Trang chủ Right arrow Tiên tri

Dự ngôn về ngày hôm nay (Phần 15): Mã tiền khóa - Khóa 8 đến Khóa 10

31-12-2025

[ChanhKien.org]

Khóa 8

“Nhật nguyệt lệ thiên

Kỳ sắc nhược xích

Miên miên diên diên

Phàm thập lục diệp”.

Khóa này dự đoán về triều Minh. “Nhật nguyệt lệ thiên” ý chỉ quốc hiệu triều “Minh”, chữ “nhật” (日) ghép với chữ “nguyệt” (月) là thành chữ “minh” (明). “Kỳ sắc nhược xích” ám chỉ họ của vị Hoàng đế khai quốc triều Minh là họ “Chu” (朱), mà chữ “Chu” này cũng mang nghĩa là màu đỏ, tương đồng với chữ “xích” (赤 – màu đỏ).

Dưới đây là danh sách 16 vị Hoàng đế của triều Minh, từ Thái Tổ Chu Nguyên Chương (朱元璋) đến Tư Tông Chu Do Kiểm (朱由檢):

1. Minh Thái Tổ (sinh năm 1328 mất năm 1398).

2. Huệ Đế (tại vị 1399 – 1402).

3. Thành Tổ (tại vị 1403 – 1424).

4. Nhân Tông (tại vị năm 1425).

5. Tuyên Tông (tại vị 1426 – 1435).

6. Anh Tông (tại vị 1436 – 1449, và 1457 – 1464).

7. Cảnh Đế (tại vị 1450 – 1456).

8. Hiến Tông (tại vị 1465 – 1487).

9. Hiếu Tông (tại vị 1488 – 1505).

10. Vũ Tông (tại vị 1506 – 1521).

11. Thế Tông (tại vị 1522 – 1566).

12. Mục Tông (tại vị 1567 – 1572).

13. Thần Tông (tại vị 1573 – 1620).

14. Quang Tông (tại vị 1620).

15. Hy Tông (tại vị 1621 – 1627).

16. Tư Tông (tại vị 1628 – 1644).

Sau khi Lý Tự Thành chiếm được Bắc Kinh và Tư Tông (Chu Do Kiểm) thắt cổ tự vẫn, hoàng tộc và các đại thần triều Minh đã chạy xuống vùng Giang Nam, lần lượt lập ba vị Hoàng đế, nhưng ba người này đều không được tính vào danh sách Hoàng đế chính thống của nhà Minh, bởi vì lúc đó vương triều chính thống kế tiếp là nhà Thanh đã bắt đầu.

Mười sáu vị Hoàng đế của vương triều Đại Minh, vừa đúng ứng với câu: “Miên miên diên diên, phàm thập lục diệp” (ý nói triều đại nhà Minh tổng cộng có 16 vị Hoàng đế).

Khóa 9

“Thủy nguyệt hữu chủ

Cổ nguyệt vi quân

Thập truyền tuyệt thống

Tương kính nhược tân”.

Bài tiên tri này nói về triều Thanh. “Thủy nguyệt hữu chủ” giống như một câu đố chữ, mà đáp án cuối cùng là chữ “Thanh” (清), cũng là quốc hiệu của triều đại kế tiếp. Chữ “thủy” (水) tượng trưng cho bộ thủy (ba chấm thủy) bên trái của chữ “清”; chữ “nguyệt” (月) là phần dưới và chữ “chủ” (主) thì có hình dáng giống phần trên của chữ “青” – cũng chính là nửa bên phải của chữ “清”.

Cổ nguyệt (古月) hợp lại thành chữ “Hồ” (胡), mà “Hồ” xưa kia là cách gọi chung các dân tộc thiểu số. Câu “Cổ nguyệt vi quân” nghĩa là triều Thanh là vương triều do dân tộc thiểu số lập lên, và quả thực là triều Thanh được thành lập bởi người tộc Mãn ở vùng Đông Bắc.

Kể từ khi nhà Thanh tiến vào Trung Nguyên, đã có tổng cộng mười vị Hoàng đế. Theo niên hiệu, các vị Hoàng đế này lần lượt là: Thuận Trị (tại vị 1644 – 1661), Khang Hy (tại vị 1662 – 1722), Ung Chính (tại vị 1723 – 1735), Càn Long (tại vị 1736 – 1796), Gia Khánh (tại vị 1797 – 1820), Đạo Quang (tại vị 1821 – 1850), Hàm Phong (tại vị 1851 – 1861), Đồng Trị (tại vị 1862 – 1874), Quang Tự (tại vị 1875 – 1908), Tuyên Thống (tại vị 1909 – 1911). “Thập truyền” ý chỉ việc truyền ngôi qua mười đời Hoàng đế này, còn “tuyệt thống” là chỉ vị Hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh, người mang niên hiệu “Tuyên Thống”.

Vào ngày 13 tháng 02 năm 1912, Tuyên Thống chính thức ban hành chiếu thư thoái vị, vương triều Đại Thanh chính thức rút lui khỏi vũ đài lịch sử. Chính phủ Quốc dân mới thành lập đã tuyên bố chính sách đối đãi trọng hậu đối với thành viên hoàng tộc nhà Thanh, cho phép Hoàng đế sau khi thoái vị tiếp tục sống trong hoàng cung, được hưởng đãi ngộ như nguyên thủ nước ngoài đến thăm Trung Quốc. Hơn nữa, toàn quốc cũng không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào với người dân tộc Mãn, chính phủ Quốc dân tuyên bố Trung Hoa Dân Quốc là nền cộng hòa của “Ngũ tộc” gồm: Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng. Do đó gọi là: “Tương kính nhược tân”. (Kính trọng nhau như khách).

Khóa 10

“Thỉ hậu ngưu tiền

Thiên nhân nhất khẩu

Ngũ nhị đảo trí

Bằng lai vô cữu”.

Ở khóa này là lời dự ngôn về Trung Hoa Dân Quốc. Ngày 10 tháng 10 năm 1911, những người đại biểu cách mạng của Đồng Minh Hội phát động khởi nghĩa vũ trang. Ngày 29 tháng 10, Tân quân ở Thái Nguyên (Sơn Tây) khởi nghĩa, Diêm Tích Sơn được cử làm đô đốc của chính phủ quân sự. Ngày 30 tháng 10, Tân quân ở Côn Minh khởi nghĩa, thành lập chính phủ quân sự do Thái Ngạc làm tổng đốc. Ngày 31 tháng 10, Tân quân ở Nam Xương cũng khởi nghĩa, thành lập chính phủ quân sự. Các nơi khác cũng lần lượt điện báo tuyên bố độc lập, triều đại nhà Thanh tứ phía bị bao vây, đứng bên bờ sụp đổ. Ngày 13 tháng 02 năm 1912, Hoàng đế nhà Thanh chính thức thoái vị, vương triều Đại Thanh kết thúc. Câu “thỉ hậu ngưu tiền” (tạm dịch: sau lợn trước trâu) chính là ám chỉ sự kiện này: năm 1911 là năm Tân Hợi, tức năm con lợn ( chữ “thỉ” cũng là có nghĩa là “trư” – con lợn), mà năm 1913 là năm Quý Sửu, tức năm con trâu, vì thế năm 1912 mà Hoàng đế nhà Thanh thoái vị chính là năm “sau lợn trước trâu”. “Thiên nhân nhất khẩu” là một câu đố chữ, “thiên” (千), “nhân” (人) và “khẩu” (口) ba chữ hợp lại chính là chữ “和”, tức là chữ “hòa” trong “cộng hòa”. Trung Hoa Dân Quốc là một nước cộng hòa, thực thi chế độ dân chủ.

“Ngũ nhị đảo trí” là cách hình dung về thể chế và chế độ của nước cộng hòa, trong một nước cộng hòa, hết thảy mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân, nguyên thủ quốc gia được gọi là Tổng thống, và Tổng thống được bầu ra bởi người dân, nếu nhân dân không hài lòng, họ có thể khiển trách ông ta, tất cả những điều này hoàn toàn ngược lại với chế độ quân chủ chuyên chế. Trong quá khứ, quân chủ được gọi là “cửu ngũ chi tôn” (ý chỉ vị trí tối cao, uy quyền của Hoàng đế), vì thế Gia Cát Lượng mới dùng cụm “ngũ nhị đảo trí” (ý chỉ sự đảo ngược vị trí quyền lực) để miêu tả tất cả những thay đổi này.

“Bằng lai vô cữu” là chỉ giai đoạn Trung Hoa Dân Quốc thống trị Trung Quốc đại lục, vì đất nước khi đó nghèo nàn, yếu kém, lại mới thành lập chưa ổn định, cho nên trên trường quốc tế thường bị ức hiếp, điển hình là bị Nhật Bản và một số nước khác xâm lược. Chữ “bằng” ở đây là ám chỉ ngoại bang.

Tới đây, mười khóa đầu trong “Mã Tiền Khóa” đã được giải thích toàn bộ, và độ chuẩn xác trong dự ngôn của Gia Cát Lượng đã đạt tới 100%.

Dịch từ: https://big5.zhengjian.org/node/62622

Ban Biên Tập Chánh Kiến

Mọi bài viết, hình ảnh, hay nội dung khác đăng trên ChanhKien.org đều thuộc bản quyền của trang Chánh Kiến. Vui lòng chỉ sử dụng hoặc đăng lại nội dung vì mục đích phi thương mại, và cần ghi lại tiêu đề gốc, đường link URL, cũng như dẫn nguồn ChanhKien.org.

Loạt bài