[ChanhKien.org]
36. Mãi không lạc hướng — Câu chuyện của một vị thuyền trưởng
Tác giả: Tử Yên
Thuyền trưởng Vương Trung Đồng đã làm việc trên biển suốt 20 năm, sự nghiệp hàng hải của ông hiện diện khắp 3 đại dương. Những câu chuyện về những lần ông đối mặt với hiểm nguy trên biển cả, có kể 3 ngày 3 đêm cũng không hết; tuy chúng ta không tận mắt chứng kiến, nhưng có thể hình dung được chúng chắc chắn cũng kinh tâm động phách như những tình tiết trên phim ảnh. Ông tin rằng hẳn phải có Thần Phật phù hộ thì mới có thể giúp ông trong 20 năm sự nghiệp hàng hải, đặc biệt là trong quãng thời gian làm thuyền trưởng, chưa từng để xảy ra tai nạn lật tàu nghiêm trọng hay sự cố ngoài ý muốn nào với thuyền viên, điều này khiến ông cảm thấy vô cùng an lòng.
Trên Wikipedia, định nghĩa về thuyền trưởng là: Thuyền trưởng (Captain, Master hay Ship Master) là người chỉ huy hàng hải có bằng cấp cao nhất trên một con tàu thương mại. Thế nhưng, một vị thuyền trưởng hội tụ đủ uy quyền, tri thức và tầm nhìn xa trông rộng, người chưa từng lạc hướng trên biển ấy, lại có một khoảng thời gian dài cảm thấy lạc lối về nhân sinh; cho đến khi ông gặp một cơ duyên kỳ lạ vào năm 2002, giúp ông giải khai được những khúc mắc trong cuộc đời, từ đó mới bừng tỉnh hiểu ra và trở thành một người thuyền trưởng thực sự “mãi không lạc hướng”.
Người đi biển kính Trời sợ biển
Mặc dù Đài Loan bốn bề là biển, nhưng ngành hàng hải với người thường mà nói vẫn còn rất xa lạ. Thuyền trưởng Vương Trung Đồng nói: “Nhiều người cảm thấy đãi ngộ của ngành này khá tốt, mức lương khoảng 130 nghìn (Tân Đài tệ) cho phó ba, 150 nghìn cho phó hai, 180 nghìn cho phó một, và thuyền trưởng từ 200 nghìn đến 300 nghìn, tùy thuộc vào loại tàu, trọng tải và tuyến đường thủy. Thuyền trưởng lên một bậc nữa là hoa tiêu (người dẫn đường cho tàu vào cảng), mức lương hoa tiêu bắt đầu từ 500 nghìn trở lên.” Tuy nhiên, đằng sau những con số hấp dẫn đó lại là những gian khổ khó có thể tưởng tượng được.
Người xưa có câu: “Đi ghe đi ngựa ba phần hiểm”. Thuyền trưởng Vương chia sẻ: “Trong những năm tháng lênh đênh trên tàu, thực tế tôi đã từng vài lần đối mặt với cái chết”.
Năm 1971, Vương Trung Đồng vừa tốt nghiệp chuyên khoa hàng hải. Chẳng ai ngờ ngay trong lần đầu tiên lên tàu thực tập, ông liền gặp phải một trải nghiệm khắc cốt ghi tâm.
“Hồi đó tàu còn cũ kỹ lắm, toàn là tàu tiếp tế của quân đội Mỹ từ thời Thế chiến thứ 2 để lại, Đài Loan tận dụng chúng làm tàu thương mại. Lần đó, tàu của chúng tôi vừa nhổ neo ra khơi thì gặp ngay sóng to gió lớn. Con tàu rung lắc dữ dội, nghiêng qua nghiêng lại tới hơn 30 độ. Nếu chẳng may lắc quá đà sang 45 độ là tàu sẽ lật úp ngay. Mỗi phút mỗi giây đều nghẹt thở, lúc nào cũng phải đối mặt với cái chết. Mọi người trên tàu đều nôn thốc nôn tháo đến thảm hại. Con tàu phải gồng mình đâm thẳng vào đầu sóng ngọn gió mà đi, vì nếu để sóng đánh ngang thân, tàu sẽ bị lật nhào. Tàu đi trong bão dữ suốt 4 ngày đêm. Đến khi sóng yên biển lặng, chúng tôi dùng định vị thiên văn để đo lại vị trí thì con tàu đã bị đẩy lùi lại 4 dặm”.
Thế có nghĩa là, họ đã hiên ngang lao vào sóng dữ, chiến đấu ròng rã 4 ngày trời, cuối cùng chẳng những không tiến thêm được bước nào mà còn bị thụt lùi.
“Lúc đó tôi đúng kiểu ‘nghé non không sợ hổ’, chẳng biết sợ hãi là gì. Nhưng thuyền trưởng và các thuyền viên đều hiểu rằng, đó là nhờ ông Trời từ bi phù hộ mới giữ được mạng sống”.
Sau này khi Vương Trung Đồng đã trở thành thuyền trưởng, có một lần ở Hà Lan, công ty vận tải giao cho họ một con tàu cũ nát. Vì lịch trình gấp gáp, không thể đợi sửa chữa xong xuôi, con tàu đã phải nhổ neo. Hành trình của họ là từ Hà Lan đi New York. Vừa tiến ra Đại Tây Dương, họ đã đụng phải một vùng áp thấp với những trận cuồng phong cấp 14, phạm vi trải dài hơn một nghìn dặm.
“Con tàu chao đảo dữ dội, nghiêng qua nghiêng lại tới 40 độ! Chòng chành bập bềnh lên xuống như tòa nhà cao 10 tầng! Đồ đạc trên tàu bị sóng đánh văng tung tóe, tan tác hết cả. Một con sóng dữ ập đến khiến động cơ chính và máy phát điện đều hỏng cả, cả con tàu chìm trong bóng tối, mất sạch động lực. Con tàu cứ thế lênh đênh trên biển, lắc lư qua lại hơn 40 độ. Anh em dưới khoang máy cuống cuồng tìm cách khởi động lại tàu để khôi phục động lực nhanh nhất có thể.
Có một thủy thủ đang ngủ trên giường thì bị hất văng xuống đất, đệm giường cũng trượt theo đè nghiến lên người. Anh ta cứ ngỡ tàu đã lật, sợ đến mức hồn xiêu phách lạc, vội vàng vơ lấy áo phao chạy thục mạng lên đài chỉ huy. Kết quả lên đến nơi thì thấy các thủy thủ khác cũng đều mặc áo phao tụ tập ở đó, chen kín cả buồng lái, không ai dám quay về phòng.
Lúc ấy, ông bếp trưởng ôm khư khư cái nồi cơm điện lớn, vác theo bao gạo chạy lên đó cắm điện nấu cơm, lại còn khuân thêm một bao tải đồ hộp, ai muốn ăn thì tự mở, vì có những người nôn đến mức chẳng còn thiết ăn uống gì. Còn tôi thì tọa trấn trên ghế thuyền trưởng, ngoài việc trấn an lòng người ra thì chẳng còn cách nào khác”. Họ đã phải chống chọi trong cơn bão dữ suốt 7 ngày đêm. “Sau này, khi giám định viên hàng hải của Anh kiểm tra con tàu, trong báo cáo đã liệt kê ra tới 18 lỗi hỏng hóc, và kết luận bằng một câu: ‘Một đống sắt vụn trôi dạt trên biển’.
Những trải nghiệm cận kề cái chết của ông nào chỉ có 2 lần đó, chẳng qua lần đầu tiên và lần sóng gió nhất là những kỷ niệm ông nhớ rõ nhất. Thuyền trưởng Vương nói: “Con tàu vạn tấn nhìn thì to lớn thế đấy, nhưng giữa đại dương, nó cũng chỉ là một hạt muối bỏ bể. Chẳng may gặp phải bão lớn, đến giây tiếp theo mình còn sống hay không cũng chẳng biết được. Cái gì là ‘uy lực của đất trời’? Những người như chúng tôi là thấu hiểu sâu sắc nhất.
Đừng nói bản thân bản lĩnh đến đâu, những người sống nghề biển đều biết con người nhỏ bé thế nào trước đại dương. Chúng tôi gọi đó là ‘Kính Thiên Úy Hải’ (Kính sợ trời xanh, nể sợ biển cả). Ông Trời hôm nay ban cho miếng ăn thì mình được sống sót trở về; còn nếu ông Trời đã gọi đi, anh không muốn đi cũng chẳng được”.
Bởi vì trời có lúc mưa gió bất thường, nên những người mưu sinh trên biển lúc nào cũng phải phó thác sinh mạng cho ông Trời; xem ra công việc lương cao này còn đòi hỏi người không sợ say sóng, thân thể đủ cường tráng, trái tim đủ vững vàng, ý chí đủ kiên cường mới có thể đảm đương nổi; quan trọng nhất vẫn là người biết kính Trời kính Thần, đức hạnh vẹn toàn thì mới nhận được ông Trời chiếu cố, bình an đi lại giữa đại dương.
Rời quê xa xứ, xa vợ xa con
Ngoài những rủi ro bất trắc trên biển, điều khó chịu đựng nhất với mỗi thủy thủ chính là nỗi khổ “rời quê xa xứ, xa vợ xa con”.
Thuyền trưởng Vương kể: “Thời đó, hợp đồng của chúng tôi thường ký một năm rưỡi, sau này rút ngắn xuống còn một năm. Nghĩa là kể từ ngày anh bước chân lên tàu, nếu tàu không cập cảng Đài Loan thì cứ thế chạy quanh các hải cảng quốc tế; lúc nhận tàu thì đi máy bay đến cảng nước ngoài, sau một năm hoàn thành nhiệm vụ cũng lại bay về.” Về sau, chế độ dần trở nên nhân văn hơn, có những con tàu chạy tuyến cố định, khoảng một tháng lại về Đài Loan một lần.
“Vợ của các thuyền viên là những người vĩ đại nhất.” Thuyền trưởng Vương bùi ngùi cảm thán. Con cái đều do một tay người vợ nuôi nấng trưởng thành, từ con ốm đau đi viện trong đêm cho đến chuyện học hành và mọi việc lặt vặt khác, tất cả đều do vợ ông gánh vác.
“Hồi đó chúng tôi viết thư là phải đánh số thứ tự. Có khi nhận được lá thư số 10, mà 9 lá trước đó chẳng biết đã thất lạc tận quốc gia nào rồi.” Đến khi đọc được thư thì mọi chuyện đều đã trở thành quá khứ: “Chuyện con ốm, con nằm viện, đều là chuyện của mấy tháng trước.” Trong suốt quá trình trưởng thành của các con, dù chuyện có quan trọng đến đâu, thuyền trưởng Vương cũng đành phải vắng mặt. Chính vì sự vắng mặt triền miên đó mà con trai ông nói rằng, hồi nhỏ cậu chẳng có ấn tượng gì về cha mình.
Hồi tưởng lại quãng thời gian làm vợ thuyền trưởng, bà Trần Tiểu Lân chia sẻ rằng trước khi kết hôn, bà vốn là người có tính cách rất ôn hòa và yếu đuối. “Người Trung Hoa có câu: ‘Vi nữ tắc nhược, vi mẫu tắc cường’ (Làm con gái thì yếu mềm, nhưng làm mẹ thì sẽ trở nên kiên cường). Khi đã làm mẹ, bạn buộc phải mạnh mẽ lên, bởi có một sinh linh bé bỏng đang cần bạn che chở và nuôi nấng nên người. Mọi việc của con cái tôi đều toàn quyền xử lý, kể cả những việc lớn nhỏ trong nhà cũng một mình tôi gánh vác! Chẳng có ai để làm chỗ dựa, nên bạn không thể không đứng vững trên đôi chân của chính mình.”
Trở lại đất liền – Làm thầy giáo
“Cuộc sống của người đi biển vốn dĩ rất bấp bênh, và trong lòng người vợ, họ cũng luôn cảm thấy bất an như vậy.” Sau 20 năm lênh đênh trên biển cả, ở tuổi 42, thuyền trưởng Vương cuối cùng đã quyết định xuống tàu để lên bờ.
Sau khi lên bờ, thuyền trưởng Vương quay trở lại trường cũ là Trường Đại học Hàng hải Trung Hoa (China Maritime College) để giảng dạy. “Trường có một con tàu thực tập do tôi phụ trách quản lý, sắp xếp cho khoảng hơn 40 sinh viên lên tàu thực tập mỗi đợt. Sinh viên thuộc 3 khoa: Hàng hải, Máy tàu và Ngư nghiệp sẽ được sắp xếp đi biển một lần mỗi học kỳ; nội dung chủ yếu là hướng dẫn thực tập hàng hải, quản lý tàu và các khóa học chuyên môn về nghiệp vụ trên tàu”.
Tuy nhiên, công việc này hoàn toàn khác biệt so với khi còn ở trên tàu. Thuyền trưởng Vương chia sẻ: “Dạy học ở trường là một sự rèn luyện rất lớn với tâm tính của tôi. Bản tính tôi là một thuyền trưởng hiền hòa, nhưng khi đã ở vị trí đó thì buộc phải có chút uy quyền. Hệ thống cấp bậc trên tàu rất nghiêm ngặt, thuyền trưởng là người lớn nhất, quản lý tất cả mọi người, lời nói ra là mệnh lệnh vì ông ấy phải chịu trách nhiệm cho toàn bộ con tàu. Ở trường thì không như vậy, sinh viên có phục anh thì chúng mới nghe lời anh”.
Bên cạnh việc ma luyện tâm tính với sinh viên, mức lương giữa thuyền trưởng và giáo viên cũng có sự chênh lệch một trời một vực. “Lương thuyền trưởng từ 200 đến 300 ngàn tệ, nhưng khi mới vào trường, lương giáo viên của tôi còn ít hơn cả số tiền thuế tôi từng đóng khi làm thuyền trưởng”.
Chính vì vậy, lúc đó ông thường tự nhủ: “Cứ lên bờ làm tạm 3, 5 năm rồi mình sẽ quay lại tàu làm việc.” Giống như “rồng mắc chỗ nước cạn”, thuyền trưởng Vương luôn nghĩ đến việc phải trở lại tàu. Thế nhưng, 10 năm sau khi lên bờ, một sự kiện đã xảy ra khiến ông bỏ luôn ý định quay trở lại tàu.
Lạc hướng sinh mệnh – Tìm kiếm lối ra
Khi điều khiển tàu trên biển, người thuyền trưởng luôn kiên định và điềm tĩnh, là chỗ dựa duy nhất để toàn bộ thủy thủ đoàn nhìn vào mà hành động. Suốt 20 năm qua, thuyền trưởng Vương chưa từng phụ lòng mong đợi của anh em. Dù trải qua vô số hiểm nguy, nhưng bằng kiến thức chuyên môn và sự phán đoán chính xác tích lũy từ kinh nghiệm, ông đã hết lần này đến lần khác đưa con tàu cùng mọi người cập bến an toàn. Thế nhưng, người thuyền trưởng chưa từng lạc lái giữa đại dương ấy lại cảm thấy hoang mang trước cuộc đời, ông đã thực sự “lạc hướng” trên con đường sinh mệnh.
Thuyền trưởng Vương chia sẻ: “Cả đời tôi luôn đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Con người sống để làm gì? Ý nghĩa của nhân sinh là chi? Tại sao chúng ta lại đến thế gian này một chuyến? Nhìn ra xung quanh, chỉ thấy khổ đau thì nhiều mà niềm vui thì ít, để rồi cuối cùng tất cả cũng chỉ là hư không.”
Ông kể rằng từ nhỏ mình đã luôn đi tìm đáp án cho sinh mệnh này. Trong suốt những năm tháng trưởng thành, ông đã đọc đủ loại sách về tôn giáo, từ Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo cho đến Mật tông, Phật giáo, Đạo giáo… với hy vọng tìm thấy câu trả lời mình hằng mong ước. Nhưng đáng tiếc thay, ông vẫn mãi chưa tìm thấy.
Khi thuyền trưởng Vương mới ngoài 20 tuổi, ông đã phải trải qua một cuộc sinh ly tử biệt đau thấu tâm can, điều này càng làm sâu sắc thêm những nghi hoặc của ông về sinh mệnh. “Người cậu họ thứ hai của tôi đột ngột qua đời vì ung thư. Cậu là người đã dắt chúng tôi đi chơi và cùng chúng tôi trưởng thành. Cậu ra đi khi còn quá trẻ, để lại vợ con không nơi nương tựa, tôi cảm thấy vô cùng đau buồn”.
Tin buồn này là một cú sốc lớn với ông: “Rốt cuộc con người đến thế gian này để làm gì? Cứ cho là có luân hồi chuyển kiếp, một người sau khi chết đi lại đầu thai, nhưng những kinh nghiệm mà người đó phải nếm trải bao đắng cay ở kiếp trước mới có được, thì sau khi chuyển sinh lại chẳng còn nhớ gì cả, tất cả đều phải bắt đầu lại từ đầu. Huống hồ mỗi chúng ta cứ đời này qua đời khác mãi phạm sai lầm, làm những việc không tốt, nên con người ngày càng xấu đi, nghiệp lực cứ cuồn cuộn tích tụ ngày càng lớn. Vậy chúng ta hết lần này đến lần khác đến thế gian này để làm gì cơ chứ?”
Đợi chờ một đời – Tu luyện Pháp Luân Đại Pháp
Suốt mấy mươi năm, thuyền trưởng Vương đã tìm hiểu rất nhiều tôn giáo và pháp môn tu luyện khác nhau nhưng vẫn chưa tìm thấy đáp án cho sinh mệnh. Dẫu vậy, ông vẫn mải miết tìm kiếm giữa biển người mênh mông, hy vọng một ngày nào đó tìm được báu vật có thể tháo gỡ những nút thắt trong lòng.
Năm 2001, thuyền trưởng Vương đưa vợ và các cháu ngoại đến Công viên Rừng Đại An chơi. Một cô gái trẻ đã đưa cho ông tờ rơi giới thiệu về Pháp Luân Công. Lần đầu tiên biết đến môn này, sau khi xem qua tờ giới thiệu, ông nói với vợ: “Trong này viết Pháp Luân Công là cơ chế tự động, tự động thì tốt quá.” Nhưng sau khi về nhà, ông lại gác tờ giới thiệu ấy sang một bên.
Mãi đến năm sau, một ngày nọ con trai ông nhận được phiếu thưởng sách trị giá 500 đồng ở trường, ông liền đến hiệu sách Kim Thạch Đường dạo xem. Khi tới đó, ông chợt nhớ đến Pháp Luân Công, tìm trên giá sách và thấy cuốn “Chuyển Pháp Luân” duy nhất, liền mua về đọc. Từ ngày ấy, thuyền trưởng Vương bước vào hàng ngũ tu luyện Pháp Luân Đại Pháp.
Bỏ được thuốc lá và rượu sau hơn 30 năm
Năm đó, vào dịp cận Tết, thuyền trưởng Vương đọc trong sách “Chuyển Pháp Luân” thấy đại ý nói rằng hút thuốc không tốt cho sức khỏe, ai muốn bỏ thì từ bây giờ có thể bỏ thuốc. Thế nhưng, Vương Trung Đồng từ năm 15 tuổi đã bắt đầu hút thuốc, hơn 30 năm là một người nghiện thuốc lâu năm, việc hút thuốc từ lâu đã trở thành một phần trong cuộc sống của ông.
Vợ ông nhìn 2 bao thuốc đặt chồng trên bàn rồi nói: “Anh muốn bỏ thì bỏ đi.” Thuyền trưởng Vương đáp: “Được! Tôi bỏ vậy! Từ bây giờ tôi không hút nữa”.
Thuyền trưởng Vương, người từ đó đã bỏ hút thuốc, nói: “Tôi đã thấy quá trình cai thuốc của nhiều người, họ rất đau khổ, dùng đủ mọi cách mà vẫn không bỏ được. Nhưng tôi hoàn toàn không gặp khó khăn gì, cũng không có quá trình đau đớn khi cai thuốc.” Đây là lần đầu tiên ông cảm nhận được rằng, thì ra tu luyện Pháp Luân Đại Pháp lại kỳ diệu như thế.
Tiếp đến là chuyện uống rượu. Vương Trung Đồng kể rằng ông biết uống rượu từ nhỏ: “Từ bé tôi đã thường xuyên ngồi uống rượu cùng cha. Đến năm ngoài 20 tuổi bắt đầu đi biển, rượu khi đó là hàng miễn thuế nên việc uống rượu trở thành một thói quen sinh hoạt, gần như ngày nào tôi cũng uống.” Cho đến nửa năm sau khi cai thuốc, một lần nọ ông cùng vợ đi dự tiệc họp lớp, sau khi đã ăn uống no say, thuyền trưởng Vương bảo với vợ: “Rượu của cả đời này, có lẽ chúng ta đã uống hết và uống đủ rồi.” Kể từ đó, ông không bao giờ đụng đến rượu nữa.
Chứng kiến sự thần kỳ của việc tu luyện Pháp Luân Đại Pháp trong quá trình từ bỏ thuốc lá và rượu, thuyền trưởng Vương cảm thấy thật may mắn vì mình đã lên bờ, nếu không thì làm sao ông có cơ hội trở thành một người tu luyện được? “Trong suốt cuộc đời mình, điều quan trọng nhất là tôi đã đắc được Pháp này, thế là quá đủ rồi!”
Vấn đề sức khỏe của người đi biển
Với chiều cao 1m80, thuyền trưởng Vương sở hữu một thân hình vạm vỡ — đây vốn là điều kiện tiên quyết để ông có thể trụ vững suốt 20 năm trên biển. Nhìn bề ngoài, cứ ngỡ ông chẳng có vấn đề gì về sức khỏe, nhưng ông chia sẻ rằng việc ở trên biển dài ngày đã gây ra những tổn thương không thể tránh khỏi cho cơ thể.
“Khi chạy tuyến Trung Đông, điều khó thích nghi nhất là nhiệt độ ở đó. Nhiệt độ tại Trung Đông thường duy trì ở mức khoảng 40°C, ban ngày nóng đến mức không chịu nổi. Thời đó trang thiết bị trên tàu còn kém, nước ở đó còn quý hơn cả dầu mỏ nên phải kiểm soát cực kỳ nghiêm ngặt. Mỗi người một ngày chỉ được chia đúng 200ml nước uống, còn chuyện tắm rửa thì đừng hòng nghĩ tới. Đến ban đêm, nhiệt độ trong phòng vẫn ở mức 45°C, gió thổi ra từ quạt điện cũng là gió nóng, hoàn toàn không thể ngủ được. Vì vậy, tôi đành phải cầm chiếu ra trải trên boong tàu, hóng gió biển mà ngủ. Phải từ sau 12 giờ đêm đến khoảng 2 giờ sáng mới bắt đầu thấy mát mẻ đôi chút. Nhưng vấn đề nảy sinh từ đây: vì gió biển mang theo rất nhiều hơi nước và độ ẩm cao, ngủ trong gió biển như vậy cực kỳ dễ mắc bệnh phong thấp”.
Sau khi bị phong thấp, các khớp xương trở nên dễ bị tổn thương hoặc thường xuyên đau nhức. “Trên tàu lại hay phải bê vác vật nặng nên lưng tôi thường bị chấn thương, mắt cá chân cũng bị chấn thương mãn tính”.
Ngoài bệnh phong thấp, còn một vấn đề khác mà hầu hết những người đi biển đều gặp phải. Thuyền trưởng Vương cho biết: “Người đi tàu quanh năm không chạm đất. Thế hệ người Hoa đi trước thường nói rằng con người cần phải tiếp ‘địa khí’, nhưng chúng tôi suốt ngày chỉ đứng trên mặt boong, chẳng có chút địa khí nào để tiếp nhận. Vì thế mà đôi chân lúc nào cũng cảm thấy hẫng hụt, đầu gối thì bủn rủn, vô lực; vậy nên mỗi khi trở về, tôi thường để chân trần đi trên bãi cỏ, trên bùn đất để mong tiếp được chút địa khí.”
“Trước đây, chỉ cần đứng ở bồn rửa bát để rửa 2 cái bát thôi là lưng tôi đã không thể đứng thẳng lên được rồi, phải gọi ngay vợ đến đấm lưng giúp thì mới dịu đi đôi chút. Lúc mới bắt đầu tập bài công pháp thứ năm của Pháp Luân Công, đừng nói đến chuyện ngồi kiết già, ngay cả việc ngồi thẳng lưng tôi cũng không làm nổi. Lưng của tôi lúc nào cũng phải tìm vật gì đó để tựa vào, nên thời gian đầu tôi toàn phải ngồi trên ghế sofa để luyện công.” Thế nhưng, sau một thời gian tu luyện, tất cả những vấn đề này thảy đều biến mất.
Tu luyện Pháp Luân Công – Tiêu trừ bệnh nghiệp
Tin rằng nhiều người đã nghe qua, người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp sẽ gặp phải tình trạng “tiêu trừ bệnh nghiệp”, và thuyền trưởng Vương cũng đã trải qua điều đó:
“Năm ấy, vào đợt sắp nghỉ đông, có một đêm đang ngủ thì tôi đột nhiên bị chảy máu cam, máu chảy ra rất nhiều. Tôi nghĩ đây chắc chắn là đang ‘tiêu nghiệp’ nên chẳng bận tâm. Sáng hôm sau thức dậy, tôi vẫn đến trường dạy học như bình thường. Các đồng nghiệp ở trường thấy tôi chảy máu cam thì chỉ cho tôi đủ thứ cách, nào là bấm huyệt, chườm đá, rồi cả đống bí phương dân gian, tôi chỉ mỉm cười khước từ. Kết quả là máu cứ thế chảy liên tục suốt mấy ngày không ngừng. Cho đến ngày cuối cùng của học kỳ, trường tổ chức tiệc tất niên, ngay giữa bữa tiệc tôi lại bị chảy máu cam. Tôi vội chạy về văn phòng, lấy cái thùng rác ra hứng, thế là máu mũi chảy xuống ào ào!” Cảnh tượng đó khiến người đồng nghiệp ngồi bên cạnh sợ khiếp vía. Thuyền trưởng Vương một bên hứng máu, một bên vẫn an ủi đồng nghiệp: “Không sao, không sao đâu!”.
Người đồng nghiệp cuống quýt: “Sao mà không sao được, máu chảy đến mức đó rồi mà còn bảo không sao, tôi gọi cấp cứu ngay đây.” Nói đoạn, người đó chẳng đợi giải thích mà gọi ngay xe cứu thương đến. Thuyền trưởng Vương cũng vội gọi điện cho người vợ cũng là đồng tu, bà nói trong điện thoại: “Không sao, không sao đâu!”. Thuyền trưởng Vương đáp: “Thì đúng là không sao thật, nhưng xe cấp cứu đến nơi mất rồi”.
Ngay sau đó, bà Vương cũng đã kịp thời có mặt tại bệnh viện. Qua kiểm tra, bác sĩ đo được huyết áp của ông Vương Trung Đồng cao tới 210. Sau khi kê đơn thuốc hạ huyết áp, bác sĩ đã cho ông bà trở về nhà. Thuyền trưởng Vương chia sẻ: “Lúc đó, thực ra trong tâm tôi rất rõ ràng rằng đó là Sư phụ đang giúp mình. Tôi cảm nhận được rất rõ là máu từ phía bên trái trong đầu chảy xuống mũi; nếu không chảy ra như vậy, có lẽ ở bên trong nó đã nổ tung rồi”.
Tính khí của ông – Tựa như biển cả
Thuyền trưởng Vương của hiện tại mang lại cho người đối diện cảm giác về một người trầm tĩnh, vững chãi, thân thiết, ôn hòa. Thế nhưng, ông tự nhận rằng hồi còn đi học trường hàng hải, ông nổi tiếng là kẻ hay đánh nhau, gây rối.
“Thực ra tính khí của tôi ngày trước cực kỳ xấu, rất nóng nảy và bạo ngược. Tôi không chủ động đi gây hấn với ai, lúc lý trí vẫn có thể giữ được bình tĩnh và biết cách kìm nén bản thân. Thế nhưng cứ nén, nén, nén mãi đến một mức độ nào đó thì nó bùng phát. Một khi đã nổi cơn lôi đình thì giống như phát điên vậy, rất nghiêm trọng. Sau khi kết hôn, tôi vẫn cứ tồn tại hai thái cực tính cách đối lập như thế.”
Bà Vương nhận xét về chồng mình: “Tính của ông ấy trước đây đúng là rất nóng nảy! Tôi hay ví ông ấy giống như loại vải nhung điện (vải nỉ), chỉ có thể vuốt xuôi theo chiều thôi thì nhìn rất đẹp, mượt mà bóng bẩy; nhưng không thể vuốt ngược được, hễ vuốt ngược một cái là tất cả dựng đứng hết cả lên, trông rất khó coi! Nghĩa là bạn phải thuận theo ý ông ấy, hễ làm ngược ý một chút là rắc rối to, con người ông ấy lúc đó sẽ trở nên rất đáng sợ.”
Trong thời gian đi biển, hễ xa nhà lâu là thuyền trưởng Vương lại thấy nhớ nhà da diết. Nhưng mỗi khi về nhà chưa đầy 3 tháng là giữa ông và vợ lại bắt đầu sinh chuyện. “Tháng đầu tiên thì êm đẹp, tháng thứ hai bắt đầu cãi vã nhỏ, đến tháng thứ ba là bùng nổ.” Sau đó, ông lại nhanh chóng thu xếp hành lý rời nhà lên tàu. Dù đã lên tàu rồi, nhưng trong thâm tâm ông vẫn cảm thấy khổ tâm vô cùng.
Vào những đêm trời yên biển lặng, đại dương phẳng lặng như một tấm gương, ngắm nhìn bầu trời đầy sao, tâm hồn thuyền trưởng Vương cũng tĩnh lại. Ông chậm rãi suy ngẫm bản thân mình cũng có những điểm chưa tốt, còn vợ cũng có những điểm làm rất hay; ông cứ thế tự hỏi tự trả lời, tự kiểm điểm bản thân. Thế nhưng, đến lần sau về nhà, kịch cũ lại được diễn lại một lần nữa, cứ thế lặp đi lặp lại. “Cũng may là cái nghề của tôi đã giúp tránh được rất nhiều xung đột”.
“Hai chúng tôi có cá tính và cách tư duy khác nhau, nên thường xuyên xảy ra va chạm lớn.” Cặp đôi này đúng là ‘Nam viên Bắc triệt’ (người đi hướng Nam, kẻ chạy hướng Bắc), cá tính hoàn toàn trái ngược. Bà Vương kể: “Chúng tôi khác biệt đến mức nào ư? Nhà chúng tôi ra cửa rẽ trái chưa đầy 100m là có đèn xanh đèn đỏ, tôi bảo đi thẳng thì ông ấy bảo rẽ phải. Cho đến một ngày tôi tự nhủ: ‘Lần nào cũng khác nhau như vậy thì cãi làm gì cho mệt?’. Thế là tôi bảo: ‘Thôi được rồi, rẽ phải’, thì ông ấy lại nói: ‘Đi thẳng!’. Lúc nào cũng ngược đời như thế đấy. Chắc chắn là bạn muốn đi hướng Đông thì ông ấy phải đi hướng Tây mới chịu”. Vậy người vợ có tính cách nhu mì này có luôn phục tùng ý kiến của chồng không? “Ông ấy không phải kiểu người trưng cầu ý kiến của bạn rồi mới làm, mà là tự mình quyết định rồi trực tiếp làm luôn. Tính cách ông ấy là vậy đấy.” Thuyền trưởng Vương hóm hỉnh nói thêm: “Vợ tôi bảo, kiếp trước chắc chắn tôi từng làm hải tặc”.
Hướng nội tìm – Pháp bảo giúp tu luyện tâm tính
Thuyền trưởng Vương nói, trong thời gian đầu tu luyện, thực ra trong lòng ông vẫn luôn chưa thật sự nắm chắc con đường tu này, bởi vì ở quan tu tâm tính, ông đi nghiêng nghiêng ngả ngả, rất khó vượt qua.
Sau khi tu luyện, ông biết tính cách cực đoan của mình là không phù hợp với Pháp lý “Chân, Thiện, Nhẫn” của Pháp Luân Đại Pháp. Ông thường tự nhủ: “Đã tu Đại Pháp rồi, đừng nóng nảy như vậy nữa, thôi bỏ đi.” Nhưng cái “bỏ đi” ấy không phải là thật sự buông bỏ, mà là cưỡng ép đè nén xuống; cái “nhẫn” đó không phải là “Nhẫn” phù hợp với “Chân, Thiện, Nhẫn” mà Sư phụ Lý Hồng Chí giảng, mà là nhẫn chịu gượng ép. “Nhưng hễ có việc động chạm đến tâm linh là con người lại bật lên ngay.”
Mỗi lần không khống chế được cảm xúc, sau khi bùng phát xong, ông luôn hối hận tự hỏi vì sao mình lại như vậy. “Một lần, hai lần, ba lần — cảm giác thất bại ấy ngày càng nặng nề.”
Sống chung dưới một mái nhà, bà Vương đã đối diện thế nào mỗi khi thuyền trưởng Vương mất kiểm soát và nổi trận lôi đình? Bà chia sẻ: “Hễ thấy ông ấy sắp bùng nổ là tôi quay lưng đi thẳng! Bản thân tôi khi đó cũng tu chưa tốt, tôi không muốn chứng kiến cảnh ông ấy phát hỏa, nên tốt nhất là để mình rời khỏi cái ‘trường’ hỗn loạn đó trước đã”.
“Tôi tự hỏi chính mình: Hoàn cảnh của mình là như thế này, vậy mình có muốn tiếp tục sống tiếp không? Có chứ! Mình có muốn tu luyện không? Có chứ! Vậy nếu muốn tu luyện, thì đây chính là môi trường của mình, mình có muốn từ trong đó mà tu thoát ra không? Có chứ! Cứ thế, tôi tự mình từng bước từng bước đi qua, dần dần mọi chuyện ngày càng trở nên tốt đẹp hơn”.
Mặc dù hiện tại vẫn chưa hoàn toàn vượt quan, nhưng ông Vương Trung Đồng biết rằng bản thân đang tốt lên từng ngày: “Bởi vì tôi có ‘pháp bảo’ mà Sư phụ đã ban cho — chính là hướng nội tìm!”
“Trước đây tôi cũng biết thế nào là hướng nội tìm, sau khi sự việc xảy ra, tôi cũng tự nhận thấy trong quá trình đó mình đã làm sai chỗ này, hỏng chỗ kia.” Thế nhưng, ông vẫn cứ hùng hồn mà nói với vợ rằng: “Em cũng làm không tốt chỗ này, không đúng chỗ nọ; chính vì cái không tốt của em nên mới chạm đúng vào cái không tốt của anh!” Mãi về sau, ông mới dần nhận ra rằng cách suy nghĩ đó là sai lầm.
Ông luôn suy ngẫm, Sư phụ Lý Hồng Chí giảng thế nào là “hướng nội tìm vô điều kiện”.
“Tất cả đều là nhìn lại chính mình, không có lý do nào cả, sai là sai, không có ‘vì cái này’ hay ‘nhưng cái kia’. Chính là phải nhìn nhận bản thân một cách đơn thuần nhất: chỗ này tôi không đúng, chỗ kia tôi chưa tốt, sau đó sửa chữa những cái sai, cái xấu đó cho tốt lên. Khi đã thông suốt được điểm này, tôi thấy nhẹ nhàng hơn rất nhiều, nhiều thứ cứ thế dần dần buông bỏ được”. “Khi tôi thực sự hướng nội tìm, vô điều kiện hướng nội tìm, có thể thực tâm nhận ra khuyết điểm của mình và tình nguyện sửa đổi, thì Sư phụ sẽ giúp chúng ta gỡ bỏ những thứ xấu đó đi từng chút, từng chút một”.
Bà Vương chia sẻ: “Dạo gần đây, tôi có thể cảm nhận và nhìn thấy ông ấy đang thay đổi. Sau một thời gian dài như vậy, kết quả tu luyện của ông ấy đã nhìn thấy rõ rồi, thực sự đã đổi khác rồi. Những chỗ trước đây dễ nổi cáu thì nay ông ấy không còn phát hỏa nữa. Tôi cứ nghĩ, chẳng phải không nổi nóng như thế này thì tốt biết bao sao? Chuyện gì cũng có thể cùng nhau bàn bạc mà”. Con trai của thuyền trưởng Vương cũng nhận xét rằng gần đây cha mình có sự chuyển biến rất lớn. Trước đây, ông là một người hoàn toàn coi mình là trung tâm, luôn cho rằng những gì mình đã quyết định thì nhất định phải đúng. Nhưng dạo này cha đã thay đổi, ông đã biết tôn trọng và dành không gian cho ý nguyện của người khác.
“Có những lúc tôi cảm thấy tu luyện thật khó, nhưng cứ nghĩ đến việc Sư phụ đã giúp đỡ mình nhiều đến vậy, tôi lại tự hỏi liệu sự nỗ lực của bản thân đã đủ hay chưa? Khi suy nghĩ như thế, tôi cảm thấy rằng bất kể việc gì mình cho là khó khăn đến đâu, bản thân cũng đều có thể làm được”. Thuyền trưởng Vương chia sẻ.
Không lạc hướng trên dòng đời
“Mục đích thực sự của nhân sinh là gì? Giữa thế gian đầy khổ đau, mê mờ và hỗn loạn này, tại sao chúng ta lại đến đây một chuyến, mục đích căn bản nhất là chi?” Vương Trung Đồng chia sẻ rằng những câu trả lời mà ông đã dành cả đời để tìm kiếm, giờ đều đã tìm thấy trong Pháp Luân Đại Pháp.
Vậy mục đích căn bản mà ông thể ngộ được là gì? Thuyền trưởng Vương nói: “Thứ nhất, chúng ta cần phải tu luyện đến viên mãn. Bởi vì trong luân hồi thế gian, con người mãi mãi là khổ, mục đích của tu luyện chính là đạt đến viên mãn, trở về nơi mà bạn đã từ đó đến. Trong thời đại này, ngoài việc tự tu luyện đến viên mãn, chúng ta còn cần giúp đỡ nhiều người hơn nữa đắc được Pháp này, để có thêm nhiều người được trở về ngôi nhà thực sự của mình. Đó là thiện niệm lớn nhất của chúng ta dành cho con người thế gian, cũng là một sứ mệnh mà chúng ta cần phải hoàn thành.”
“Tôi tin rằng tất cả những điều này đều đã được an bài tốt từ trước, nếu không tôi đã chẳng thể đắc Pháp. Nếu không gặp được Đại Pháp, những nghi hoặc của tôi vẫn sẽ không được giải quyết, và cả cuộc đời này của tôi coi như uổng phí.” Kể từ đó, ông không còn cảm thấy hoang mang về sinh mệnh nữa. Dù là trên biển cả hay trên đường đời, ông đều là một vị thuyền trưởng mãi mãi không lạc hướng.
(Biên soạn và tuyển chọn từ [Minghui.org, ngày 1-2/12/2012] “Vĩnh viễn không còn lạc hướng — Câu chuyện về vị thuyền trưởng (Thượng, Hạ)”)
(Còn tiếp)