Tác giả: Đệ tử Đại Pháp

[ChanhKien.org]

Pháp Luân Đại Pháp, còn gọi là Pháp Luân Công, được người sáng lập là Ngài Lý Hồng Chí truyền ra vào ngày 13 tháng 5 năm 1992. Đây là một môn tu luyện của Phật gia, lấy nguyên lý “Chân – Thiện – Nhẫn” làm chỉ đạo, bao gồm năm bài công pháp nhẹ nhàng thư giãn. Tu luyện Pháp Luân Công không chỉ có hiệu quả kỳ diệu trong việc chữa bệnh khỏe người, mà còn giúp nâng cao đạo đức, khai mở trí huệ, đạt đến cảnh giới tự tại, thấu hiểu những bí ẩn của nhân sinh và vũ trụ.

Từ năm 1992 đến nay, chỉ trong hơn 20 năm, Pháp Luân Đại Pháp đã được truyền rộng ra hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới, với hàng trăm triệu người tu luyện. Môn tu luyện này đã nhận được hơn 3.650 bằng khen, nghị quyết và thư ủng hộ từ các chính phủ và tổ chức quốc tế. Cuốn sách chính của Pháp Luân Công là “Chuyển Pháp Luân” đã được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ, trở thành cuốn sách tiếng Trung được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài nhất cho đến nay.

Trong hàng trăm triệu người tu luyện, có người dân thường, có chuyên gia, học giả, cũng có quan chức, thương nhân giàu có. Họ đến từ nhiều nơi khác nhau như Trung Quốc đại lục, Đài Loan, Âu Mỹ; có người gốc Hoa, cũng có người thuộc các dân tộc phương Tây, thuộc nhiều tầng lớp và hoàn cảnh xã hội khác nhau. Nhờ những cơ duyên khác nhau mà họ biết đến Pháp Luân Công (còn gọi là Pháp Luân Đại Pháp), từ đó bước vào con đường tu luyện. Thông qua việc đọc các sách của Pháp Luân Đại Pháp và tu dưỡng tâm tính theo nguyên lý Chân – Thiện – Nhẫn, kết hợp với việc luyện tập năm bài công pháp của Pháp Luân Đại Pháp, họ đã đạt được sự thăng hoa về đạo đức và sự tịnh hoá thân tâm, xuất hiện nhiều điều kỳ diệu vượt ngoài hiểu biết của người thường. Hầu như mỗi người tu luyện chân chính đều có một câu chuyện kinh điển cảm động lòng người. Ở đây, vì giới hạn độ dài bài viết, tác giả chỉ chọn đăng một phần trong số đó qua loạt bài này.

Những câu chuyện tu luyện của giới tinh anh

1.1. Trải nghiệm trực tiếp của một vị Hồng quân lão thành

Tác giả: Học viên tại Trung Quốc đại lục

Tôi sinh ngày mùng 6 tháng 6 âm lịch năm 1918 trong một gia đình bần nông ở tỉnh Hồ Bắc. Năm 1928, tôi tham gia cách mạng; đến năm 1931 thì gia nhập Hồng quân, làm lính phục vụ trong bệnh viện. Năm 1934, tôi theo đội Hồng quân 25 trong cuộc trường chinh đến Thiểm Bắc; năm 1936 gia nhập Đảng. Tháng 8 năm 1937, Hồng quân được cải tổ thành Bát Lộ Quân và Tân Tứ Quân. Từ đó, tôi lần lượt đảm nhiệm các chức vụ: dược sĩ, trợ lý y khoa, bác sĩ tại Cục Quân y của Lữ đoàn 344 thuộc Bát Lộ Quân, và sau đó là Đội trưởng Đội Y tế của Trung đoàn 23.

Trong thời kỳ chiến tranh Giải phóng, tôi đảm nhiệm chức Viện trưởng Trạm quân y Song Thành thuộc Tổng Cục Quân y của Quân Dân chủ Đông Bắc, sau đó lần lượt giữ chức Trưởng phòng Quân y của sư đoàn và quân đoàn. Sau khi Chiến tranh Kháng Mỹ viện Triều (chiến tranh Triều Tiên) bùng nổ, tôi được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Quản lý Y tế của Phân bộ 1 thuộc Cục Hậu cần Quân chí nguyện, kiêm Phó Cục trưởng Cục Hậu cần và Trưởng phòng Quân y của Quân đoàn 38. Năm 1953, tôi được điều về Học viện Quân y số 1 để học tập và tốt nghiệp năm 1959. Từ đó về sau, tôi lần lượt đảm nhiệm các chức vụ: Chủ nhiệm Khoa Quân y của Học viện Hậu cần, Phó Hiệu trưởng kiêm Chính ủy Trường Đại học Quân y số 4, Hiệu trưởng Trường Đại học Quân y số 2, Chính ủy Tổng cục Quân y Hậu cần và Viện trưởng Viện Tổng y quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Tôi từng lập được công lớn và nhiều lần được khen thưởng. Năm 1984, tôi nghỉ hưu.

Tôi bắt đầu tu luyện Pháp Luân Công từ năm 1993, từng hai lần tham gia các lớp giảng Pháp truyền công do Sư phụ Lý Hồng Chí giảng dạy.

Chính vì vậy, có một số người không hiểu việc tôi tu luyện Pháp Luân Công. Đặc biệt là một số lãnh đạo cũ, đồng đội cũ quen biết tôi, họ không hiểu nổi. Một số người thân, bạn bè cũng vậy. Họ không tài nào hiểu được vì sao một đảng viên cộng sản già, đã có 60-70 năm quân ngũ như tôi, đến tuổi xế chiều lại tin vào Phật? Nhất là một người thuộc tầng lớp trí thức cao, làm công tác y học cả đời như tôi, lại có thể bước vào hàng ngũ “tu luyện”? Họ cảm thấy thật khó tin. Trước sự nghi hoặc đó, tôi xin dùng chính trải nghiệm thực tế của bản thân để giải thích phần nào, mong giúp mọi người hiểu rõ chỗ mê khó giải này.

Trước năm 1993, tôi hoàn toàn không biết gì về Pháp Luân Công, tất nhiên cũng chưa từng luyện công. Nhưng sau khi vợ tôi đắc Pháp, bà ấy từ một người mắc nhiều bệnh nặng đã nhanh chóng trở thành một người khỏe mạnh, sự thay đổi to lớn ấy đã khiến tôi vô cùng ấn tượng và phải suy nghĩ rất sâu sắc. Từ đó, tôi mới bắt đầu coi trọng việc tìm hiểu và học tập Pháp Luân Công. Vợ tôi tham gia cách mạng từ năm 1946. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, trước khi luyện công, bà thường xuyên đau ốm, bệnh tật triền miên: bệnh tim mạch vành, cườm nước (glôcôm), mỡ máu cao, chứng buồn ngủ quá mức, viêm gan v.v… năm này qua năm khác phải dùng thuốc, chẳng khác nào một “túi thuốc di động”. Vì sống gần Viện Tổng Y, việc khám chữa bệnh, lấy thuốc rất thuận tiện, nhưng bệnh vẫn không khỏi. Không những thế, tình trạng sức khỏe của bà ngày càng tồi tệ hơn. Khi làm điện tâm đồ, bác sĩ phát hiện sóng T ở thành trước, thành bên và thành sau tim của bà đều bị đảo ngược (biểu hiện tình trạng thiếu máu cơ tim nghiêm trọng, bị bệnh tim nặng). Sắc mặt thì xanh xao vàng vọt, môi tím đen, sự sống chỉ còn có thể duy trì nhờ thuốc và thở oxy. Lúc đó, trong nhà tôi có hai bình oxy — một ở tầng trên, một ở tầng dưới — để bảo đảm vợ tôi có thể thở oxy bất cứ lúc nào. Khi ấy, bà chỉ cần đi lên tầng hai của nhà thôi cũng thở không ra hơi, giữa chừng phải dừng lại nghỉ; đôi khi còn không thể tự chăm sóc bản thân. Sau khi học Pháp, những căn bệnh của bà ấy dần dần khỏi hẳn mà không cần điều trị. Tháng 4 năm 1993, bà nghe con dâu nói rằng Pháp Luân Công có thể chữa bệnh khỏe thân, cảm thấy rất hay, lại nghe nói thầy đang mở lớp, nên ngày 29 tháng đó bà đã bước vào cửa Pháp Luân Đại Pháp. Còn tôi thì không tin. Tôi nghĩ: “Bao nhiêu năm nay, với điều kiện y tế tốt nhất ở Viện Tổng Y mà còn không chữa khỏi bệnh cho bà, thì sao chỉ tham gia một lớp khí công lại khỏi được chứ?” — hoàn toàn không tin chút nào. Nhưng sau khi học Pháp và luyện công không lâu, cả thể chất lẫn tinh thần của bà ấy đều thay đổi căn bản: khuôn mặt xanh xao vàng vọt dần trở nên hồng hào, đôi môi tím đen biến thành hồng nhạt, tinh thần phấn chấn hẳn lên. Sau đó, bà lại tiếp tục tham dự hai lớp giảng Pháp nữa của Sư phụ Lý. Cùng với việc ngày càng đi sâu vào học Pháp luyện công, chẳng bao lâu toàn bộ bệnh tật của bà ấy đều khỏi hẳn. Đến nay đã hơn 5 năm rồi bà ấy không phải dùng thuốc, cũng không dính dáng gì đến bệnh viện nữa.

Sự thay đổi của vợ đã gây chấn động rất lớn trong tâm tôi. Tôi buộc phải suy nghĩ: Viện Tổng Y Quân Giải phóng nơi tôi công tác, tuy kỹ thuật và thiết bị có lẽ chưa thể nói là tiên tiến nhất thế giới, nhưng cũng thuộc hàng đầu trong và ngoài nước. Thế mà vẫn không chữa khỏi được bệnh cho vợ tôi. Vậy mà bà ấy chỉ học Pháp Luân Công trong một thời gian ngắn, không cần tiêm, không cần uống thuốc mà lại hoàn toàn khỏi hẳn là vì sao? Những dấu hỏi ấy cứ không ngừng xoay vần trong đầu tôi. Thực tế đã chứng minh hùng hồn hơn mọi lời nói! Từ nghi ngờ, quan sát, rồi quan tâm, cuối cùng tôi muốn tự mình thử xem sao, cứ thế tôi cũng bước vào con đường tu luyện Pháp Luân Công.

Nói về tôi, một mặt vẫn phải bắt đầu từ phương diện bác sĩ và y tế. Do nhu cầu công việc, mấy chục năm tham gia cách mạng tôi hầu như đều làm công tác cứu thương. Vì vậy, sau giải phóng, tổ chức còn đặc biệt quan tâm cử tôi đi học chuyên ngành y tại Đại học Y trong 6 năm; tôi cũng từng đến Nhật Bản, Tây Đức để tham quan, khảo sát, và cũng đã từng chữa trị, cứu sống hàng nghìn hàng vạn người. Mặt khác, tôi cũng giống như tất cả những người làm công tác Đông y và Tây y từ xưa đến nay, trong và ngoài nước, đều không thể đảm bảo rằng bản thân mình không mắc bệnh. Trong những năm chiến tranh, đặc biệt là trên đường trường chinh, tôi bị viêm dạ dày, ruột và tiêu chảy, thường xuyên tái phát; còn mắc bệnh sốt rét, ngày nào cũng lên cơn. Khi đó, Hồng quân không có thuốc trị sốt rét. Trong trận chiến Lão Sơn ở Thiểm Bắc, trong số thuốc men thu được có axit asen, Viện trưởng Tiền Tín Trung đã bảo tôi đào cam thảo nấu thành cao rồi bào chế thành viên Á Nhĩ Toan (liều lượng rất nhỏ), sau khi uống thì bệnh không còn tái phát nữa. Năm 1994, khi tôi chụp kiểm tra bằng cộng hưởng từ (MRI), phát hiện trong xương sống thắt lưng có vật gì đó bất thường. Gia đình và các con tôi đều vô cùng lo lắng, nên đã mời nhiều bác sĩ hội chẩn, kiểm tra nhiều lần, lúc thì khẳng định có vấn đề, lúc lại nói không phải. Nhưng tôi không để tâm, vẫn tiếp tục tu luyện và luyện công như thường, suốt mấy năm sau đó cũng không có vấn đề gì. Đến ngày 4 tháng 11 năm 1995, đột nhiên tay phải tôi không thể cầm bút được nữa. Sau khi chụp CT, phát hiện tôi bị xuất huyết dưới màng não cứng bên trái, có máu tụ. Vì thế, bác sĩ cho tôi nhập viện cấp cứu, hội chẩn xong thì đề nghị mổ mở hộp sọ. Tôi nói hãy quan sát thêm, nếu triệu chứng nặng thêm thì mổ cũng chưa muộn. Quả nhiên, sau đó bệnh không tiến triển nữa, cũng không phải phẫu thuật.

Sau một thời gian điều trị bảo tồn, tôi bị sốt nhẹ kéo dài không dứt; đủ loại kiểm tra và thuốc men đều đã thử mà không có hiệu quả. Sau đó, vợ tôi ngộ ra rằng, chúng tôi là người tu luyện, không có bệnh, thôi mình xuất viện về nhà. Vì vậy, vợ tôi liền trực tiếp đến gặp lãnh đạo bệnh viện phụ trách điều trị và nói tôi sốt nhẹ, uống thuốc không hạ, nhưng cũng không tăng, đã làm đủ các loại xét nghiệm mà vẫn không tìm ra nguyên nhân. Chi bằng thay đổi môi trường, về nhà theo dõi vài ngày, nếu không khỏi thì sẽ quay lại. Nghe vậy, lãnh đạo bệnh viện gật đầu đồng ý, thế là chúng tôi được xuất viện về nhà. Kết quả về nhà tới ngày hôm sau là cơn sốt liền dứt hẳn, từ đó không bao giờ tái phát nữa.

Điều này khiến một người đã hành nghề y mấy chục năm như tôi cũng từng cảm thấy bối rối, bởi vì những tình huống này dùng lý luận y học hiện đại, kỹ thuật y học hiện đại hoàn toàn không thể giải thích nổi. Sau này, tôi học bài “Nghiệp bệnh” trong “Tinh Tấn Yếu Chỉ” và bài giảng thứ bảy của “Chuyển Pháp Luân”, cùng các Pháp lý trong bài giảng Pháp của Sư phụ ở Mỹ và Sydney. Sư phụ đã giảng vô cùng rõ ràng về nguồn gốc của bệnh, biểu hiện và sự phát triển của nó, việc Pháp Luân Công thanh lý cơ thể v.v…Tại đây, tôi muốn nói với mọi người từ trải nghiệm của bản thân mình, nhất định không được dùng nhận thức của người thường để áp đặt lên khí công, phải thay đổi quan niệm, bởi vì khí công không phải là lý luận của người thường, Pháp Luân Công lại càng “siêu thường”, cho nên phải dùng lý siêu thường để đối đãi.

Do đó, chỉ khi thực sự coi mình là người tu luyện, thực sự làm theo tiêu chuẩn của người luyện công, thì hầu hết bạn sẽ gặp được kỳ tích. Bất kể bạn mắc bệnh thông thường, bệnh thường gặp, hay là bệnh mãn tính khó chữa, bệnh nan y, bệnh phức tạp, chỉ cần thực sự buông bỏ tâm xuống mà đọc sách, thì nói chung đều có thể đạt được hiệu quả chữa bệnh khỏe thân. Những ví dụ như vậy nhiều không kể xiết. Tôi, với tư cách là một đảng viên lão thành, một lão Hồng quân, một người làm công tác y tế đã hơn 60 năm, xin trân trọng gửi một lời khuyên chân thành đến tất cả các bệnh nhân: Hãy buông bỏ nỗi lòng, thành tâm đọc cuốn “Chuyển Pháp Luân”, luyện tập 5 bài công pháp, bất kể bạn có bệnh tật gì không thể chữa trị được, đều có thể thấy được hiệu quả ở các mức độ khác nhau, thậm chí là hiệu quả không ngờ tới, bởi vì điều này đã được chứng thực trên hàng nghìn hàng vạn người luyện công. Điều đã được thực tiễn chứng thực thì chẳng phải chính là khoa học sao? Cái gọi là lý luận chẳng phải cũng là để nhận thức sự vật và giải quyết vấn đề hay sao? Giống như Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Nhà nước Ngũ Thiệu Tổ, trong hội nghị công tác khoa học nhân thể ngày 20/1/1996 đã chỉ ra: “Nguyên tắc không phải là điểm xuất phát của nghiên cứu khoa học, sự thật mới là điểm xuất phát”. “Khoa học không chỉ cần giải thích những gì đã biết, mà càng phải khám phá những gì chưa biết”, trên đây chính là điểm khởi đầu cho sự chuyển biến của tôi.

Tôi còn muốn nói với mọi người về vấn đề luyện Pháp Luân Công có uống thuốc hay không. Theo như tôi được biết, Sư phụ Lý Hồng Chí và tất cả các bài giảng của Ngài đều không có nói không cho người ta uống thuốc. Ngài chỉ nói rằng, khi bạn luyện đến một mức độ nhất định, tâm tính và tố chất thân thể đạt đến một tiêu chuẩn nhất định, bản thân bạn cảm thấy có thể không cần dùng thuốc nữa, thì bạn không cần uống thuốc nữa. Điều này xét từ góc độ y học cũng hoàn toàn hợp lý: Tôi là thầy thuốc, xuất thân là người phụ trách về thuốc. Thuốc là để chữa bệnh, thông qua luyện công, bản thân bạn cảm thấy không còn bệnh nữa, hoặc tuy có một số triệu chứng nhưng cố gắng một chút cũng có thể vượt qua được, khi đó không dùng thuốc là tốt nhất. Bởi vì “đã là thuốc thì có ba phần độc”, nó có thể chữa bệnh nhưng cũng có thể gây tổn hại cho cơ thể, liều lượng thuốc lớn, nhiều, cơ thể cũng sẽ bị ngộ độc. Cho nên thuốc men, cho dù là thuốc bổ, dược thiện (món ăn là bài thuốc), khi có thể không dùng thì tốt nhất không dùng, bởi vì nó rốt cuộc không phải là lương thực, càng không phải là cao lương mỹ vị, cái hiểu lầm này nhất định phải được loại bỏ. Đồng thời, đối với tin đồn thất thiệt rằng tu luyện Pháp Luân Công “không cho uống thuốc”, nhất định phải hiểu rõ.

Qua 70 năm cuộc đời quân ngũ, tôi đã thấu hiểu sâu sắc rằng: được lòng dân thì được thiên hạ; ngược lại, mất lòng dân thì mất thiên hạ. Ngày nay, trên mảnh đất Trung Quốc sau 20 năm cải cách mở cửa, hầu như ai cũng nhận được điều tốt, là người thụ hưởng lợi ích vật chất, thế nhưng trong tình hình tốt đẹp như vậy, đạo đức của một số người ngược lại còn không bằng thời kỳ gian khổ trong những năm chiến tranh. Tại sao vậy? Cũng là do lòng người không còn tốt nữa. Đặc biệt là dưới ảnh hưởng của tư tưởng cực tả trong Cách mạng Văn hóa, những vết thương mà nó mang lại cho tâm hồn con người là vô cùng to lớn. Ngày nay, dưới tác động tiêu cực của làn sóng kinh tế thị trường, có người chỉ nghĩ đến tiền, nghĩ cách kiếm tiền bằng mọi giá, chứ không nghĩ đến việc làm tốt công việc, vì dân vì nước mà cống hiến. Họ chỉ toàn nghĩ ra những mánh khóe, thủ đoạn, vì tiền mà chuyện xấu gì cũng dám làm. Nào là đảng tính, nguyên tắc, nào là quốc cách, nhân cách, nào là đạo đức, lương tâm, những thứ đó đáng giá bao nhiêu tiền một cân? Hầu như tất cả mọi thứ đều vương mùi tiền. Tuy nhiên, cũng chính trong hoàn cảnh như vậy, Sư phụ Lý Hồng Chí đã truyền xuất ra Đại Pháp cao đức “Chuyển Pháp Luân”. Vợ tôi và tôi, tại lớp học thứ 10 ở Bắc Kinh năm 1993, sau khi lần đầu tiên nghe được Đại Pháp cao siêu như vậy, liền bị Pháp lý của Sư phụ Lý “đưa con người lên tầng cao, chân chính đưa con người lên tầng cao” thu hút, bị Pháp lý vũ trụ sâu sắc, khoa học của Sư phụ làm cho chấn động. Pháp Luân Đại Pháp “trực chỉ nhân tâm”, nói rõ rằng “tu luyện tâm tính là mấu chốt để tăng công”, yêu cầu người luyện công phải xem nhẹ danh lợi, “làm việc gì cũng phải nghĩ đến người khác trước, tu thành bậc Chính Giác vô tư vô ngã, tiên tha hậu ngã”. Những Pháp lý này vô cùng có ích cho sự hồi thăng đạo đức của nhân loại, tôi đã phấn chấn bởi Pháp trị tận gốc, Pháp trị tâm này. Đây là uy đức của Sư phụ, là uy lực của Đại Pháp, là duyên phận của chúng tôi. Rất nhiều vấn đề trọng đại trong cuộc đời mà tôi đã khổ công theo đuổi, tìm tòi, suy ngẫm – các vấn đề về nhân sinh quan, thế giới quan, các vấn đề về khoa học sự sống trong y học, các vấn đề về khoa học xã hội – tất cả đều được giải thích thông suốt trong cuốn sách “Chuyển Pháp Luân”. Hơn nữa, kể từ sau khi tôi đắc Pháp, tôi chưa bao giờ dao động. Bởi vì cảnh giới tư tưởng của tôi có thể nói là đã được thăng hoa và đề cao. Thực ra không chỉ có mình tôi như vậy, theo như tôi biết, tại nhóm học Pháp người cao tuổi ở Bắc Kinh nơi tôi tham gia, tuổi bình quân là hơn 70 tuổi, trong đó có mấy vị đã ngoài 80. Tuổi Đảng của họ đều đã mấy chục năm, nhiều người là tầng lớp lãnh đạo cấp cao và trí thức cao, được gọi là “lão thành cách mạng”, “cán bộ lão thành”, “khoa học gia lão thành”, “giáo sư lão thành”. Những người này cũng không phải là mù quáng, không phải là đầu óc đơn giản, mà là sau khi đã suy nghĩ nghiêm túc mới bước vào hàng ngũ tu luyện Pháp Luân Công.

Họ cũng giống như tôi, ở tuổi thất thập cổ lai hy mới đắc được Đại Pháp của Sư phụ Lý Hồng Chí, đều cảm thấy quá may mắn, quá có duyên, quá trân quý. Đồng thời mọi người cũng đều có một tâm nguyện, mong rằng những người bạn chiến đấu cũ, đồng nghiệp cũ, lãnh đạo cũ của chúng ta; mong rằng thế hệ trung niên, thế hệ thanh niên, thế hệ thiếu niên của chúng ta, cũng đều có thể buông bỏ “quan niệm đã bị xơ cứng”, “quan niệm cố hữu” trong người thường, bài trừ các loại chướng ngại, tĩnh tâm kiên nhẫn đọc một lượt cuốn “Chuyển Pháp Luân”, luyện tập Pháp Luân Công, sau đó tự mình suy nghĩ một chút, xem những lời mà mấy ông bà già chúng tôi nói có chút đạo lý nào không; suy nghĩ một chút, xem Đại Pháp đối với việc xây dựng văn minh tinh thần của chúng ta rốt cuộc là có lợi hay có hại.

Cuối cùng, tôi muốn trích dẫn vài câu nói của nhà văn nổi tiếng Tưởng Tử Long trong bài viết “Ngọc Duyên”: “Sự thần bí là một loại hiện tượng không thể giải thích được. Hiện tượng không thể giải thích được không đồng nghĩa là không tồn tại. Hiện tại không thể giải thích, không đồng nghĩa là tương lai cũng không thể giải thích được. Những điều khoa học không giải thích nổi, cũng không đồng nghĩa là mê tín. Khoa học mới có bao nhiêu năm chứ, Phật là một loại hiện tượng văn hóa uyên bác sâu xa, xuất hiện bất cứ hiện tượng thần kỳ nào cũng không có gì là lạ cả”. Những lời này của ông Tưởng Tử Long cũng chính là những lời tôi muốn nói.

Tôi chân thành cầu chúc cho những người hữu duyên đều có thể tu luyện Pháp Luân Công càng sớm càng tốt!

(Đăng lần đầu trên Minh Huệ Net ngày 9/12/1999)

(Còn tiếp)

Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/250572