về “vụ tự thiêu giả ở Thiên An Môn”. Đây chính là ý nghĩa của bố cục Hành Sơn và sông Tương.

Mục đích thật sự của việc các đệ tử Pháp Luân Công giảng chân tướng cho thế nhân là khuyên thế nhân thoái xuất khỏi Trung Cộng, không làm vật bồi táng của Trung Cộng. Vậy thì khi đối diện với việc các đệ tử Pháp Luân Công giảng chân tướng, thái độ và biểu đạt khác nhau của mỗi người sẽ dẫn đến kết cục cuộc đời tốt xấu khác nhau. Những thái độ biểu đạt khác nhau và kết cục tốt xấu khác nhau này được thể hiện trong nội hàm của đỉnh đầu tiên là Hồi Nhạn Phong và đỉnh cuối cùng Nhạc Lộc Sơn của dãy Hành Sơn.

Xưa nay ở Hành Sơn có câu nói: đi lễ dâng hương thì trước hết phải bái Hồi Nhạn Phong. Kỳ thực “Hồi Nhạn” chính là con nhạn quay đầu, ngụ ý chỉ những người đã gia nhập Trung Cộng quay đầu là bờ: thoái xuất khỏi Trung Cộng, không làm vật bồi táng cho Trung Cộng.

Phần đuôi của đàn nhạn trong dãy Hành Sơn chính là đỉnh Nhạc Lộc. Đỉnh Nhạc Lộc nằm ở Trường Sa, một chữ “Sa” (沙) thể hiện ý nghĩa “đại lãng đào sa”, chỉ sự đào thải; mà chữ “Trường” (长) biểu thị số lượng người bị đào thải rất nhiều. Chính là nói, những ai không nghe các đệ tử Đại Pháp giảng chân tướng, kiên quyết không quay đầu và không thoái xuất khỏi Trung Cộng, thì sẽ trở thành vật bồi táng cùng Trung Cộng.

“Nhạc Lộc” có nghĩa là chân núi, chân dãy núi, tức dưới chân núi, mà trong chữ “nhạc” (嶽) có phần dưới là “ngục” (獄), nghĩa địa ngục. Vậy thì Nhạc Lộc hiển nhiên mang hàm ý địa ngục, sự đào thải. Khi kết hợp ý nghĩa “Trường Sa” biểu thị số lượng người bị đào thải rất nhiều với “Nhạc Lộc” tượng trưng cho địa ngục, vậy thì nội hàm ý trạng thái này triển hiện đã trở nên rõ ràng, cũng không cần giải thích thêm nữa.

Nói cách khác, sông Tương tượng trưng cho việc các đệ tử Pháp Luân Công đối diện giảng chân tướng cho thế nhân; Hành Sơn thể hiện thọ mệnh, thể hiện tiêu chuẩn đo lường. Vậy thì sự kết hợp giữa sông Tương và Hành Sơn có nghĩa là: việc một người có nghe các đệ tử Đại Pháp giảng chân tướng hay không, có thoái xuất khỏi Trung Cộng hay không, chính là tiêu chuẩn tối cao dùng để đánh giá người đó được lưu lại hay không.

Đỉnh núi cao Chúc Dung đứng đầu trong tứ tuyệt của Hành Sơn; chân tướng mà các đệ tử Pháp Luân Công giảng chính là tiêu chuẩn cao nhất để đo lường việc một người được lưu lại hay bị đào thải trong thời đại kiếp nạn. Và ranh giới này được thể hiện ở Trương Gia Giới.

3. Trương Gia Giới

Khu thắng cảnh Vũ Lăng Nguyên ở Trương Gia Giới nằm ở thành phố Trương Gia Giới thuộc phía tây bắc tỉnh Hồ Nam, là nơi du lịch nổi tiếng nhất hiện nay của Hồ Nam. Trương Gia Giới còn gọi là Đại Dung. Trong lịch sử ngày hôm nay, Trương Gia Giới được thế nhân quan tâm, trên bề mặt là vì cảnh quan du lịch độc đáo, nhưng kỳ thực nhân tố đằng sau nằm ở vai trò lịch sử của Trương Gia Giới, chính là giải thích cho chủ đề của Hồ Nam, hiện nay là lúc để triển hiện điều đó, nên mới có “Trương Gia Giới” nổi tiếng như vậy.

Như đã đề cập ở trên, khi đối diện với việc các đệ tử Pháp Luân Công giảng chân tướng, mỗi người trong thế gian đều phải biểu đạt thái độ, hơn nữa việc họ biểu đạt thái độ như thế nào sẽ quyết định vận mệnh của họ. Thế nhân cần phải biểu đạt thái độ, nội hàm này thể hiện ở Trương Gia Giới.

Thành phố Trương Gia Giới còn gọi là Đại Dung. Chữ “Dung” (庸) nghĩa là bình thường, phàm nhân, người thường không tu luyện, còn “Đại Dung” là chỉ tất cả mọi người.

Tất cả thế nhân đều phải mở miệng biểu đạt thái độ – “Trương Gia”; hơn nữa, dựa vào biểu đạt thái độ khác nhau để phân chia ranh giới, xác định biên giới – Trương Gia Giới. Vậy “giới” là gì? Chính là Vũ Lăng Nguyên.

Như đã đề cập trong bài viết “Hồ Bắc” trước đó, chữ “Vũ” chỉ việc các đệ tử Pháp Luân Công giảng chân tướng cho thế nhân, vạch trần Trung Cộng, giải thể Trung Cộng; còn chữ “Lăng” tức là thông qua “hẻm Tây Lăng” ở Tam Hiệp để chỉ Trung Cộng là ma quỷ đến từ phương Tây. Vậy thì Vũ Lăng rõ ràng là chỉ Pháp Luân Phật Pháp và Trung Cộng. Chính là nói, khi thế nhân mở miệng biểu đạt thái độ, họ sẽ chọn nghe theo lời khuyên của các đệ tử Pháp Luân Công thoái xuất khỏi Trung Cộng, hay kiên quyết đứng về phía Trung Cộng, một ranh giới này, một thái độ biểu đạt này, một tiêu chuẩn đo lường này sẽ quyết định người đó trong thời đại kiếp nạn được lưu lại hay bị đào thải, có sống thọ hay không.

Đây chính là “thọ tỷ Nam Sơn”.

Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/247033