Chương cuối: Phủi sạch bụi trần lịch sử, phân tích Dương gia tướng (4)
Tác giả: Ngưỡng Nhạc
[ChanhKien.org]
Dương Lục Lang (Thiên Ngoại Khách/ Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng/ The Epoch Times chế tác lại)
Trong chính sử “Tống sử – Liệt truyện đệ tam thập nhất”, nguyên văn kể về Dương gia tướng dài không quá 3000 chữ. Tuy là như vậy, những ghi chép trong truyền kỳ và tiểu thuyết qua nhiều thế hệ lại cực kỳ sinh động và đa dạng. Vậy thì, truyền kỳ về Dương gia tướng rốt cuộc là hư cấu hay là tồn tại chân thực đây?
Chuyện kể về Dương gia tướng không chỉ có trong thời Minh Thanh, mà từ thời Bắc Tống đã được lưu truyền rộng rãi. Danh thần Âu Dương Tu đã viết bài “Cung bị khố phó sử Dương quân mộ chí minh” cho Dương Kì, cha của người bằng hữu Dương Điền của mình. Nội dung ca ngợi sự tích anh hùng của tổ tiên Dương gia, trong đó có một đoạn viết: “Cha con Dương Nghiệp đều là danh tướng, trí và dũng đều là vô địch, cho tới nay bậc sĩ trong thiên hạ, cho đến tận trẻ con nơi thôn quê, ai ai cũng có thể kể về họ”.
Âu Dương Tu viết áng văn chương này cách lúc Dương Nghiệp tạ thế đã hơn 60 năm, cách lúc Dương Diên Chiêu tạ thế hơn 30 năm, mà sự tích về họ lại có thể lưu truyền trong xã hội trọng văn khinh võ thời Bắc Tống rộng rãi như vậy, thậm chí trẻ con ở những làng mạc xa xôi đều nghe nhiều đến thuộc. Ngoài ra, những danh thần trong triều như Bao Chửng, Vương An Thạch cũng từng ca ngợi sự tích anh dũng của Dương gia tướng trong những công văn, tấu chương. Ấy vậy, những ghi chép về cha con Dương Nghiệp trong “Tống sử” liệt truyện lại chỉ gói gọn trong chưa đến 3000 chữ.
Quan vị cao nhất của ba người nhà Dương Nghiệp không vượt quá hàng ngũ phẩm – thuộc dạng trung cấp trong quân. Ấy thế mà nước Liêu đối địch lại xây cho Dương Nghiệp một tòa miếu thờ Dương vô địch, mà miếu Lục Lang thờ Dương Diên Chiêu lại càng nhiều, rải rác khắp nơi mọi miền Nam Bắc trên cả nước. Trái ngược lại, những đại tướng của triều Tống mang chiến công hiển hách vào thời đó như Lý Kế Long, Tào Bân, Quách Thủ Văn, Vương Toàn Bân… thì thanh danh trong dân gian và sức ảnh hưởng đối với người đời sau còn xa mới bằng được cha con Dương Nghiệp. Nhưng trong chính sử kể chuyện về họ nhiều hơn cha con Dương Nghiệp rất nhiều. Hiện tượng này rõ ràng là bất hợp lý, có thể thấy có rất nhiều sự tích chuyện xưa đã không được chính sử ghi lại.
Về phương diện nghiên cứu tư liệu lịch sử Dương gia tướng, Dư Gia Tích, học giả nổi tiếng cuối thời nhà Thanh đầu thời Dân quốc, đã viết cuốn “Dương gia tướng cố sự khảo tín lục”, trong giới học thuật đây được xem là tài liệu nghiên cứu sớm nhất và nổi tiếng nhất. Trong sách đã sưu tập những tư liệu lịch sử liên quan đến Dương gia tướng: từ các ghi chép lịch sử của cá nhân, văn tập, địa chí, thi từ, v.v. Sau đó lại đối chiếu đến những câu chuyện kể về Dương gia tướng trong tiểu thuyết, hí khúc, khảo chứng thật giả, cuối cùng tác giả tuy khẳng định các sự tích tinh trung báo quốc của Dương gia tướng, nhưng với các câu chuyện được lưu truyền trong dân gian như cuộc đại chiến ở Kim Sa Than (bãi cát vàng), Mạnh Lương Tiêu Tán, Thất Lang Bát Hổ, cho đến các sự tình liên quan đến Dương môn nữ tướng, thì tác giả vẫn giữ thái độ hoài nghi. Các học giả cận đại cũng từng làm rất nhiều các nghiên cứu bổ sung, nhưng đại đa số đều có lập luận giống nhau, tác giả bài viết này cho rằng nguyên nhân của hiện tượng này như sau:
Một lượng lớn tư liệu lịch sử đã thất truyền
Trong loạn Tĩnh Khang khi quân Kim xâm phạm phía Nam vào những năm cuối của Bắc Tống, quân Kim sau khi tấn công vào kinh thành Biện Kinh đã cướp sạch hết châu báu, văn vật, mà một lượng lớn tư liệu lịch sử cũng bị tiêu hủy. Trong Tĩnh Khang yếu lục có viết: “Sách vở trong các phòng bí mật, đều bị vứt bừa bãi trong bùn đất!” Đến năm Lý Tông Thiệu Định thứ tư thời Nam Tống, kinh thành Lâm An lại xảy ra vụ cháy lớn, một lượng lớn tư liệu lịch sử lại một lần nữa gặp tai họa. Trong “Văn hiến thông khảo – Kinh tịch khảo – Tổng tự” có viết “Năm Thiệu Định Tân Mão có họa hoạn, sách bị cháy rất nhiều”!
Đến những năm cuối thời Nam Tống, đại quân Mông Cổ tấn công kinh thành Lâm An, một lượng lớn sách vở lại một lần nữa bị cướp đoạt hoặc bị hủy hoại. Mà những quan văn có học vấn và tu dưỡng sâu dày đại đa số đã nhảy xuống biển tự vẫn cùng Tống Thiếu Đế Triệu Bình, trải qua bao trường hạo kiếp văn hóa ấy, cho đến lúc triều Nguyên chuẩn bị chính thức chỉnh sửa lại “Tống sử”, thì sách vở lưu trữ trong kho đã rất không hoàn chỉnh. Dưới tình huống ấy, rất nhiều sự tích anh dũng của Dương gia tướng đã không được chính sử ghi chép lại.
Lịch sử cố tình sơ suất, con người lựa chọn quên đi
“Tống sử” do những người thuộc triều Nguyên như tể tướng Thoát Thoát, A Lỗ Đồ chủ biên, tuy cũng có học giả người Hán hợp lực biên tập, nhưng đối với các chiến tích anh dũng của vương triều Trung Nguyên từng đối địch với họ, thì không khỏi giữ kín như bưng. Điểm này nếu so sánh “Tống sử” với những bộ chính sử trong quá khứ như “Sử ký”, “Hán thư”… có thể nhìn ra manh mối. Hơn nữa đối với Dương môn nữ tướng, những người liên tiếp đánh bại các đội quân ngoại tộc như quân Liêu, Tây Hạ… thì chắc hẳn lại càng phải lãng quên, để cho những sự tích về họ biến mất như mây khói. Hơn nữa, nhà Dương gia đã trải qua nhiều ma nạn. Từ Dương Nghiệp, Thất Lang Bát Hổ đến đời thứ năm Dương Hoài Ngọc, đàn ông nếu không phải chết nơi chiến trường thì cũng bị gian thần bức hại, không có được cái kết tốt đẹp, mà 12 quả phụ chinh Tây phần lớn đều chết trận ở Tích Lệ Nhai, đoạn lịch sử bi tráng ấy khiến người dân Bắc Tống khó lòng tiếp nhận. Có lẽ cũng chính vì điều ấy, trong sách sử đương thời thậm chí ngay cả trong các tác phẩm văn nghệ đều không muốn nhắc đến đoạn chuyện cũ ấy, tình nguyện khiến phần lịch sử ấy chưa từng xảy ra, chỉ để những câu chuyện về Dương gia tướng được truyền miệng trong dân gian.
Hành trình đi tìm lịch sử: những câu chuyện chưa được chính sử ghi chép lại
Từ nhỏ tôi đã yêu mến những câu chuyện lịch sử truyền thống Trung Quốc, nhất là những câu chuyện anh hùng kinh điển như Tiết Nhân Quý chinh Đông, Dương gia tướng, Nhạc gia quân… Tôi còn nhớ đã từng xem qua một bộ kịch lịch sử kể lại chuyện Dương gia tướng bảy người đi, chỉ còn lại Lục tử về, xem đến trường cảnh Dương Diên Chiêu sau khi trải qua ma nạn vẫn trấn thủ Nhạn Môn và Hà Bắc Tam Quan, liền cảm thấy nội tâm dâng trào, hồi lâu cũng không lắng xuống được, phảng phất như chính mình là một thành viên trong Dương gia tướng sĩ. Mỗi khi nhìn lên bầu trời đêm, trong lòng luôn mang một vẻ u sầu, cảm thấy mình đang mang một sứ mệnh lịch sử trọng đại.
Cho nên tôi đã chỉnh lý lại những chuyện chưa được chính sử ghi lại, từ nghiên cứu các tư liệu lịch sử, tiểu thuyết và câu chuyện dân gian liên quan đến Dương gia tướng trong lịch sử, lại kết hợp với hàng trăm di tích văn vật có liên quan trên cả nước. Sau khi tổng hợp và điều chỉnh, tác giả cho rằng những nhân vật có đề cập đến trong “Dương gia tướng diễn nghĩa” như Mạnh Lương, Tiêu Tán, Nhạc Thắng… cho đến cả Dương môn nữ tướng đều là những nhân vật có tồn tại chân thực, mà rất nhiều câu chuyện liên quan cũng tuyệt đối không phải là không có căn cứ. Tác giả cuối cùng tìm được gần bốn mươi câu chuyện truyền kỳ lấy Dương Diên Chiêu, nhân vật chính trong Dương gia tướng, làm chủ thể, lấy phần tinh hoa viết thành văn, chính là loạt bài “Dương Diên Chiêu truyền kì” này. Tuy vậy tác giả tin rằng vẫn còn nhiều câu chuyện có liên quan lưu truyền trong dân gian vẫn chưa được phát hiện, chờ đợi người đời tìm ra, bổ sung cho đoạn lịch sử bị bụi trần phủ kín này.
Phụ lục: Những bài thơ liên quan đến Dương gia tướng (tuyển chọn)
Hòa Trọng Tốn quá Cổ Bắc Khẩu Dương Vô Địch Miếu
Hán gia phi tướng lĩnh hùng bi, tử chiến Yến sơn hộ ngã sư,
Uy tín cừu phương danh bất diệt, chí kim di tục phụng di từ.
Chú giải:
Bài này lấy từ Tô Tụng “Ngụy Công Tập (Cuốn Tam Thập)”
1. Hán gia phi tướng: Danh tướng Lý Quảng thời nhà Hán
2. Hùng bi: ví von dũng sĩ hoặc quân đội
3. Cừu phương: các nước chư hầu lân cận, chỉ nước địch
Diễn nghĩa:
Họa thơ Trọng Tốn (*) khi đi ngang qua miếu Dương Vô Địch ở Cổ Bắc Khẩu
Như Phi tướng quân của nhà Hán oai hùng, quyết tử chiến ở Nhạn môn để bảo vệ quân ta, Địch biết oai nghiêm danh tiếng bất diệt, tới nay trong dân gian vẫn còn tín phụng thờ cúng.
(*) Dịch giả chú thích: Trọng Tốn (仲巽) là tên chữ của Trương Tông Ích (张宗益). Ông từng đến Cổ Bắc Khẩu với tư cách là sứ thần triều đình, thăm miếu Dương Vô Địch (xây dựng để thờ tướng Dương Nghiệp) và làm thơ ca tụng, nhưng bài thơ này đã bị thất lạc. Tô Tụng làm bài thơ này để đáp lại bài thơ của Trọng Tốn, mượn hình ảnh danh tướng Lý Quảng để ví von Dương Nghiệp.
Quá Dương Vô Địch miếu
Hành từ tịch mịch kí quan môn, dã thảo do tri tị huyết ngân.
Nhất bại khả liên phi chiến tội, thái cương ta độc úy nhân ngôn.
Trì khu bổn vi Trung Nguyên dụng, thường hưởng năng lệnh dị vực tôn,
Ngã dục bỉ quân Chu Tử Ẩn, tru Dung liêu tú úy trung hồn
Chú giải:
Bài này lấy từ Tô Triệt “Loan thành tập/16” “Phụng sứ Khiết Đan nhị thập bát thủ”
1. Thái cương: chỉ tính cách quá cương trực
2. Nhân ngôn: biểu lộ ý kiến, chỉ sự nghi kỵ của Phan Mỹ và Vương Sân
3. Chu Tử Ẩn: Chu Xử, tự là Tử Ẩn. Hồi còn nhỏ phá hoại xóm làng, sau này lãng tử quay đầu, hối cải làm con người mới, công lao sự nghiệp còn cao hơn cả cha, lưu lại truyền thuyết “Chu Xử trừ ba mối hại”. Trong lần lên Tây Bắc thảo phạt quân phản loạn Để, Khương bị chủ soái Tư Mã Dung hãm hại, chiến đấu anh dũng rồi tử trận.
4. Dung: Tư Mã Dung, thuộc hoàng tộc Tây Tấn, làm quan tới Tể tướng, Tư Đồ. Bị phê bình vì chức cao nhưng lại không có tài năng.
Diễn nghĩa:
Ngang qua miếu Dương Vô Địch
Miếu tạm quạnh hiu nằm nơi quan ải, cỏ dại còn biết tránh vết máu hằn.
Chiến bại một trận tiếc hận không tính tội, quá cứng cỏi ấy chỉ sợ miệng người.
Rong ruổi lưng ngựa vốn vì Trung Nguyên, hiến sức dâng tài khiến nước ngoài kính trọng.
Tôi muốn so Ngài cùng Chu Tử Ẩn, trừng trị Dung tạm yên hồn trung dũng.
Thí Đao Thạch điếu Dương Vô Địch phụ tử
Nhạn Môn trọng trấn Tần Hán hùng, chiết kích cửu mai sa mạc trung.
Hữu thạch ngật lập phân lỗi kha, vân thị Dương gia kỉ chiến công.
Dương gia uy danh biên tắc trọng, đăng đàn thế bội chuyên thành ấn.
Vô địch thanh uy canh tuyệt luân, hoành đao sất trá phong vân chấn.
Thiếu niên trì liệp chí hồng nghê, ưng khuyển đàm binh nhật sắc thê.
Ủng tinh nhất nộ thiên quân hãi, sân mục Tam Quan vạn mã tê.
Nhất triêu địch kỵ như vân tập, sân dã tật hiền mĩ vô thuật.
Chuyển chiến thôi quân bạch vũ phi, sư xuất bất mưu chiêm dĩ luật.
Kì kế bất dụng vô nại hà, quyết khởi bằng an hành phụ qua.
Trượng phu hữu tử thệ bất cố, chỉ huy tả hữu như trương la.
Cường nỗ ám phục Trần Gia cốc, dự thức kì mĩ thử bại tích.
Viên quân bất phát lực dĩ cùng, hoành sóc trường hào lệ triêm ức.
Mã cách thi hoành tắc thảo ân, tòng nhung hữu tử sỉ sinh hoàn.
Thụ ân tàn tốt đồng thì tẫn, bạch cốt đôi thành bạch tuyết sơn.
Tướng quân tuy tử danh bất tử, Lục Lang chân thị tướng môn tử.
Trừu đao đoạn thạch thạch vi phân, ngũ đinh thần lực bắc bình thỉ.
Hu ta hữu Tống trọng biên huân, ngọc qua thiết kỵ truân như vân.
Phong hỏa bất kinh Dương thị lũy, tiên thanh hà giảm Nhạc gia quân?
Nhạc gia Đông Nam Dương Tây Bắc, tam bách dư niên đồng chiến tích.
Lộ bàng chỉ điểm thất lang phần, sơn đính kinh khán thiên tái thạch.
Cựu sự luân vong nhân bất tri, mạc tà do tác âm phong xuy.
Nguy nhiên lưu trấn Nhạn Môn tắc, thử thạch vô dị yến nhiên bi.
Chú giải:
Tác giả của bài thơ này là thi nhân thời nhà Thanh Lang Nhược Y, ghi chép lại trong “Đại Châu Chí” quyển 6.
1. Lỗi kha: Tảng đá chất đống lên nhau
2. Đăng đàn: nghi thức long trọng khi tướng soái nhận lệnh thời cổ đại
3. Hồng nghê: ẩn dụ cho tài hoa sớm nở, chí khí cao vời của người nào đó
4. Sân dã tật hiền mỹ vô thuật: gian thần Vương Sân đố kỵ tài năng và đức hạnh, chủ soái Phan Mỹ không có tài thống soái
5. Sư xuất bất mưu chiêm dĩ luật: chỉ việc ra trận không có mưu lược gì, câu nệ kỷ luật quân đội.
6. Phụ qua: chỉ cuộc chiến chắc chắn thất bại
7. Trường hào lệ chiêm ức: chiến sĩ chỉ có thể hò hét hô to, nước mắt rơi ướt vòm ngực
8. Ngũ đinh thần lực bắc bình thỉ: chỉ võ nghệ Dương Lục Lang có sức mạnh như phá núi, khiến quân địch phương Bắc phải khiếp sợ kinh hoàng.
9. Cựu sự luân vong nhân bất tri, mạc tà do tác âm phong xuy: chỉ tiếc nhiều chuyện xưa huy hoàng của Dương gia tướng sĩ đã bị con người thế gian quên lãng, giống như bảo kiếm Mạc Tà, ý chỉ trung hồn chưa tan, vẫn còn quanh quẩn trong trời đất.
10. Yên nhiên bi: chỉ điển cố Đậu Hiến đại phá Hung Nô phương Bắc, khắc lên đá ghi công bài “Phong Yên Nhiên Sơn Minh”
Diễn nghĩa:
Đá Thử Đao viếng phụ tử Dương Vô Địch
Nhạn Môn trọng yếu Từ Tần Hán, kích gãy vùi hoang mạc đã lâu.
Đá chồng thành đống đá thật cao, như công lao Dương gia ghi lại.
Danh Dương gia biên thùy trọng đại, đời nối đời nhận ấn giữ thành.
Càng vô song Vô Địch oai danh, nắm ngang đao hét vang mây gió.
Cưỡi ngựa bắn cung chí cao tuổi nhỏ, ưng khuyển đàm binh lạnh sắc mặt trời.
Cầm cờ một giận ngàn quân hãi, trừng mắt Tam Quan vạn mã kêu.
Một ngày ngựa địch như mây tụ, Sân ghét hiền tài Mỹ vô năng.
Chuyển trận thúc quân trăm tên bắn, xuất binh nói luật chẳng kể mưu.
Kế hay không dùng biết làm sao, cầm qua lên ngựa quyết tiến mau.
Trượng phu dù chết lòng không hối, chỉ huy tả hữu lưới giăng cao.
Cung mạnh phục chờ Trần Gia Cốc, đã biết cờ tan chuốc bại vong.
Viện quân không đến lực đã cùng; cầm giáo gào to lệ đẫm ngực.
Xác ngựa thây người đầy cỏ rậm, con nhỏ tử trận nhục sinh tồn.
Thí tốt chịu ân cùng tử tận, xương trắng xếp thành bạch cốt sơn.
Tướng quân dù chết danh mãi còn, Lục Lang quả xứng con nhà tướng.
Rút đao chém đá đá tách phân, sức tựa năm người kinh giặc bắc.
A ha nhà Tống trọng biên cương, giáo sắc tinh binh nhiều đồn trú.
Lũy họ Dương chẳng kinh khói hiệu, tiền thân nào kém Nhạc gia quân.
Nhạc gia Đông Nam Dương Tây Bắc, ba trăm năm lẻ chiến tích đồng.
Nhìn kia bên đường mộ Thất lang, chấn kinh đỉnh núi đá ngàn năm.
Chuyện cũ tiêu vong người không biết, hồn trung còn mãi ngọn âm phong.
Sừng sững còn kia trấn Nhạn Môn, đá này như bia Yên Nhiên công.
Vịnh Ngũ Đài Sơn Ngũ Lang từ
Quốc thổ liêu liêu mã bất tê, bạch vân thâm tỏa Ngũ Lang từ.
Tống gia thế giới biến thành mộng, thiết côn thường niêm dục hận thùy.
Chú giải:
Tác giả bài này là tăng nhân thời nhà Minh Thích Trấn Trừng, ghi lại trong cuốn “Thanh lương sơn chí”.
1. Quốc thổ liêu liêu mã tê: chiến trường cũ Tống – Liêu nay trống trải lạnh vắng, ngựa không còn hí nữa. 2. Thiết côn thường niêm: gậy sắt, vũ khí của Dương Ngũ Lang thường mang theo
Diễn nghĩa:
Ngâm vịnh đền Ngũ Lang ở Ngũ Đài Sơn
Quốc thổ tiêu điều ngựa lặng thinh, mây trắng che kín Ngũ Lang đền.
Thiên hạ nhà Tống hóa thành mộng, thiết côn thường cầm tiếc hận ai.
Vịnh Dương Ngũ Lang nhị thủ
Tống thế công thần chí dị thường, khí danh lâm hạ học tăng lang.
Kiền khôn đáo thử thùy kham tịnh, độc hứa anh phong động đế vương.
A sư công nghiệp dữ thiên tề, hận sát đan thanh bất dữ đề.
Thảng đắc tương quân thường tại thế, Tống triều tranh khẳng chúc Thiền vu.
Chú giải:
Tác giả bài này là tăng nhân thời nhà Minh Thích Trấn Trừng, ghi lại trong cuốn “Thanh lương sơn chí”.
1. Khí danh lâm hạ: ẩn cư xuất gia nơi núi rừng
2. Thùy kham tịnh: ai có thể sánh cùng ông để đưa ra đàm luận
3. Hận sát đan thanh bất dữ đề: cảm thán vì chưa lưu lại tranh và sự tích của ông
4. Tống triều tranh khẳng chúc Thiền vu: triều Tống sao lại lâm vào cảnh xưng thần và giảng hòa với ngoại bang
Diễn nghĩa:
Ngâm vịnh Dương Ngũ Lang bài 2
Công thần thời Tống lạ thường chăng, từ quan vào núi học làm tăng.
Trời đất tới nay ai hiểu được, duy có anh vũ động Đế quân.
Nhà sư sự nghiệp sánh ngang trời, hận hỏng mất tranh lạc mất lời.
Nếu là tướng quân còn tại thế, Tống triều há nguyện thuộc Thiền Vu.
Dẫn mã động
Tống nghiệp thiên an nhất thủy phân, dư đồ kim dĩ tẫn yên vân.
Dã khoáng sa bình lăng cốc dị, canh dân do thuyết lục tướng quân.
Chú giải:
Tác giả bài này là thi nhân thời nhà Minh Vương Linh Phong
1. Dư đồ: lãnh thổ quốc gia
2. Dã khoáng sa bình lăng cốc dị: diện mạo núi non và thung lũng thay đổi, ý chỉ cảnh vật quá khứ đã đổi thay rồi
Diễn nghĩa:
Động Dẫn Ngựa
Lãnh thổ Tống nghiệp một dòng phân, bờ cõi nay đã mất Yên Vân (*).
Đất rộng bãi vàng đồi núi khác, dân cày còn nhắc Lục tướng quân.
(*) Dịch giả chú thích: Yên Vân thập lục châu là mười sáu châu phía bắc Trung Quốc (nay thuộc các tỉnh Sơn Tây, Hà Bắc) mà Hậu Tấn Cao Tổ đã cắt cho nhà Liêu. Nhà Tống nhiều lần ra binh nhưng không lấy lại được.
Vô đề
Cự mã hà biên cổ chiến trường, thổ hoa mai một lục trầm thương.
Chí kim thôn cổ manh từ lí, uy chấn Tam Quan thuyết Lục Lang.
Chú giải:
Tác giả bài này là thi nhân thời nhà Thanh Phan Tổ Ấm, lấy từ cuốn “Tần du nhật ký”
1. Lục trầm thương: lấy trúc Lục Trầm chế thành cây thương
2. Thôn cổ manh từ: các thể loại hát nói, hí kịch, ca khúc… trong truyền thống dân gian.
Diễn nghĩa:
Vô đề
Bờ sông Cự Mã cổ chiến trường, rêu xanh chôn lấp Lục Trầm thương.
Đến nay câu hát dân gian ấy, uy chấn Tam Quan nhắc Lục Lang.
Dương Lục Lang miếu
Thượng hữu Dương Lang miếu, kì như tống tộ hà.
Thương tâm không chiến phạt, cực mục thả sơn hà.
Vân điểu nhân năng thuyết, tinh thiên hận bất ma.
Trừ hung chiêu đại liệt, ứng úy cửu nguyên đa.
Chú giải:
Tác giả bài này là thi nhân thời nhà Minh Duẫn Canh, thu thập trong “Sóc dã tập”
1. Cực mục: nhìn ra phương xa, phóng hết tầm mắt
2. Vân điểu nhân năng thuyết, tinh thiên hận bất ma: ý chỉ những sự tích anh hùng của Dương Lục Lang giống như mây bay chim chóc lưu truyền trong dân gian; nhưng nỗi nhục nước mất nhà tan trong tay nước địch thì tới nay vẫn khó có thể phai mờ.
3. Trừ hung chiêu đại liệt, ứng úy cửu nguyên đa: Dương Lục Lang cả đời chống lại kẻ địch mạnh ở phương Bắc để lại tinh thần oanh liệt, hành động vĩ đại ấy đủ để an ủi vô số trung hồn.
Diễn nghĩa:
Miếu Dương Lục Lang
Còn kia Dương Lang miếu, ngôi Tống thì ra sao.
Buồn chiến phạt vô ích, tầm mắt núi sông xa.
Mây trời người dễ thuyết, máu tanh xóa không nhòa.
Trừ ác rõ oanh liệt, an ủi hồn Trung Hoa.
Vô đề
Á cốc thành hoang tiêu tán mộ, tang kiền hà cận Mạnh Lương doanh.
Hành nhân đa thiểu hưng vong cảm, lạc nhật thu yên họa giác thanh.
Chú giải:
Tác giả bài này là thi nhân thời nhà Thanh Phan Tổ Ấm, lấy từ cuốn “Tần du nhật ký”
1. Á cốc thành: Thôn Á Hình, huyện Hùng, tỉnh Hà Bắc
2. Họa giác: một loại kèn cổ trong quân đội, dùng để cảnh tỉnh, động viên tinh thần, truyền lệnh, chỉ huy
Diễn nghĩa:
Vô đề
Mộ Tiêu Tán tại thành hoang Á Cốc, sông Tang Kiền cạnh doanh trại Mạnh Lương.
Hành khách ít nhiều cảm xúc về sự hưng vong, trong khói thu lúc hoàng hôn nghe tiếng kèn Họa Giác giục binh.
Tế Dương Thất Lang mộ phú thi
Tàn kiệt đài thâm tú đoạn văn, lộ bàng chỉ điểm Thất Lang phần.
Nhạc gia phụ tử dương huynh đệ, tam bách niên lai cộng chiến huân.
Chú giải:
Tác giả bài này là tri huyện Phồn Trí, Sơn Tây thời nhà Thanh – Chu Nhân Giáp
1. Tú đoạn văn: rêu cỏ mọc dài trên tấm bia, khiến cho văn tự trên bia mơ hồ không đọc được. 2. Cộng chiến huân: sống vào những thời kỳ khác nhau, nhưng giống nhau là đều lập nên những chiến công hiển hách bảo vệ Trung Nguyên.
Diễn nghĩa:
Bài thơ tế mộ Dương Thất Lang
Bia khuyết rêu dày đứt đoạn văn, bên đường chỉ rõ mộ Thất Lang Nhạc gia phụ tử Dương huynh đệ, ba trăm năm ấy cùng chiến công.
Phụ lục: sơ lược những di tích có liên quan đến Dương gia tướng (Trích đoạn)
1. Dương trung vũ từ đường: nằm ở thôn Lộc Đề Giản, trấn Tảo Lâm, huyện Đại, thành phố Hãn Châu tỉnh Sơn Tây, đây là từ đường của Dương gia, xây dựng kể kỷ niệm vị tướng nhà Bắc Tống kháng quân Liêu Dương Nghiệp.
2. Dương Lục Lang thành: nằm ở thôn Bồn Diêu, xã Hồ Dục, cách huyện Đại, tỉnh Sơn Tây 20km về hướng Đông Bắc
3. Dương Sơn: còn có tên là Dương Sơn (chữ Dương mang nghĩa dê, cừu), nằm gần huyện Từ Thủy tỉnh Hà Bắc, tương truyền là nơi Dương Diên Chiêu mai phục đánh bại quân Khiết Đan.
4. Dương gia lâu: còn có tên Lục Lang Vọng Hải Đình, nằm ở góc Đông Bắc thôn Lưu Trang, phía Nam huyện Từ Thủy, tỉnh Hà Bắc.
5. Lục Lang trại: nằm trên ngọn núi phía Đông cửa Bắc Nhạn Môn Quan, huyện Đại tỉnh Sơn Tây, tương truyền Dương Diên Chiêu từng phòng thủ tại đây.
6. Ngưu đầu trấn: nằm ở phía Nam huyện Cố An tỉnh Hà Bắc, tương truyền đây là nơi Dương Diên Chiêu bày Hoả Ngưu trận đánh bại quân Liêu.
7. Vương gia trại: nằm ở trong vùng nước Bạch Dương Điến ở Hà Bắc, tương truyền khi Dương Diên Chiêu làm Đoàn Luyện Sử Bảo An Châu đã lập doanh trại thủy quân lớn ở đây.
8. Đê Lục Lang: nằm ở huyện Phách tỉnh Hà Bắc, tương truyền là do Dương Diên Chiêu xây dựng, dùng để chuyển quân trong nước.
9. Lục Lang tàng binh động: nằm gần Đông Quan, Bảo Định, Hà Bắc, tương truyền đường đi trong động dài mấy trăm dặm, do Dương Diên Chiêu xây dựng.
10. Lục Lang miếu: nằm ở thôn Bạch Gia Ngật Đáp, trấn Đông Tín An, thành phố Phách Châu, Hà Bắc, tương truyền do dân chúng địa phương xây dựng để tưởng nhớ Dương Diên Chiêu.
11. Thiên Ba Dương phủ (nhà cũ của Dương Diên Chiêu): nằm trong Nghi Thu Môn phía Tây Bắc huyện Khai Phong cũ, tỉnh Hà Nam, là phủ đệ của nhà họ Dương.
12. Thí đao thạch: Nằm ở phía Bắc đại lộ Bát Lý, huyện Đại, tỉnh Sơn Tây, tương truyền Dương Diên Chiêu thử đao ở nơi đây.
13. Sáp tiến lĩnh: nằm ở huyện Lai Nguyên tỉnh Hà Bắc, tương truyền Dương Diên Chiêu cắm mũi tên vào đây, trong đá vẫn còn vết tích.
14. Toại thành: cách huyện Từ Thủy, tỉnh Hà Bắc hơn 10km về phía Tây Bắc, Dương Diên Chiêu đánh bại quân Liêu tại đây.
15. Không thành: nằm cách huyện Vĩnh Thanh, tỉnh Hà Bắc 7,5km về phía Tây Bắc, tương truyền Dương Diên Chiêu dùng Không thành kế ở nơi này đánh bại quân Liêu.
16. Minh Nguyệt thiền tự: nằm ở góc Tây Bắc thôn Lượng Mã Thai, xã Lượng Mã Thai, tân khu Hùng An tỉnh Hà Bắc, tương truyền Dương Diên Chiêu ở nơi này bảo vệ Phật tự, đánh bại Hàn Xương.
17. Long tuyền tự: nằm ở trấn Tín An, thành phố Phách Châu, tỉnh Hà Bắc, tương truyền Dương Diên Chiêu ở nơi này tạo ra thần tích giếng cổ sinh mộc.
18. Suối Nhất Mẫu: nằm ở Tây Đường Bạc, thành phố Bảo Định, tỉnh Hà Bắc, tương truyền Dương Diên Chiêu ở nơi này diệt ác long.
19. Thôn Tiểu Vương Đô: nằm ở trấn Bình Thư, huyện Đại Thành, thành phố Lang Phường tỉnh Hà Bắc, tương truyền Dương Diên Chiêu gặp Vương Lan Anh tại đây.
20. Mạnh Lương thành: nằm cách Hãn Châu, Sơn Tây 35km về phía Tây Bắc, tương truyền là nơi Mạnh Lương đóng quân.
21. Mạnh Lương ốc: nằm cách huyện Từ Thủy, Hà Bắc 20km về phía Nam, tương truyền Mạnh Lương từng đóng quân ở đây, gần đó còn có Thuyên Mã Thung (cọc cột ngựa), Lan Mã tường (tường chặn ngựa) của Mạnh Lương.
22. Tiêu Tán trại: nằm gần khu Tây Sơn, thành phố Nguyên Bình, tỉnh Sơn Tây, tương truyền Tiêu Tán từng đóng quân ở đây.
23. Mộ Tiêu Tán: nằm trong huyện Hùng tỉnh Hà Bắc, tương truyền là nơi mai táng Tiêu Tán.
24. Lão quân đường: nằm ở góc Tây Bắc huyện Vĩnh Thanh, tỉnh Hà Bắc, tương truyền Xà Thái Quân từng đóng quân ở nơi này.
25. Mộ Xà Thái Quân: nằm ở thôn Chiết Oa, nằm cách huyện Bảo Đức, Hãn Châu, Sơn Tây 20km về phía Nam.
26. Tống lục khẩu: nằm ở phía Nam huyện An Thứ, Hà Bắc, tương truyền là nơi Dương Bát Muội đại phá quân thiết giáp của Liêu soái Hàn Xương.
27. Mã Lục Lang thôn: nằm ở huyện Đại Thành, thành phố Lang Phường, tỉnh Hà Bắc, tương truyền là nơi Dương Diên Chiêu và Vương Lan Anh thành thân.
28. Mục Kha trại: nằm ở thôn Mục Gia Khẩu, khu Thập Độ Phong Cảnh, Phòng Sơn, Bắc Kinh, tương truyền là nơi Mục Quế Anh đóng quân.
29. Hợp hôn thai: nằm ở trấn Ngân Phường, huyện Lai Nguyên, thành phố Bảo Định, tỉnh Hà Bắc, tương truyền là nơi Dương Tông Bảo và Mục Quế Anh thành thân.
30. Tích lệ nhai: nằm ở eo Cổ Lãng tỉnh Cam Túc, trong truyền thuyết là nơi mai táng Dương môn nữ tướng tử trận.
Ghi chú: Theo nghiên cứu của tác giả, phần lớn những địa danh liên quan đến Dương gia tướng nằm ở Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Đông, Bắc Kinh… tại Trung Quốc đại lục. Cận đại có học giả thống kê số địa danh trên toàn quốc là 354 điểm, trải rộng khắp Nam Bắc Trường Giang, ở Trung Quốc đại lục có ít nhất 10 miếu thờ Dương gia tướng, Đài Loan có năm điểm, trên đây chỉ là tổng quan sơ lược.
Tư liệu tham khảo:
“Tống sử – Liệt truyện đệ tam thập nhất”
“Dương gia tướng cố sự khảo tín lục” – Dư Gia Tích, xuất bản năm 1945
“Dương gia phủ thế đại trung dũng thông tục diễn nghĩa” – Tác giả ẩn danh thời nhà Minh, Tần Hoài Mặc Khách duyệt lại
“Lưỡng Tống chí truyện” – Hùng Đại Mộc thời nhà Minh, Tần Hoài Mặc Khách duyệt lại
“Dương gia tướng Mục Quế Anh truyền thuyết” – Nhà xuất bản Mĩ thuật Nhiếp ảnh Bắc Kinh – Xuất bản năm 2015 – Cao Tuyết Tùng chỉnh lý
“Dương gia tướng ngoại truyện” – Nhà xuất bản Thiếu niên Nhi đồng Hà Bắc – Xuất bản năm 1986 – Triệu Vân Nhạn sưu tập chỉnh lý.
(Hết)
