[ChanhKien.org]
Phần IV-2: Trận đại hồng thủy, con thuyền Noah và sự tích tạo ra con người thời tiền sử
Truyền thuyết về trận đại hồng thủy của người Sumer
Người Sumer là một dân tộc cổ xưa sống tại khu vực Trung Đông vào khoảng năm 3000 trước Công Nguyên, trên các sa mạc thuộc vùng Iraq hiện nay, người ta đã khai quật được rất nhiều tấm bảng đất sét khắc chữ hình nêm của người Sumer, ghi chép về các thần thoại và truyền thuyết của vùng Lưỡng Hà; vào thời viễn cổ, trên địa cầu đã từng xảy ra một trận đại hồng thủy kinh thiên động địa. Tấm bảng đất sét ấy đã ghi chép những điều thần kỳ như sau: Vào niên đại cực kỳ xa xưa, có bốn vị Thần cùng nhau thống trị địa cầu: Thần Thương Thiên, Đại Thần hộ Pháp, Nữ Thần Chiến tranh và Tình yêu, Thủy Thần. Trong đó, Thủy Thần là quan tâm con người nhất, là Thần bảo hộ của loài người. Vào thời ấy, cư dân trên địa cầu rất đông đúc, nhân loại không ngừng sinh sôi nảy nở, cả thế giới ngập tràn trong những thanh âm hỗn độn, giống như tiếng bò rừng gầm rú, ồn ào đến mức các vị Thần không sao ngủ được. Đại Thần hộ Pháp nghe thấy tiếng ồn ào nơi nhân gian, bèn nói với các vị Thần đang ngồi trên đó rằng: “Tiếng huyên náo của con người quả thực chói tai, ồn đến nỗi khiến chúng ta không được yên tĩnh.” Thế là chúng Thần quyết định tiêu diệt nhân loại.
Thủy Thần thương xót con người, Ngài đến vương cung, đứng ngoài bức tường lau sậy, nói với nhà Vua đang ở trong điện rằng: Nhân gian sắp trải qua một nạn lớn, ông hãy mau chóng đóng một con thuyền để đảm bảo tính mạng cho cả nhà. Ngài nói: “Hãy tháo dỡ ngôi nhà của ngươi, đóng thành một chiếc thuyền, vứt bỏ mọi của cải, mau mau chạy trốn! Đừng luyến tiếc những vật chất trần thế, cứu rỗi linh hồn mới là quan trọng nhất… Hãy nghe đây, nhanh chóng phá dỡ ngôi nhà, chiểu theo kích thước cố định, đóng thành một con thuyền có tỷ lệ chiều dài và chiều rộng cân đối. Hãy đem tất cả hạt giống của mọi sinh vật trên thế giới cất giữ trên con thuyền ấy.”
Quốc vương không dám chậm trễ, lập tức bắt tay vào xây dựng chiếc thuyền lớn, hơn nữa còn đưa toàn bộ vật phẩm lên thuyền, đem tất cả hạt giống của mọi sinh vật trên thế giới cất giữ trên con thuyền ấy. Sau khi tất cả người nhà lên thuyền, ông đưa trâu bò, gia súc cùng những thợ thủ công thuộc mọi ngành nghề lên thuyền… Ngày ấy cuối cùng cũng đến. Mới tờ mờ sáng, từ chân trời mây đen ùn ùn kéo đến; Thần bão cưỡi ngựa phi nước đại, từng trận sấm rền vang dội khiến ban ngày trở thành đêm đen. Liên tục sáu ngày sáu đêm, gió lớn và nước lũ đồng thời ra oai gầm thét, sóng nước cuộn trào, nhấn chìm cả thế gian. Đến rạng sáng ngày thứ bảy, giông bão cuối cùng cũng lắng xuống, mặt biển dần trở lại yên bình, nước lũ bắt đầu rút. Phóng tầm mắt nhìn ra chỉ thấy một cảnh tĩnh lặng đầy chết chóc, biển cả mênh mông vô tận, phẳng lặng như mặt nền tầng thượng. Toàn bộ sinh linh trên địa cầu đều vùi thân trong biển nước… Nhìn quanh bốn phía, đâu đâu cũng là biển nước mênh mông trắng xóa… Cách chừng hơn bốn mươi dặm, có một ngọn núi cao đứng sừng sững giữa biển nước. Con thuyền trôi dạt đến đó và mắc cạn giữa lưng chừng núi. Nhà Vua buộc chặt con thuyền trên núi Nisir… Sáng sớm ngày thứ bảy, nhà Vua mở lồng thả ra một chú chim bồ câu, nó lượn vòng một lúc trên mặt nước, nhưng không tìm được cái cây nào có thể đậu nghỉ chân, liền bay về thuyền. Vua lại thả ra một con chim én, nó cũng không tìm được chỗ đậu, phải bay về. Vua thả tiếp một con quạ, quạ thấy nước lũ đã rút liền vui mừng kêu lên, bay khắp nơi tìm thức ăn, rồi thoáng chốc biến mất tăm.
Điều khiến người ta kinh ngạc là, những ghi chép này không phải ghi chép văn tự duy nhất được người Sumer cổ lưu truyền; trong các tấm đất sét khác được khai quật ở Iraq đều có những ghi chép tương tự, hơn nữa trong đó có những tấm đất sét có niên đại gần 5000 năm lịch sử.
Năm 1922, nhà khảo cổ học người Anh Leonard Woolley, bắt đầu tiến hành khảo sát và khai quật vùng sa mạc Lưỡng Hà nằm giữa Baghdad và vịnh Ba Tư. Kết quả, ông đã phát hiện ra di tích thành Ur của Vương quốc Sumer cổ, cùng lăng mộ hoàng tộc trong tòa thành. Bên dưới ngôi mộ này, Woolley và các trợ lý đã phát hiện một lớp trầm tích đất sét sạch dày hơn hai mét. Lớp đất sét sạch dày tới hai mét này từ đâu mà có? Sau khi nghiên cứu phân tích lớp đất sét này, người ta phát hiện nó chính là lớp bùn được lắng đọng sau trận đại hồng thủy. Từ đó có thể kết luận rằng: trước khi con người biết dùng đất sét ghi chép lịch sử, nơi này từng xảy ra một trận lũ lụt vô cùng lớn, lớn tới mức có thể hủy diệt nền văn minh Sumer, thậm chí là cả nền văn minh nhân loại.
Trận đại hồng thủy trong Kinh Thánh
Có một đoạn thần thoại được ghi chép vô cùng rõ ràng trong Kinh Thánh như sau: Đức Chúa Trời Giê-hô-va nhìn thấy tội ác của con người ngày càng lớn, mãi nghĩ đến những chuyện xấu, nên rất hối hận vì đã tạo ra con người, Ngài phán rằng: Ta sẽ khiến cho con người và thú vật, côn trùng, cho đến cả những loại bay trên trời đều phải hủy diệt khỏi mặt đất; vì ta đã hối hận khi tạo nên chúng.” Nhưng khi ấy có một người tài đức vẹn toàn tên Noah, ông có ba người con trai. Đức Chúa Trời Giê-hô-va nói với ông rằng: “Ngươi hãy dùng gỗ Gopher đóng một chiếc thuyền lớn, đóng thành từng khoang, bên ngoài bôi nhựa thông.” Chúa còn hướng dẫn ông cách đóng thuyền, rồi nói: “Ta sẽ dẫn nước lũ làm ngập khắp mặt đất, hủy diệt tất cả, chỉ cần là những sinh vật sống trên mặt đất có máu thịt, có hơi thở, thì không con nào sống sót. Nhưng ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, ngươi cùng vợ ngươi, các con và con dâu của ngươi, đều hãy vào tàu. Về các loài sinh vật, mỗi loài một cặp, có đực có cái, có trống có mái, người hãy đưa chúng lên thuyền, để chúng được sống sót ở chỗ ngươi.” Noah liền làm theo lời chỉ bảo của Chúa, bảy ngày sau, nước lũ bắt đầu dâng lên, “Những mạch nước dưới các vực sâu phun trào, các cửa sổ trên trời mở toang.” Trời mưa liên tục suốt 40 ngày đêm, mặt nước ngày càng dâng cao, những ngọn núi cao trên thế giới đều bị nhấn chìm, hết thảy sinh mệnh đều bị tiêu diệt khỏi mặt đất. Thế nước cuồn cuộn kéo dài suốt 150 ngày rồi mới bắt đầu rút, con thuyền Noah dừng lại trên núi A-ra-rát. Sau đó các đỉnh núi cũng dần hiện ra, mấy tháng sau, mặt đất đều đã khô ráo. Chúa gọi Noah cùng người nhà dẫn theo từng cặp các loài sinh vật ra khỏi thuyền, bắt đầu một cuộc sống mới, sinh sôi nảy nở trên mặt đất sau đại nạn.
Đại hồng thủy trong thần thoại Hy Lạp
Trong thần thoại Hy Lạp cũng có một đoạn truyền thuyết tương tự: Thần Zeus, Chúa tể bầu trời, cai quản mặt đất, ông thấy con người ngày càng tàn nhẫn vô đạo, tâm địa hiểm ác, ỷ mạnh hiếp yếu, dần quên đi chính nghĩa và lễ tiết, ông liền nói: “Con người là nguồn gốc tai họa trên thế gian; nếu thương xót họ mà để họ hưởng thụ, họ sẽ sinh sôi nhanh chóng, trở nên kiêu căng, ngạo mạn; nếu trừng phạt để họ nếm trải chút khổ nạn, tất nhiên họ sẽ kiềm chế, nhưng trong chốc lát sẽ lại sa ngã, làm hết mọi việc ác; thế nên thà rằng diệt sạch một lần cho xong.” Sau đó, Thần Zeus cho triệu tập các chư Thần họp bàn, cuối cùng quyết định sẽ cho mưa lớn tạo nên đại hồng thủy nhấn chìm loài người. Vị Thần Prometheus từng bị trừng phạt vì đánh cắp lửa cho loài người, ông có một người con trai tên là Deucalion đang chung sống cùng con người tại nhân gian. Deucalion luôn khuyên con người hướng thiện để tránh bị Thần trừng phạt. Một ngày nọ, Deucalion đến đỉnh Olympus thăm cha, Prometheus đã khuyên ông rằng: “Thần Zeus sắp dùng một trận đại hồng thủy để hủy diệt loài người, con mau tìm cách trốn đi.” Deucalion sau khi xuống núi đã lập tức đóng một con thuyền kiên cố, rồi chất những nhu yếu phẩm lên thuyền để lánh nạn. Quả nhiên mấy ngày sau, từ trên trời giáng xuống một cơn mưa lớn như trút nước suốt mấy tháng liền, nước lũ nhấn chìm một vùng rộng lớn, đến cả những ngọn núi cao cũng bị ngập trong nước. Mấy tháng sau, trời ngừng mưa, thuyền của Deucalion trôi đến đỉnh núi Parnassus. Không lâu sau nước lũ dần rút đi, mặt đất lại hiện ra, nhưng chỉ còn là một vùng trống rỗng xa xăm mù mịt, con người chỉ còn biết cầu xin Thần chỉ bảo, Thần nói: “Che kín đầu các ngươi, đi lên sườn đồi, vừa nhặt xương của mẹ các ngươi vừa quăng về phía sau.” Họ đoán rằng, mẹ là mặt đất, xương của mẹ chính là đá, liền nhặt đá ném ra đằng sau. Quả nhiên kỳ tích xuất hiện, vật được Deucalion ném biến thành đàn ông, vật do vợ Deucalion ném biến thành đàn bà, nhân loại lại lần nữa xuất hiện trên mặt đất.
Đại hồng thủy trong truyền thuyết Trung Quốc
Trước khi nói về đại hồng thủy tại Trung Quốc, chúng ta phải kể đến Nữ Oa. Truyền thuyết kể rằng vào thuở khai thiên lập địa, khi ấy vẫn chưa có con người, vào ngày mùng một tháng Giêng, Nữ Oa tạo ra gà, mùng hai tạo ra chó, mùng ba tạo ra dê, mùng bốn tạo ra heo, mùng sáu tạo ra ngựa, vào ngày mùng bảy, Nữ Oa đã dùng đất vàng và nước, chiểu theo hình dáng của bản thân mà nặn ra những người đất sét tí hon, bà nặn hết tốp này đến tốp khác, cảm thấy quá chậm, nên bà đã dùng một chiếc dây leo nhúng đầy bùn, rồi vung dây lên, từng giọt từng giọt bùn rơi xuống đất đều lần lượt biến thành người. Những người được nặn bằng đất vàng là những người cao quý, những người được biến thành từ bùn bị văng ra từ dây leo có địa vị thấp kém, khốn khó. Vì để nhân loại có thể lưu lại về sau, bà đã chế định ra lễ tiết về cưới hỏi, giúp con người có thể tự dựa vào bản thân mà nối dõi tông đường. (“Thái Bình ngự lãm”)
Trong thần thoại Trung Quốc, sau khi Cộng Công húc đổ núi Bất Chu chống Trời, từng đợt sóng nước cuồn cuộn tràn ngập mặt đất, Nữ Oa luyện đá Ngũ sắc vá Trời. Trời xanh được vá xong, bốn phương được chính, con người mới có cuộc sống yên ổn.
Trận đại hồng thủy đầu tiên được nhắc đến trong thần thoại Trung Quốc là kể về trận đại chiến giữa Cộng Công và Chúc Dung. Cộng Công thua trận, đâm đầu vào núi Bất Chu, nào ngờ ngọn núi này là trụ chống Trời, bị Cộng Công húc gãy, thế là nửa bầu trời liền sập xuống, trên trời xuất hiện một lỗ hổng lớn, mặt đất cũng nứt thành những rãnh sâu, nước lũ từ dưới lòng đất phun trào, từng đợt sóng dâng trào phủ kín mặt đất khiến nơi đây trở thành một biển nước mênh mông, con người không thể sinh tồn trong tình cảnh này. Nữ Oa – vị Thần tạo ra nhân loại, sau khi nhìn thấy thảm họa tàn khốc này, đã luyện đá Ngũ sắc để vá trời, chặt tứ chi của rùa Thần làm trụ chống bốn phương trời, giết hắc long cứu Ký Châu, chất đống tro rơm để ngăn nước lũ. Trời xanh vá xong, bốn phương thái bình, nước lũ rút cạn, trời đất mới lại được ổn định, những người thiện lương cẩn trọng mới được sống sót.
Mặc dù trong câu chuyện thần thoại này không hề nói rõ việc con người thời ấy đang bại hoại như những câu chuyện khác, nhưng tất cả chúng đã cùng nói với con người rằng, chỉ có người lương thiện mới có thể bước tiếp vào trang sử mới.
Một câu chuyện thần thoại khác về đại hồng thủy xảy ra vào thời Đế Nghiêu, trong “Kinh thư – Nghiêu Điển” kể rằng Cổn trị thủy mất chín năm. Trong “Sử ký – Hạ bản kỷ” ghi chép rằng Vũ trị thủy hơn 13 năm, lần đại hồng thủy này kéo dài hơn 22 năm. Khi ấy, mặt đất trở thành biển nước mênh mông, con người không có nơi để ở, trong sách “Mạnh Tử – Đằng Văn Công (quyển hạ)” có chép: “Vào thời vua Nghiêu trị vì, nước chảy ngược dòng, tràn ngập khắp Trung Quốc, rồng rắn khắp nơi, dân chúng không có nơi an định.” Trong “Kinh thư – Nghiêu Điển” cũng có ghi chép: “Nước lũ cuồn cuộn chắn ngang; dòng nước ầm ầm vây quanh ngập tràn các ngọn núi; khí thế ngút trời.” Có thể thấy rằng trận đại hồng thủy này hoành hành khắp nơi, khiến con người không thể sống yên ổn. Ban đầu, Cổn được phái đi trị thủy, ông dùng phương pháp đắp đê chặn dòng khiến nước lũ ngày càng dâng cao, hơn chín năm trị thủy không thành (“Chín năm, việc chẳng thành” – trích Kinh thư – Nghiêu Điển). Sau này, con của Cổn là Vũ được phái đi trị thủy, khi ấy là thời của Thiên đế là Ngu Thuấn. Trước khi trị thủy từng được Thần sông giúp đỡ, Thần trao cho Vũ một tấm bản đồ trị thủy (theo “Thi Tử” bản sưu tầm của Tôn Tinh Diễn, quyển hạ). Ông đổi phương pháp từ chặn đứng thành khơi thông, kết quả ông đã thành công, nước lũ hạ xuống, cứu hàng vạn người thoát khỏi cảnh lầm than, được người dân yêu mến. Trong các triều đại Trung Quốc, Quân Vương luôn được coi là hình mẫu tiêu biểu cho cả triều đại ấy, từng lời nói và hành động của bậc Quân Vương đều có ảnh hưởng sâu sắc đến đạo đức, ngôn hành của thần dân. Mà Đại Vũ là vị Vua có đức hạnh vô cùng cao thượng trong lịch sử Trung Hoa, vì vậy bách tính Trung Hoa vào thời đó mới có thể được cứu khỏi nạn đại hồng thủy, quả thực không thể không có liên quan tới việc Đại Vũ đã khiến cho phong thái của người dân cả trong xã hội, đất nước chuyển biến thành chất phác, cao thượng.
Truyền thuyết về đại hồng thủy của các dân tộc khác
Ấn Độ có một truyền thuyết kể rằng: Có một vị tăng khổ hạnh tên là Manu, khi ông đang tắm ở sông Hằng, thì vô tình cứu được một con cá nhỏ. Cá nói với ông rằng, mùa hè này nước lũ sẽ dâng cao làm khắp nơi ngập lụt, hủy diệt tất cả sinh vật, bảo Manu hãy chuẩn bị trước. Khi nước lũ kéo đến, chú cá nhỏ lại kéo thuyền của Manu đến nơi an toàn. Sau này, con cháu của Manu sinh sôi và trở thành tổ tiên của người Ấn Độ, ông cũng lưu truyền lại câu chuyện này trong cuốn “Pháp điển Manu”.
Trong thần thoại của người Babylon, Thần Bel tức giận con người, nên quyết định giáng lũ hủy diệt nhân loại. Trước khi cơn lũ ập đến, Thần Ea đã dặn dò một ông lão sống ở cửa sông chuẩn bị sẵn một con thuyền, chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng,… Trời mưa bảy ngày, chỉ có đỉnh núi là còn nhô ra khỏi mặt nước. Trong hơn 130 dân tộc bản địa ở toàn bộ châu Mỹ, hầu như không có dân tộc nào mà không có truyền thuyết về đại hồng thủy. Trong tài liệu cổ Mexico “Sách chữ vẽ Chimalpopoca” có ghi chép rằng: “Trời gần như chạm đất, trong vòng một ngày, toàn bộ nhân loại đều bị tuyệt diệt, núi cũng bị ngập trong dòng nước,…” Trong cuốn sách Thánh của người Maya có đề cập đến: “Đây là tai họa có tính hủy diệt … một trận đại hồng thủy … Con người đều chết chìm trong trận mưa lớn như trút nước từ trên trời xuống.” Hay như trong các tộc người bản địa tại quần đảo Polynesia thuộc châu Đại Dương, từng lưu truyền một truyền thuyết về đại hồng thủy, thậm chí còn lẫn cả những ký ức về chuyện nước biển đột ngột dâng cao.
Nhà dân tộc học người Anh, Frazer từng chỉ ra rằng: Trong hơn 130 tộc người da đỏ ở Bắc Mỹ, Trung Mỹ và Nam Mỹ, không tộc người nào không có thần thoại về đại hồng thủy.
Từ những ghi chép xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới, chúng ta có thể khẳng định rằng: “Con người thời thượng cổ thực sự đã trải qua nạn hồng thủy mang tính hủy diệt. Những hồi ức rõ ràng chính xác lại trùng khớp với nhau như thế không thể nào chỉ là những chuyện thần thoại được sáng tác một cách ngẫu hứng được, cho nên những thần thoại về trận đại hồng thủy thật ra đều đang biểu đạt một hiện thực lịch sử tương đồng. Vậy ngoài những điều ấy ra, thì những câu chuyện được coi là thần thoại này rốt cuộc còn ẩn chứa sự thật nào?
Con người hiện nay cứ hễ nghe thấy “thần thoại” và “truyền thuyết” thì đều liên tưởng tới hai chữ “mê tín”. Tuy nhiên, nếu mọi người chịu thay đổi góc độ nhìn nhận vấn đề, có lẽ sẽ có được cách lý giải sâu sắc hơn. Thử nghĩ xem, tại sao con người thời cổ đại có thể kể được những câu chuyện thần thoại tuyệt diệu đến vậy? Tại sao trên toàn thế giới đều có những ghi chép tương tự? Vào thời kỳ nguyên thủy của văn minh nhân loại lần này, con người vô cùng lạc hậu. Không những không có điện thoại hay radio như ngày nay, mà ngay cả việc liên lạc giữa các bộ lạc cũng phải dựa vào sức người chạy qua chạy lại, huống chi là liên lạc xuyên lục địa. Truyền đạt tin tức cự ly xa vào thời đó gần như là không thể, vậy tại sao những người sống rải rác ở khắp nơi trên thế giới lại có những câu chuyện thần thoại và truyền thuyết giống nhau đến vậy?
Có lẽ sự thật là thế này: Con người thời thượng cổ quả đúng là đã trải qua nạn đại hồng thủy mang tính hủy diệt. Các dân tộc khác nhau sống rải rác ở các nơi trên thế giới, sau khi trải qua lần tai họa hủy diệt trời đất ấy, con người bắt đầu xây dựng lại một nền văn minh mới.
Ngẫm lại có lẽ khi ấy số ít những tổ tiên còn sống sót sau thảm họa, đã tận mắt chứng kiến tình cảnh con người bị hủy diệt, ngoài tâm trạng buồn bã nặng nề, họ còn ghi chép lại cảnh tượng khắc cốt ghi tâm khi ấy, điều họ hy vọng nhất là thế hệ con cháu mai sau nhất định phải học được bài học này. Dùng ngôn ngữ văn tự chính thức để ghi chép lưu truyền lại, đây quả là những giáo huấn và ký ức đầy đau thương!
Vậy những câu chuyện mà tổ tiên để lại đang muốn nói điều gì với chúng ta?
Tổng hợp lại những miêu tả của các dân tộc, chúng ta phát hiện rằng nguyên nhân chủ yếu của trận đại hồng thủy lần này là vì đạo đức nhân loại đã bại hoại, con người đánh mất đi bản tính thiện lương vốn có, nên Thần giáng đại hồng thủy để tiêu diệt con người, chỉ có số cực ít những người thiện lương mới được tiếp tục sinh tồn. Những người thoát nạn đều được “Thần” – như Thủy Thần của người Sumer, Jehovah trực tiếp cảnh báo về sự phát sinh của tai họa, mà điểm chung của số ít những người được cứu ấy đều bởi vì khi ấy, họ là số ít những người còn tín Thần và làm theo yêu cầu của Thần.
Cho nên, dù rằng rất nhiều di tích cổ đã cho thấy rõ sự phát triển công nghệ cũng như nền văn minh của con người tiền sử, nhưng điều họ để lại cho hậu thế không phải là những thủ thuật hay kỹ thuật này, mà lại là một câu chuyện thần thoại giống nhau. Chúng ta dễ dàng hình dung được rằng: Sau khi trải qua bài học xương máu, nhân loại đã biết rõ rằng, văn minh vật chất của con người dù phát triển đến đâu cũng không thể chống lại được thiên họa. Vì thế, đối với nhiều dân tộc còn tồn tại đến ngày nay, điều mà tổ tiên họ muốn nhắn gửi nhất cho hậu thế chính là bài học từ đại hồng thủy – con người nếu muốn được sống hạnh phúc, đầu tiên phải trọng đức. Tuy nhiên, đối với thế hệ con cháu ngày nay, sự thật kia dù có được tổ tiên của chúng ta thuật lại như thế nào đi nữa, thì đều bị xem là thần thoại huyền tưởng. Vì khoa học mà chúng ta đang phát triển ngày nay không hề thừa nhận sự tồn tại của “Thần”.
Dựa vào những ký sự của con người cổ đại, con người hiện đại chúng ta liệu có nên suy ngẫm rằng: Ngày nay, thuận theo quá trình phát triển khoa học để cải thiện cuộc sống vật chất, con người đã dần dần đánh mất bản tính thiện lương, chúng ta không hề ghi nhớ bài học lịch sử, mà lại còn đi vào vết xe đổ của cha ông, điều này chẳng phải rất nguy hiểm hay sao?
Phần tiếp theo, chúng ta sẽ cùng đàm luận về rất nhiều những nền văn minh cổ đã bị mất tích, để xem các di tích văn minh còn gửi gắm cho chúng ta những thông điệp gì?
Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/21122