Thương Hiệt chân ý (Quyển 2): Thiên bạo của chữ “bạo” – Sự thai nghén và ra đời của ĐCSTQ



Tác giả: Nguyên Tử

[ChanhKien.org]

Đặc tính vận hóa năng lượng của âm dương trời đất không chỉ thể hiện ở tầng diện “tính”, có sự phân chia giữa “nhẫn” và “bạo”, mà còn thể hiện ở tầng diện “năng”, có khả năng “sinh hóa”.

Từ phương diện lưu hành âm dương phản bối của trời đất, sự giao tranh giữa âm dương trời đất đối ứng với tính đấu tranh và tính cách mạng của nhân loại. Xét về công năng sinh hóa của trời đất, sự lưu hành và vận hóa của khí trong trời đất có thể sinh ra vạn vật. Lão Tử giảng: “Vạn vật cõng âm mà ôm dương”. Sự ngưng tụ của âm dương trong trời đất và Phật tính của “nhẫn” đối ứng với nhân loại có sự xuất hiện của Thánh nhân; còn ma tính của sự chiến đấu giữa âm dương trong trời đất đối ứng với nhân loại có ma vương xuất hiện. Chiến tranh thế giới lần thứ nhất là sản phẩm của tâm tham lợi ích của nhân loại gây ra, kết quả là cuộc cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, sản sinh ra chính quyền tà ác Xô Viết màu đỏ. Chiến tranh thế giới lần thứ hai là sản phẩm của sự tham lam, dục vọng chiếm hữu và tâm lý độc tài muốn kiểm soát thế giới, kết quả của nó là chiến thắng của cách mạng cộng sản Trung Quốc vào tháng 10 năm 1949, thiết lập nên chính quyền tà ác khủng bố đỏ tà ác nhất trong lịch sử nhân loại.

Từ quẻ tượng của chữ bạo “暴” mà xét, nhật chủ hỏa ở trên trời; khảm thủy (khảm có thể hiểu là đất trũng, trở ngại) ở dưới đất, âm dương của trời đất giao chiến. Trên trời là thiên đạo cương liệt, sát phạt hung bạo, gọi là “thiên bạo”, lực lượng và năng lượng chủ của nó chính là “võ bạo”. Kinh Dịch giảng rằng: “Tại thiên thành tượng”, tức là trên trời thể hiện bản tượng của sinh mệnh. Đối ứng với tầng diện vật chất của nhân loại chính là chiến tranh và bạo lực cách mạng, từ đó thúc đẩy hình thành kết cấu vật chất của trật tự mới của nhân loại; đối ứng với tầng diện tinh thần của nhân loại là cách mạng văn minh, thúc đẩy hình thành kết cấu tinh thần của trật tự mới của nhân loại; đối ứng với tầng diện ý thức của sinh mệnh chính là chiêu mời tà linh phụ thể. Dụng ý thực sự của lịch sử phức tạp và đầy biến động trong nửa đầu thế kỷ XX của Trung Quốc cũng như thế giới, là thúc đẩy sản sinh ra ĐCSTQ: chính quyền ĐCSTQ với kết cấu vật chất khổng lồ của nó, tư tưởng Mao Trạch Đông – văn hóa đảng tà ác lấy “giả, ác, đấu” làm cốt lõi, cũng như tà linh cộng sản với kết cấu ý thức tà ác của nó. Sự thật này đã được dự báo trong pháp tướng của chữ “暴” – giữa Mặt Trời gay gắt và nước khảm, trong hoàn cảnh âm dương phản bối như vậy, ở giữa đất trời đã sinh ra một chữ cộng “共”, đồng thời còn tiên đoán rằng thời kỳ thai nghén của bào thai này kéo dài 28 năm (chữ 共 có thể chiết tự thành hai chữ thập 十 và một chữ bát 八, tức là 28), từ năm 1921 đến 1949.

Tiếp theo, chúng ta sẽ tiến hành phân tích sâu hơn về quá trình sinh hóa phức tạp và tà ác của sinh mệnh này.

I. Sự sinh hóa của kết cấu vật chất của ĐCSTQ – Quá trình thai nghén và ra đời của chính quyền Trung Cộng

Hiển nhiên, hiện tượng “thiên bạo” này không chỉ hạn cuộc ở Trung Quốc, nó mang tính toàn cầu. Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (từ tháng 07 năm 1914 đến tháng 11 năm 1918) và chiến tranh thế giới lần thứ hai (từ năm 1938 đến năm 1945) chính là “thiên bạo” tàn khốc nhất trong lịch sử nhân loại. Cuộc cách mạng bạo lực “dân chủ mới” mà ĐCSTQ tiến hành để giành chính quyền bằng vũ trang chính là kết quả thực sự của “thiên bạo” mang tính toàn thế giới này.

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất là cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa do các nước thuộc phe liên minh gồm Đức – Áo – Hung đứng đầu, đối đầu với các nước thuộc phe hiệp ước Anh, Pháp và Nga. Hai bên đều vì tranh giành thị trường hàng hóa và phân chia lại thế giới nên đã tiến hành chiến tranh giữa các đế quốc. Ngọn lửa chiến tranh lan rộng khắp ba châu lục: châu Âu, châu Á và châu Phi. Cuộc chiến đã kéo theo sự tham gia của 33 quốc gia, với hơn 1,5 tỷ người bị cuốn vào vòng xoáy chiến tranh. Tổng số binh lính được huy động lên đến 65 triệu, trong đó có hơn 30 triệu người thương vong. Cuộc chiến kết thúc với thất bại của phe liên minh do Đức dẫn đầu. Mặc dù Anh và Pháp giành được chiến thắng, nhưng thực lực của họ đã bị suy yếu đáng kể, trong khi Mỹ và Nhật Bản bắt đầu vươn lên. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, chính quyền Xô Viết đỏ ra đời ở Nga, sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, ĐCSTQ được thai nghén và thành lập.

Chiến tranh thế giới lần thứ hai là cuộc đại chiến có quy mô chưa từng có trong lịch sử nhân loại, với 61 quốc gia và vùng lãnh thổ cùng hơn hai tỷ người bị cuốn vào trong đó. Tổng số binh lính tham chiến vượt quá 100 triệu người, trong đó có khoảng 90 triệu binh sỹ và dân thường thương vong, khoảng 30 triệu người mất nhà cửa, phải lưu lạc. Với mức độ tàn khốc và thiệt hại trên phạm vi lớn, cuộc chiến này đã viết nên trang sử đẫm máu nhất trong lịch sử chiến tranh nhân loại. Khi nhìn lại chiến tranh thế giới lần thứ hai, những hình ảnh bi thương nhưng hào hùng, đẫm máu nhưng chấn động lòng người vẫn mãi khắc sâu trong ký ức nhân loại, khiến ai ai cũng không thể quên.

Thế nhưng, cho đến ngày nay, nhân loại vẫn nghiên cứu bàn luận về chiến tranh thế giới lần thứ hai, mà đem hết thảy tội lỗi quy kết một cách giản đơn cho kẻ đầu sỏ là Hitler độc tài và tham vọng. Nhưng đây chỉ là hiện tượng bên ngoài của những nguyên nhân phức tạp dẫn đến cuộc chiến này. Dù con người có tàn ác đến đâu cũng không thể ác bằng ma quỷ. Điều mà nhân loại chưa nhận ra là đằng sau cuộc chiến này, kẻ chủ mưu thực sự, tên hung thủ ẩn giấu trong bóng tối, chính là ĐCSTQ – diện mục chân thực của nó là con ác long màu đỏ mà Kinh Thánh nhắc tới, cũng chính là hóa thân của con rắn cổ xưa – Satan. Con rồng đỏ này đã phụ thể vào Trung Quốc, một quốc gia với nền văn minh lâu đời, con phụ thể này thông thường cũng được gọi là tà linh cộng sản.

Tại Trung Quốc, từ năm 1921 đến 1949 của thế kỷ trước, ĐCSTQ gọi thời kỳ này là “Cách mạng dân chủ mới”, với mục tiêu lật đổ chính quyền cách mạng quốc dân chủ nghĩa Tam Dân do Tôn Trung Sơn thành lập, dựng lên một chính quyền xã hội chủ nghĩa được cai trị theo lý luận chủ nghĩa cộng sản. Vì vậy, ĐCSTQ đã lãnh đạo nhân dân Trung Quốc tiến hành cách mạng, khởi xướng các phong trào như đánh thổ hào, chia ruộng đất, khởi nghĩa thu hoạch mùa thu, kiến lập căn cứ vũ trang đỏ ở tỉnh Cương Sơn, khởi nghĩa Nam Xương, nội chiến Quốc – Cộng, cuộc trường chinh, thiết lập căn cứ đỏ Diên An, chiến tranh kháng Nhật, vận động chỉnh phong ở Diên An, ba năm nội chiến, giải phóng toàn Trung Quốc, lật đổ ba ngọn núi lớn đè lên đầu nhân dân Trung Quốc, đập tan thế giới cũ vạn ác. Đó thực sự là một thời kỳ cách mạng đầy mưa máu gió tanh – đại bạo loạn trong vũ trụ. Cuộc cách mạng bạo lực kinh tâm động phách này cuối cùng đã dùng xương cốt của 30 triệu sinh mạng người Trung Quốc để xây dựng lên một Vạn Lý Trường Thành màu đỏ, và vào ngày 01 tháng 10 năm 1949, một thể xác khổng lồ mang tên Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã ra đời. Chính quyền tà ác được tạo ra từ “thiên bạo” này đã hình thành.

Sự sinh hóa vật chất của bạo – chính là quá trình tạo dựng tà ác trên tầng diện vật chất, với mục đích thúc đẩy thai nghén một thể xác tà ác để làm nơi trú ngụ và thao túng, khống chế của tà linh cộng sản. Nó nắm giữ toàn bộ bộ máy của quốc gia, khống chế hàng chục triệu đảng viên, chiếm đoạt toàn bộ tài nguyên vật chất của xã hội.

II. Sự sinh hóa của kết cấu tinh thần ĐCSTQ – Quá trình thai nghén và ra đời của tư tưởng Mao Trạch Đông

Trong quá trình hình thành kết cấu vật chất của ĐCSTQ từ năm 1921 đến 1949, đồng thời cũng diễn ra quá trình sinh hóa kết cấu tinh thần của ĐCSTQ. Quá trình này cũng chính là quá trình hình thành cái gọi là tư tưởng Mao Trạch Đông trong sách giáo khoa của ĐCSTQ. Nó được ĐCSTQ coi là “tam đại pháp bảo”, gồm có: Mặt trận thống nhất, đấu tranh vũ trang, xây dựng đảng. Từ đó đã cấu thành nên cơ sở “văn hóa đảng” tà ác của Trung Cộng. Dưới đây, chúng ta sẽ phân tích ngắn gọn về ba đại ác pháp này.

(1) Mặt trận thống nhất – giả – ác pháp dùng dối trá và lừa gạt để thao túng toàn bộ xã hội

ĐCSTQ có một bộ phương pháp tư tưởng thống chiến tà ác, tức là cái gọi là các giai cấp, giai tầng, đảng phái, và các đoàn thể xã hội, v.v. có thể đoàn kết vì một mục tiêu chung để thực hiện hành động thống nhất. Thực chất là lúc cần dùng, thì sẽ đứng cùng một chiến tuyến, để nó tận dụng các lực lượng, các thế lực xã hội, dùng xong rồi thì lần lượt chuyên chính, tiêu diệt. Mao Trạch Đông đã trình bày rất rõ về chiến lược này trong các tác phẩm “Báo cáo điều tra phong trào nông dân Hồ Nam” và “Phân tích các giai cấp trong xã hội Trung Quốc”. Vì đảng cộng sản bị tà linh thao túng, nó có một tôn chỉ tà ác là tiêu diệt giai cấp, tiêu diệt bóc lột, hiện thực hóa chủ nghĩa cộng sản, thống nhất toàn nhân loại. Vì vậy, tất cả các giai tầng, đoàn thể và thế lực xã hội đều trở thành đối tượng tiêu diệt của nó. Cái gọi là “Mặt trận thống nhất” chỉ là một chiến lược tạm thời khi ĐCSTQ chưa đủ mạnh để tiêu diệt đối thủ, một hình thức nhượng bộ và thỏa hiệp mang tính chiến thuật. Ví dụ điển hình là hai lần hợp tác Quốc – Cộng trong lịch sử: ĐCSTQ khi thực lực khá nhỏ thì dùng sách lược chiếc lược hợp tác rồi bám vào đối phương để phát triển lực lượng, cũng giống như chính sách của nó đối với tôn giáo, dân tộc, “một quốc gia hai chế độ”, v.v. cũng đều là đặt bản thân ở vị trí lãnh đạo, dùng văn hóa cộng sản dần dần chia rẽ đối phương, cho đến khi khiến đối phương bị tiêu diệt. Do đó, Mặt trận thống nhất của ĐCSTQ là một thủ đoạn hư giả, không có thiện niệm, không chút thành ý, một loại pháp thuật tà ác hoàn toàn không có gì đáng tin. Nguồn gốc của nó chính là đặc tính lừa dối của ma quỷ Satan, con đại ác long màu đỏ – chính là “giả”.

(2) Đấu tranh vũ trang – bạo – thực chiến và phát huy tà thuật cách mạng bạo lực

Giai đoạn lịch sử này chủ yếu là quá trình dùng vũ trang để cướp đoạt chính quyền. Vì đây là sự bùng phát dữ dội của năng lượng đối kháng lẫn nhau giữa âm và dương trong trời đất, nên gọi là “vũ bạo” – tức bạo động vũ trang, bạo động vũ lực. Tư tưởng cốt lõi của vũ bạo được Mao Trạch Đông tóm gọn trong câu nói: “Chính quyền sinh ra từ họng súng”. Đây chính là tinh túy và bản chất của tư tưởng quân sự Mao Trạch Đông, được ĐCSTQ xây dựng suốt 28 năm. Đương nhiên đây là sự phơi bày của tính man rợ và tà ác trong xã hội loài người. Mao Trạch Đông từng nói: “Cách mạng không phải là mời khách ăn cơm, không phải là viết văn chương, không phải là vẽ tranh thêu hoa; nó không thể tinh tế, tao nhã, không thể điềm đạm, không thể ôn hòa, tử tế, nhã nhặn, kiềm chế và cao thượng. Cách mạng là bạo động, một hành động bạo lực do giai cấp này tiến hành nhằm lật đổ giai cấp khác”. Đây cũng là sự lý giải sâu sắc nhất và điển hình nhất về bản chất của cách mạng bạo lực, là đặc trưng quan trọng của phong trào cộng sản và là minh chứng sống động cho chữ “bạo”. Nếu những lời này do người ngoài nói ra, rất có thể họ sẽ bị quy kết là “kẻ thù giai cấp” hay “phản động”, rồi bị bức hại tàn khốc. Cách mạng bạo lực trong thời kỳ này thể hiện qua đấu tranh vũ trang. ĐCSTQ định nghĩa: “Cách mạng vũ trang chống lại phản cách mạng vũ trang là hình thức đấu tranh chủ yếu của giai cấp bị áp bức lật đổ giai cấp thống trị phản động; dân tộc bị áp bức lật đổ chế độ thực dân”. Nguồn gốc của nó xuất phát từ đặc tính hiếu chiến của ma quỷ Satan, con đại ác long màu đỏ – chính là “bạo”.

(3) Xây dựng đảng – ác – tà thuật dùng ma tính khống chế linh hồn của con người

Trung Cộng định nghĩa cái gọi là “xây dựng đảng” bằng ba nguyên tắc ưu tú của ĐCSTQ: lý luận kết hợp với thực tiễn, gắn bó chặt chẽ với quần chúng, phê bình và tự phê bình.

“Lý luận kết hợp với thực tiễn” chính là sử dụng lý luận tà ác của chủ nghĩa cộng sản (tà pháp chủ nghĩa cộng sản) để chỉ đạo khống chế hành động thực tế của con người. “Liên hệ chặt chẽ với quần chúng” là một ác pháp phụ thể với hình thức thẩm thấu và khống chế chặt chẽ theo mô hình phân tầng và mạng lưới đặc trưng của ĐCSTQ trong thực tiễn. Trong lịch sử quân sự thế giới, chế độ chính ủy đặc biệt của ĐCSTQ chính là sản phẩm và sự vận dụng thực tế của loại hình linh hồn phụ thể này. Do đó, quân đội của ĐCSTQ không sợ gian khổ, không sợ chết, coi sinh mạng như cỏ rác, hoàn toàn mất đi nhân tính, thay vào đó là thứ “đảng tính” tà ác – ma tính. Vì vậy, việc xây dựng đảng có nguồn gốc từ đặc tính hủy diệt sinh mệnh của ma quỷ Satan, con đại ác long màu đỏ – chính là “ác”.

Tóm lại, từ khi thành lập vào năm 1921 đến khi cướp đoạt chính quyền năm 1949, nó đã diễn hóa ra một vũ khí tinh thần – cái gọi là “tam đại pháp bảo”, chính là khung xương cốt lõi của tư tưởng Mao Trạch Đông. Thực chất, đó là một loại đại ma pháp “giả, ác, bạo” cực kỳ tà ác! Là sự bộc phát mạnh mẽ về ma tính của con rồng đỏ ma quỷ Satan phụ thể ĐCSTQ.

Quá trình sinh hóa tinh thần của “bạo” – chính là sự tạo dựng tà ác trên tầng diện tinh thần, nhằm thúc đẩy sự ra đời của một tinh thần – là cái mà ĐCSTQ gọi là “tam đại pháp bảo”. Chúng ta gọi nó là “văn hóa đảng”, nó là một tải thể văn hóa quán triệt đặc tính “giả, ác, bạo” của tà linh Satan, được sử dụng để khống chế toàn bộ thể xác vật chất khổng lồ của ĐCSTQ.

III. Quá trình sinh hóa của kết cấu ý thức ĐCSTQ – Quá trình phụ thể của u linh tà ác phương Tây

Từ thiên tượng của chữ “bạo” (暴), sự bất hòa của trời đất có thể truy ngược về thời điểm khoảng 800 năm trước, hoặc thế kỷ thứ VIII, hoặc thậm chí xa hơn.

Nhìn lại tình hình tôn giáo thế giới vào khoảng 800 năm trước, chúng ta có thể tổng kết sơ bộ như sau: về cơ bản, phương Tây và châu Âu chủ yếu chịu ảnh hưởng của Cơ Đốc giáo; còn phương Đông, đặc biệt là châu Á, bao gồm Trung Quốc và Ấn Độ, chủ yếu chịu ảnh hưởng của Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo. Nếu nhìn vào chữ “bạo” (暴), bên trong có chứa chữ “bát” (八), ngụ ý rằng khoảng 800 năm trước, chính vào thời điểm đó, quỷ Satan (lấy hình thức của ác long màu đỏ hiển hiện) được nhắc đến trong Kinh Thánh đã bắt đầu kế hoạch thách thức Phật Pháp trên Trái Đất. Nói cách khác, thiên tượng không hài hòa mà chữ “bạo” thể hiện thực ra đã xuất hiện từ khá sớm tại phương Tây. Mặc dù mục tiêu cuối cùng của tà ác là hạ xuống và phụ thể vào Trung Quốc, nhưng tại sao nó không hạ xuống trực tiếp tại Trung Quốc?

Vào thời điểm đó, dù là trong khu vực Cơ Đốc giáo hay Thần giáo ở phương Tây, hay khu vực Phật, Đạo, Nho ở phương Đông, tà ác đều gặp phải sự ngăn cản khá lớn. Bởi vì tại phương Đông, Trung Quốc đã thiết lập một hệ thống phòng thủ lập thể ba lớp Phật, Đạo và Nho. Ba lớp bảo hộ này liên kết từ con người đến Thần linh cũng như tương thông hô ứng với thế giới của chư Phật ở ngoài tam giới, hòa hợp gắn kết, hình thành một mạng lưới chính Pháp dày đặc bao trùm toàn bộ trời đất, khiến tà linh không thể tiến nhập, chỉ đành tìm cách xâm nhập vào khu vực Cơ Đốc giáo phương Tây, rồi sau đó tìm cơ hội để tiến nhập vào Trung Quốc, đây là một nguyên nhân. Cơ Đốc giáo phương Tây lấy niềm tin tuyệt đối và duy nhất vào Thần làm nền tảng, điều này vốn là rất tốt. Tuy nhiên, khu vực Cơ Đốc giáo phương Tây có một vấn đề: tại ba tầng thứ cao, trung, thấp, hệ thống bảo hộ chỉ dựa vào một vị Thần duy nhất là Chúa Jesus, tại tầng cao là các nhà thờ và những người tu hành chuyên nghiệp, những người này sống tương đối đơn thuần nên hiệu quả bảo hộ khá tốt; tín đồ tại tầng trung và tầng thấp tu luyện trong xã hội, dễ chịu can nhiễu bởi cuộc sống thế tục, điều tạo ra sơ hở để con rồng đỏ có thể lợi dụng mà xâm nhập. Dù vậy, nó cũng không hề dễ dàng, vì những người này về cơ bản vẫn là tin vào Thần, do đó tà ác không thể xâm nhập từ sớm.

Mà một nguyên nhân quan trọng nhất chính là ác ma đại hồng long cần hấp thụ toàn diện những vật chất bại hoại rơi xuống từ không gian cao tầng đối ứng ở phương Tây. Ở phương Tây, châu Âu, đã kế thừa một số nền văn minh Hy Lạp và La Mã cổ đại cùng nhiều nền văn minh khác. Đặc trưng cơ bản của những nền văn minh này là thiên về hướng ngoại, tập trung vào nghiên cứu các nguyên lý như số học, hình học, logic học, triết học và khoa học. Những đại diện tiêu biểu gồm triết gia Plato, nhà vật lý Aristotle, nhà toán học Euclid, v.v.. Xét về bản chất, tất cả những điều này đều là khoa học, xa rời Phật Pháp. Lúc bấy giờ, nước Ý đặc biệt hứng thú với nền văn hóa Hy Lạp, thể hiện qua các lĩnh vực như triết học, nghệ thuật, văn học, điêu khắc, hội họa, v.v.. Từ bề ngoài mà nhìn, về cơ bản họ vẫn là tín đồ Cơ Đốc giáo, nhưng không đạt đến cảnh giới của những tín đồ chức sắc, tà ma liền thông qua những người này, thông qua khoa học, thông qua văn nghệ thời Phục Hưng ở giai tầng bậc trung hạ mà mở ra một lỗ hổng để tiến nhập vào. Quá trình này kéo dài khoảng ba đến bốn trăm năm, tức là trùng với thời kỳ văn nghệ Phục Hưng (từ năm 1300 – 1600). Trong thời gian này, ma tính xâm nhập mạnh mẽ thông qua các hình thức khoa học, nghệ thuật, điêu khắc và hội họa, từ đó đặt Cơ Đốc giáo trước một thách thức chưa từng có. Tình hình ngày một xấu đi, vào giai đoạn này, thuyết nhật tâm của Copernicus đã giáng một đòn mạnh vào Cơ Đốc giáo, từ đó trở nên suy yếu không thể gượng dậy. Sang thế kỷ XIX, thuyết tiến hóa của Darwin (1809 – 1882) với quan điểm sinh vật tiến hóa thông qua đấu tranh sinh tồn theo quy luật “chọn lọc tự nhiên”, cùng với học thuyết cộng sản của Karl Marx (1818 – 1883) cho rằng “đấu tranh giai cấp và cách mạng bạo lực là động lực căn bản của sự phát triển xã hội loài người”, đã đưa học thuyết đấu tranh toàn diện tiếp nhập vào tầng diện vật chất, tầng diện tinh thần của sinh mệnh và tầng diện xã hội của nhân loại. Từ đó, sinh mệnh cấp cao tà ác nhất trong lịch sử loài người – “chủ nghĩa cộng sản” ra đời. Thực chất, nó là con ác long Satan hạ xuống một tầng không gian, tồn tại dưới hình thái sinh mệnh trong không gian này. Nhân loại về cơ bản đã đặt niềm tin vào khoa học và “tà ma cộng sản”, trong khi đức tin vào Cơ Đốc, việc đến nhà thờ hành lễ dần trở thành một thói quen trong đời sống và một nghi thức tôn giáo để cầu xin sự che chở từ Thần linh.

Bản chất của khoa học: ngày nay, con người đều cho rằng khoa học là thần thánh, là tiên tiến, là chân lý. Tuy nhiên, những thảm họa to lớn mà khoa học mang đến cho nhân loại vẫn chưa được con người nhận thức đầy đủ, cũng như chưa thể chấp nhận toàn bộ. Trong khi đó, cách nhìn nhận về khoa học của hết thảy các bậc Giác Giả, Thánh nhân lại hoàn toàn khác biệt. Hãy xem Thánh nhân Thương Hiệt đã nhìn nhận khoa học như thế nào. Tôi đặc biệt chú ý đến chữ “科” (khoa), bởi nó không hề tầm thường, rất có thể được tạo ra dành riêng cho Chính Pháp, nhằm chỉ rõ chân tướng của khoa học. Chữ “科” (khoa) có phần bên phải là chữ “斗” (đấu), thể hiện bản chất của khoa học chính là tính đấu tranh, là sự đấu tranh và kiểm soát giữa tinh thần và vật chất. Bên trái là chữ “禾” (hòa), biểu trưng cho mầm non của thực vật, tượng trưng cho sinh mệnh nhỏ bé, bao gồm thực vật và con người, không bao gồm Thần. Do đó, khoa học đã khơi mào sự đối kháng giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên, thực chất là sự tàn phá sinh mệnh. Khoa học tuyên truyền chủ nghĩa vô thần và tư tưởng đấu tranh, khiến đạo đức nhân loại băng hoại đến mức vũ trụ không thể dung chứa, đẩy nhanh cơ chế “Thành – Trụ – Hoại – Diệt” của vũ trụ, đẩy nhân loại đến bờ vực diệt vong.

Khoa học thúc đẩy xã hội loài người từ nền kinh tế tự nhiên bước vào nền kinh tế thị trường. Giá trị cốt lõi của nền kinh tế thị trường là lợi nhuận, hình thức biểu hiện của nó là hàng hóa, cơ chế vận hành của nó là cạnh tranh, cốt lõi văn hóa của nó là đấu tranh, nguồn động lực của nó là khoa học kỹ thuật, đặc tính thiên tượng của nó là âm dương phản bối. Do đó, khoa học và nền kinh tế thị trường phù hợp với tính chất đấu tranh của con rắn cổ Satan, tạo thành một trường văn hóa mang đầy ma tính.

Mọi người có thể đưa ra nghi vấn: tại sao con ác ma đại hồng long lại nhất định phải hạ xuống châu Âu? Tại sao không phải là nơi khác như Liên Xô, Ấn Độ, Tây Tạng, Nhật Bản, v.v.? Hoặc tại sao không trực tiếp hạ xuống Trung Quốc cho xong? Vấn đề này đã được đề cập ở trên, hóa ra lục địa châu Âu là nơi khai sinh ra các nền văn minh phương Tây như nền văn minh Hy Lạp cổ đại, văn minh La Mã, văn minh Maya, v.v., cũng chính là nơi khởi nguồn của khoa học. Trong khi đó, các khu vực khác thì không có điều kiện tương tự. Ở trên đã bàn đến vấn đề trong khoa học ẩn chứa văn hóa của ma, mà cốt lõi của nó là đem vật chất và tinh thần phân tách và đối lập, mang tính đấu tranh. Vì vậy, ma nó tất yếu phải ra đời tại đây để hấp thụ tinh hoa của văn hóa ma quỷ. Hãy thử nghĩ mà xem, một “thánh ma” muốn giáng thế để tranh đấu với Phật Pháp, nếu không có sự hun đúc thâm hậu trong văn hóa ma quỷ thì làm sao có thể thành công? Tất nhiên, đây chỉ là một cách nói đứng tại góc nhìn từ không gian vật chất. Ở một khía cạnh khác, nếu Trái Đất và nhân loại tồn tại để dùng cho Chính Pháp, còn con ác ma rồng đỏ là máy thu gom rác thải của vũ trụ, vậy thì nó tất yếu phải đến phương Tây để thu thập và hấp thụ những vật chất bại hoại của sinh mệnh vũ trụ giáng xuống ở phương Tây. Tại sao trạng thái của xã hội ở phương Tây lại tốt hơn phương Đông? Chính vì ma đã hấp thụ lượng vật chất bại hoại cực đại của vũ trụ tại phương Tây, giúp môi trường sống ở đó trở nên trong sạch và cải thiện. Ngược lại, vào cuối thời nhà Thanh, sau năm 1840, tình trạng xã hội ở phương Đông, nhất là Trung Quốc, đột ngột xấu đi, rất có thể là bởi nguyên nhân này, con ác long đỏ đã mang vật chất bại hoại tà ác nhất trong vũ trụ đến Trung Quốc, mang đến những tai họa khủng khiếp cho Trung Quốc.

Nghe nói năm đó, Chúa Jesus đã căn dặn rõ ràng cho các môn đồ là không được truyền giáo về phương Đông. Nhưng không rõ là họ không biết hay cố tình làm trái, mà vẫn ồ ạt truyền giáo sang Trung Quốc. Điều này khiến mạng lưới phòng vệ ba chiều của Phật, Đạo, Nho ở phương Đông trở nên khó đối phó hơn, bởi vì tất cả đều là Phật Pháp, đều là muốn độ nhân. Khi người ta muốn độ nhân, làm sao có thể cự tuyệt người ta ở ngoài cửa? Điều đó không đúng. Và điều này chính là vấn đề nghiêm trọng mà Chúa Jesus đã lường trước, văn hóa ma quỷ có thể lợi dụng các giáo đồ của Ngài để thâm nhập vào Trung Quốc, trong khi những người truyền giáo lại không nhận thức được điều đó. Họ nghĩ rằng mình đang truyền bá văn minh phương Tây, độ con người về thiên quốc, mà không hay biết rằng họ đang phá hoại Phật Pháp ở giáo phận phương Đông! Vào cuối đời Minh, khoảng năm 1600, một nhà truyền giáo người Ý tên là Matteo Ricci (Lợi Mã Đậu) đã thông qua một học sỹ Hàn Lâm Viện người Thượng Hải là Từ Quang Khải, truyền bá cuốn “Cơ sở hình học” (Elements) của Euclid. Từ Quang Khải đã dịch và xuất bản cuốn sách này với hy vọng mở ra cánh cửa khoa học cho Trung Quốc, nhưng cuối cùng không thành công. Điều này cho thấy mạng lưới phòng thủ ba chiều của Phật, Đạo, Nho vô cùng nghiêm ngặt. Lúc bấy giờ, đại nho gia Vương Dương Minh đã khởi tác dụng quan trọng. Ông đã khai ngộ và đắc đạo tại Quý Châu, truyền giảng “Tâm học” của ông, thu hút đông đảo môn đồ. Những người theo học có căn cơ lớn đều mong muốn thành Phật, đắc Đạo, tìm kiếm bậc đại đức để dẫn dắt họ đột phá không gian, tiến nhập vũ trụ. Vì thế, họ không mấy bận tâm đến việc nghiên cứu một hệ thống lý thuyết cơ sở hình học vốn chỉ xoay quanh cái không gian nhân loại nhỏ bé này. Giới học thuật cận đại và hiện đại từng bày tỏ sự tiếc nuối về cơ hội này, quy kết rằng văn hóa Phật, Đạo, Nho quá lạc hậu, làm chậm bước tiến của Trung Quốc. Họ không hiểu chân lý của Phật Pháp, cũng không biết đây thực chất là cuộc đối kháng và thẩm thấu giữa Phật và ma. Còn vị mục sư Matteo Ricci này, quả thực là hồ đồ, chẳng rõ bản thân đã vượt ngàn dặm đến Trung Quốc để làm gì. Nếu như một nhà khoa học hay nhà toán học phàm nhân truyền bá “Cơ sở hình học” thì đó là chuyện tự nhiên, hợp tình hợp lý, không có gì để bàn cãi. Nhưng thử hỏi, với tư cách là một nhà truyền giáo, liệu đạo mà Chúa Jesus muốn ông truyền giảng có phải là “Cơ sở hình học” hay không?

Vào thế kỷ XVIII và XIX, phương Tây đã bước vào kỷ nguyên công nghiệp nặng với động cơ hơi nước, từ đó chủ nghĩa tư bản ra đời, tầng lớp công nhân cũng xuất hiện. Lòng tham làm của chủ nghĩa tư bản cùng với các cuộc khủng hoảng kinh tế xuất hiện dường như đã tạo ra cuộc khủng hoảng lớn của chủ nghĩa tư bản, điều này đã tạo ra điều kiện hư giả cho sự sản sinh của học thuyết cách mạng bạo lực. Trong bối cảnh lịch sử này, chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa cộng sản xuất hiện. Mà tinh thần cốt lõi của chủ nghĩa cộng sản chính là “bạo lực cách mạng và đấu tranh giai cấp”, điều này hoàn toàn phù hợp với đặc tính của ma quỷ đại hồng long. Vì vậy, tinh thần của ma quỷ cũng đã tiến nhập vào đó. Ban đầu, nó định thực hiện tại Pháp thông qua cái gọi là Công xã Paris, nhưng đã không thành công. Bởi vì châu Âu là trung tâm của Thiên Chúa giáo, dù chịu ảnh hưởng nặng nề của khoa học và vật dục, nhưng con người vẫn không ưa chuộng loại ma tính cực đoan của “bạo lực, cách mạng, đấu tranh”. Mà ma quỷ muốn kiểm soát Trung Quốc trước khi Chính Pháp đến, mà thời gian chỉ còn lại hơn 100 năm, đã vô cùng cấp bách. Phải làm sao đây? Nó đã dùng thuốc phiện để bào mòn tinh thần và trí tuệ của người Trung Quốc, đột phá mạng lưới phòng hộ ba chiều của Phật Pháp. Nhưng nhân dân Trung Quốc kiên cường kháng cự, dẫn đến chiến tranh nha phiến, cách này vẫn không thành công. Đến năm 1860, Trung Quốc vẫn là một hệ thống độc lập và khép kín. Không còn cách nào khác, ma quỷ đành phải dùng vũ lực, nó thao túng liên quân tám nước tiến vào Trung Quốc, ép triều đình nhà Thanh phải mở cửa bờ biển, mở rộng thông thương. Từ góc độ con người, mục đích là xuất khẩu hàng hóa do chủ nghĩa tư bản sản xuất, tìm kiếm thị trường rộng lớn hơn, đồng thời đưa các giá trị phương Tây như tự do, khoa học, dân chủ, văn minh vật chất, kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường tiến vào Trung Quốc. Những điều này, xét trên bề mặt vật chất, có thể thúc đẩy văn minh của xã hội, nhưng đây không phải là bản chất. Chúng chỉ là tải thể của văn hóa ma quỷ, bên trong ẩn chứa bản chất ma tính của đại hồng long: tính đấu tranh, tính phá hoại, kỳ thực chính là “bạo”. Thiên tượng đối ứng của nó là nước lửa không giao hòa, tương chiến. Ngọn lửa thiêu rụi vườn Viên Minh, sự bùng nổ của phong trào Ngũ Tứ, bức tường phòng thủ khổng lồ, lớp phòng hộ ba chiều của văn hóa truyền thống Trung Quốc đã hoàn toàn sụp đổ. Triều đình nhà Thanh bị tiêu diệt, nhưng lại xuất hiện Tôn Trung Sơn cùng với chủ nghĩa Tam Dân. Mà văn hóa của chủ nghĩa Tam Dân không phải là văn hóa ma quỷ, ma quỷ không thể phụ thể lên thân của Tôn Trung Sơn.

Vậy thì phải làm thế nào? Vì Liên Xô là cây cầu nối giữa châu Âu và Trung Quốc, cộng thêm đây vốn là vùng đất rộng lớn và tôn giáo yếu kém, nên con đường từ châu Âu, qua Liên Xô, rồi hạ cánh lần thứ hai tại Trung Quốc là một phương án tương đối đáng tin. Thế là ma quỷ đại hồng long đã lợi dụng tranh chấp lợi ích giữa các nước phương Tây để khơi mào chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Đương nhiên kết quả cuối cùng là Anh và Pháp thu lợi, còn đế quốc Nga bị tổn thương nặng nề trong cuộc chiến. Điều này đã tạo ra điều kiện cực kỳ thuận lợi cho cuộc cách mạng bạo lực của đảng cộng sản Nga. Năm 1917, cách mạng Tháng Mười giành thắng lợi, kế hoạch phụ thể vào Liên Xô của ma quỷ đại hồng long đã thành công. Ma quỷ cần ở lại Liên Xô một thời gian để hấp thu những tinh hoa tà ác và bạo lực nhất từ Stalin và đảng cộng sản Liên Xô. Làm thế nào để tiếp tục xâm nhập Trung Quốc? Chẳng bao lâu sau, “một phát súng từ cách mạng Tháng Mười đã đưa chủ nghĩa Marx-Lenin đến Trung Quốc”. Dưới sự thao túng của đảng cộng sản Liên Xô, vào năm 1921, ĐCSTQ được thành lập, đây chính là thời điểm tà linh của ma quỷ đại hồng long chính thức xâm nhập vào Trung Quốc. Lúc này, nó vẫn giống như một đứa trẻ sơ sinh, cần sự bao bọc từ người mẹ Liên Xô. Khi ĐCSTQ tiến lên phía Bắc, nó không có chủ trương gì rõ ràng. Quân đoàn IV của Trương Quốc Đào là lực lượng chủ lực của hồng quân, đã muốn tiến về phía Tây để dựa vào Liên Xô, đã nói rõ điểm này, nhưng chỉ dựa vào sự che chở của Liên Xô thì vẫn chưa đủ. Nếu không có một môi trường tà ác, âm tính an toàn, thì ma quỷ đại hồng long rất khó trưởng thành và lớn mạnh. Vì vậy, cần có một môi trường quốc tế hỗn loạn để thu hút sự chú ý của thế giới, đó chính là bản chất thực sự của cuộc xâm lược Trung Quốc do Nhật Bản thực hiện. Những sinh mệnh tà ác ở tầng cao đã lợi dụng tham vọng của người Nhật để đạt được mục đích “một mũi tên trúng con chim” (xem “Nhật ký Tưởng Giới Thạch 1931-1945” do Đài truyền hình Phượng Hoàng phát sóng: Ngày 18 tháng 09 năm 1931, Tưởng Giới Thạch đang ngồi trên chiến hạm tiến về phía Nam để trấn áp cộng sản. Vào đúng 10 giờ tối hôm đó, Nhật Bản phát động “Sự kiện 18/09”. Đây tuyệt đối không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên của lịch sử, mà thực ra là an bài tỉ mỉ của cựu thế lực). Hitler là người cực kỳ căm ghét chủ nghĩa cộng sản. Một loại sinh mệnh cao tầng khác đã lợi dụng tham vọng độc tài của Hitler để thực hiện kế hoạch của họ. Họ muốn thông qua Hitler để tiêu diệt Liên Xô đỏ, từ đó kiểm soát Trung Quốc, nhằm ngăn chặn con quỷ đỏ lớn mạnh tại Trung Quốc. Điều này đã dẫn đến sự bùng nổ của chiến tranh thế giới lần thứ hai. Ở phía Bắc, Liên Xô đóng vai trò như một lá chắn bảo vệ cho Trung Quốc. Nếu Hitler chinh phục được Liên Xô, thì Trung Quốc chắc chắn sẽ nằm dưới sự kiểm soát của Hitler, và ĐCSTQ sẽ không thể lớn mạnh tại Trung Quốc. Khi vũ trụ bước vào thời kỳ Chính Pháp, mọi vật chất bại hoại trong vũ trụ sẽ không thể tập hợp đầy đủ để bị tiêu diệt trong quá trình Chính Pháp. Đây đại khái là điều mà những sinh mệnh cao tầng trong vũ trụ (cựu thế lực) cho là như vậy. Do đó, làm sao Hitler có thể vượt qua được rào cản của Liên Xô? Sự thất bại của Hitler là điều tất yếu. Ở phương Đông, tham vọng và dã tâm của Nhật Bản đã bị những sinh mệnh cao tầng (cựu thế lực) lợi dụng. Bề ngoài, Nhật Bản xâm lược Trung Quốc, nhưng trên thực tế là để bảo vệ ĐCSTQ, làm suy yếu lực lượng quân đội Quốc Dân Đảng, khiến chính phủ Quốc Dân phải đối phó với ngoại xâm mà không còn sức lực để tiêu diệt nội loạn. Điều này giúp ĐCSTQ tránh khỏi bị tiêu diệt, và quan trọng hơn, còn tạo cho họ một lý do chính đáng để nó tồn tại – kháng Nhật. Chính phủ Quốc Dân không những không thể tiêu diệt đảng cộng sản mà còn phải cung cấp súng đạn, lương thực, thậm chí còn phải nhường lại một căn cứ địa hợp pháp. Trong khi Quốc Dân Đảng tổn thất binh tướng trong cuộc kháng chiến, thì đảng cộng sản lại bí mật phát triển lực lượng, tích lũy sức mạnh và ung dung lớn mạnh tại Diên An. Tưởng Giới Thạch chứng kiến tất cả, nhưng dù có lo lắng thế nào cũng không thể làm gì được. Khi cuộc kháng chiến chống Nhật kéo dài, đảng cộng sản ngày càng lớn mạnh, đến mức vượt qua cả chính quyền Quốc Dân. Khi đảng cộng sản đã đủ mạnh, sứ mệnh của Nhật Bản cũng hoàn thành, và cả cuộc kháng chiến chống Nhật lẫn chiến tranh thế giới lần thứ hai đều không còn cần thiết nữa nên chiến tranh kết thúc. Ngay sau khi chiến tranh chống Nhật chấm dứt, đảng cộng sản lập tức tranh giành thành quả thắng lợi với Quốc Dân Đảng, lập tức thách thức chính quyền Tưởng Giới Thạch. Chỉ trong ba năm nội chiến, qua ba chiến dịch, Tưởng Giới Thạch đã hoàn toàn thất bại. Cảnh tượng trắng đen bị đảo lộn, điên đảo thị phi này đã lan tràn khắp vũ trụ, khiến chúng ta thấy rõ sự suy tàn và bại hoại của các sinh mệnh vật chất trong vũ trụ, cựu thế lực quả là quá độc ác! Nếu không có sự an bài Nhật Bản đảo loạn của cựu thế lực thì theo tình hình lúc bấy giờ, ĐCSTQ chắc chắn sẽ không thoát khỏi kiếp nạn bị tiêu diệt!

ĐCSTQ, một lực lượng hùng mạnh, đã trỗi dậy nhanh chóng. Sự trỗi dậy của nó không phải vì bất kỳ mục đích nào khác, mà là tạo ra vì Chính Pháp, để phục vụ cho Chính Pháp. Tháng 10 năm 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập. Lúc này, Liên Xô vẫn còn giá trị sử dụng, khoa học kỹ thuật của Liên Xô khi đó rất phát triển, nhân cơ hội tranh thủ học hỏi chút kỹ thuật. Vì vậy, đã nhanh chóng ký kết 150 dự án xây dựng với Liên Xô. Tuy nhiên, khi Stalin qua đời, người Liên Xô bắt đầu tỉnh ngộ và ngay lập tức thiêu xác Stalin. Điều này khiến Mao Trạch Đông không thể ngồi yên, làm sao có thể như vậy, tư tưởng thức tỉnh ư, không thể để điều này tái diễn ở Trung Quốc! Chính vì vậy, kế hoạch “phản sửa chữa, phòng sửa chữa” đã được ấp ủ. Đến năm 1960, Trung Quốc đã có thể tự lập, không còn cần Liên Xô che chắn nữa. Khi đó, cuộc chiến ở đảo Trân Bảo có thể được tiến hành. Mục đích thực chất căn bản của cuộc chiến này không chỉ đơn giản là tranh chấp biên giới, mà còn nhằm cáo buộc Liên Xô là “đế quốc xã hội chủ nghĩa” và “chủ nghĩa xét lại” trên lý luận, đồng thời thông qua chiến tranh để đánh lạc hướng sự tỉnh ngộ của người dân Trung Quốc sau sự kiện thiêu xác Stalin, từ đó duy trì sự thống trị bạo lực của đảng tính tà ác của nó. Đối với ĐCSTQ, “qua cầu rút ván” chẳng là gì cả. Nếu không làm vậy, thì còn gọi là con rắn cổ đại ma quỷ Satan không? Khi Gorbachev lên nắm quyền, Liên Xô đã không còn chút giá trị nào đối với tà linh cộng sản của con rồng đỏ nữa. Tinh hoa năng lượng tà ác của nó đã bị hút cạn, nên việc Liên Xô tan rã là điều tất yếu. Nếu Liên Xô không sụp đổ, ngược lại sẽ là một mối đe dọa đối với Trung Cộng. Nhưng người Liên Xô chẳng thể ngờ rằng, hai mươi triệu chiến sỹ hy sinh trong thế chiến II thực chất chỉ là để làm lá chắn cho sự trỗi dậy của ĐCSTQ! Đâu chỉ Liên Xô, cả thế giới đều bị con ma tà linh cộng sản này xoay vòng như con rối!

Có người hỏi: Vậy cuộc chiến kháng Mỹ viện Triều từ năm 1950 đến 1952 ở phía Đông và cuộc chiến Trung – Ấn năm 1959 ở phía Tây thì giải thích thế nào? Bây giờ nhìn lại, cuộc chiến kháng Mỹ viện Triều hoàn toàn không cần thiết. Ngay cả các chuyên gia quân sự của ĐCSTQ hiện nay cũng thừa nhận điều này. Nhưng bản chất của đảng cộng sản là hiếu chiến, không coi sinh mạng của người dân là sinh mệnh. Đây chính là do ma tính của con rồng đỏ quyết định, nó cần hút lấy năng lượng tà ác từ máu tươi của chiến tranh, để thể hiện sức mạnh bạo lực và chấn nhiếp chính nghĩa quốc tế. Nó sinh tồn trong chiến tranh và bạo lực, phát triển trong hỗn loạn và bạo lực. Khi có yếu tố bên ngoài kích thích, nó sẽ lập tức bộc phát ma tính, không thể nhẫn nại mà sử dụng bạo lực. Khi không có yếu tố tự nhiên nào dẫn đến bạo lực, nó sẽ tự tạo ra bạo lực thông qua đấu tranh, thông qua “đấu trời đấu đất” để sinh ra bạo lực hủy diệt môi trường sống. Sau khi thất bại trong việc bạo hành thế giới vật chất, nó nhanh chóng đổi hướng, chuyển sang sử dụng bạo lực để hủy hoại sinh mệnh vật chất thông qua đấu tranh giai cấp, đồng thời dùng bạo lực tư tưởng để đàn áp tinh thần và linh hồn. Đây chính là bí mật giúp đảng cộng sản tồn tại và giành chiến thắng. Cái gọi là “đại loạn đạt đến đại trị” của Mao Trạch Đông chính là bảo bối tà ác duy trì sự tồn tại của đảng cộng sản. Hiện nay, việc công khai hô hào đấu tranh giai cấp hay phát động cách mạng văn hóa với chiêu bài “đại loạn đạt đến đại trị” đã không còn khả thi. Tuy nhiên, bản chất tà ác của nó là không thể thay đổi, bởi nếu thay đổi, nó sẽ trở thành Phật, sẽ đồng hóa với “Chân, Thiện, Nhẫn”. Do đó, ác ma tất yếu sẽ thay đổi hình thái, cái gọi là “cải cách kinh tế”, khi cuộc chiến đấu trời, đấu đất không mang lại lợi ích, nó liền chuyển hướng sang đấu người. Nhưng đấu người cũng không thể kéo dài mãi, nó lại quay sang bóc lột và tàn phá tự nhiên, phá hoại tự nhiên dẫn đến cát vàng cuồn cuộn, sông ngòi ngập lụt. Bản chất đấu tranh và bức hại của nó không thể che giấu. Vài năm trước, nó lại tiến thêm một bước vào tầng sâu hơn với cái gọi là “tiến lên cùng thời đại”. Thực chất, đó chỉ là thuận theo dòng chảy, dung túng sắc dục và tình dục để tổ vẽ cảnh thái bình. Thuận theo dục vọng vật chất hoành hành, tham nhũng tràn lan làm suy đồi tư tưởng con người, khiến linh hồn con người trở nên trống rỗng. Trên mạng, trụy lạc và khiêu dâm lan tràn, trò chơi bạo lực bùng phát, văn hóa đảng lưu manh tà ác của Triệu Bản Sơn lại hoành hành khắp nơi. Duy chỉ có văn hóa truyền thống, văn hóa Thần truyền, những giá trị chính thống của nhân loại thì bị cấm đoán và phong tỏa nghiêm ngặt. Tuy nhiên, chiêu trò này cũng không còn hiệu quả. Sau khi tân lãnh đạo ĐCSTQ lên nắm quyền, nó lại thay đổi bộ mặt tà ác, đưa ra khẩu hiệu “xã hội hài hòa” để tiếp tục mê hoặc thế nhân. Nhưng dù có dùng những lời lẽ hoa mỹ đến đâu, đảng cộng sản vẫn có thể nhét vào đó nội hàm tà ác. Càng lợi dụng lớp vỏ bọc đẹp đẽ, nó càng dễ đánh lừa con người. Bởi vì đảng cộng sản không chấp nhận “Chân”, nên nó không thể đạt được sự thống nhất giữa lời nói và hành động, giữa bên trong và bên ngoài. Nó không chấp nhận “Thiện”, nên không thể thực sự mang lại phúc đức cho nhân dân. Nó không chấp nhận “Nhẫn”, nên không thể mang lại sự cai trị ổn định lâu dài!

Ở trên bàn luận về bản chất của cuộc chiến kháng Mỹ viện Triều dường như vẫn chưa đủ sâu sắc. Sau khi đọc bài “Thiển ngộ nông cạn về thiên cơ của Thần (Phần 3): Những đại sự thế gian khiến con người tỉnh ngộ”, tác giả Đường Lý đã thực sự vạch trần bí mật tận gốc rễ:

Năm 1986, “Cách Am Di Lục” xuất thế; năm 1987, Phật chỉ xá lợi tái hiện; năm 1992, Pháp Luân Đại Pháp khai truyền; năm 2005, Ưu Đàm Bà La hoa khai nở. Thần đã dùng một thời gian biểu chặt chẽ như vậy để nói rõ cho thế nhân rằng: hiện thực Pháp Luân Đại Pháp hồng truyền thế giới chính là ấn chứng cho thiên cơ trọng đại ‘Vạn Vương chi Vương’ (Vua của các vị vua) hạ thế truyền Pháp cứu độ thế nhân.

Thiên cơ này khiến ĐCSTQ vô cùng khiếp sợ! Đây chính là lý do tại sao Thần đã để cho Cách Am Di Lục xuất thế, và Ưu Đàm Bà La hoa khai nở ở Hàn Quốc, mà không phải ở Triều Tiên hay Trung Quốc; cũng là để con người hiểu vì sao nửa thế kỷ trước lại xuất hiện cục diện chiến tranh, kết quả là phân chia bán đảo Triều Tiên bằng vĩ tuyến 38, bởi vì Thần muốn bảo hộ cửa sổ phương Đông tiết lộ thiên cơ này: Hàn Quốc.

Ở đây, một lần nữa chúng ta lại thấy rằng nước Mỹ là một quốc gia vĩ đại. Nước Mỹ luôn đứng về phía Thần, bảo vệ trật tự của vũ trụ trước khi Chính Pháp đến. Tới thời kỳ Chính Pháp khi ĐCSTQ tà ác điên cuồng bức hại, nước Mỹ lại trở thành nơi an toàn để các đệ tử Đại Pháp tị nạn. Những người Trung Quốc có thái độ thù địch với nước Mỹ thực chất là kết quả của sự đầu độc và nhồi nhét tà ác của “văn hóa đảng” mà ĐCSTQ cưỡng ép lên họ.

Vào thời khắc cuối cùng của cuộc đại thanh lọc vũ trụ, những thủ đoạn mà ĐCSTQ từng sử dụng đều đã mất tác dụng. Chúng đã tung ra chiêu bài cuối cùng gọi là “xã hội hài hòa”. Tuy nhiên, sự ra đời của Cửu Bình đã vạch trần bản chất tà ác của ĐCSTQ, khiến thế nhân thức tỉnh. Trong tiếng nói lên án từ toàn thế giới, ĐCSTQ ở quốc tế giờ đây giống như con chuột chạy qua phố, bị mọi người đuổi đánh. Nó không còn có thể mê hoặc cộng đồng quốc tế nữa. Thế nhưng, dựa vào những năm tháng nhồi nhét văn hóa đảng tà ác, dựa vào bộ máy nhà nước mà chúng nắm giữ, cùng với quyền kiểm soát tuyệt đối đối với truyền thông và dư luận, ĐCSTQ vẫn đang cố gắng sử dụng chiêu cuối cùng này, dù có chết vẫn giữ chặt chúng sinh trong nước không buông, chờ đến ngày bị vũ trụ chính Pháp đào thải. Nhân dân Trung Quốc ơi, không thể chỉ dựa vào các học viên Pháp Luân Công, những người đã hy sinh cả sinh mệnh để giảng chân tướng. Hãy tự mình suy nghĩ, hãy tự cứu lấy mình, tự tỉnh ngộ đi! Hiện nay không còn như trước kia khi ĐCSTQ có thể dùng một bàn tay che kín bầu trời nữa. Giờ đây, mọi người có thể tìm hiểu sự thật thông qua việc vượt tường lửa internet, thông qua các kênh truyền hình vệ tinh, để hiểu rõ xu thế của thế giới, để liễu giải chân tướng cuộc bức hại, để thấy rằng ngày vũ trụ tiêu diệt ác ma đại hồng long, thời khắc đại thanh lọc đang từng bước đến gần. Thoái xuất khỏi ĐCSTQ, mới có hy vọng được cứu!

Từ đó có thể thấy rằng, mục đích cuối cùng của ĐCSTQ không phải là tạo ra “giả, ác, đấu”. Mục đích cuối cùng của nó là dùng mọi thủ đoạn, biến hóa vô số hình thức để khiến con người từ bỏ chính niệm, từ bỏ đạo đức lương tri, từ bỏ sự đồng hóa với “Chân – Thiện – Nhẫn”, khiến con người không thể được chính Pháp của Phật Chủ cứu độ, để rồi trong khi chính Pháp mà bị đào thải và hủy diệt.

Bạo lực ý thức sinh hóa là quá trình tạo ra tà ác trên tầng linh hồn, nhằm dung hợp linh hồn của ma quỷ – tà linh cộng sản – dùng để điều khiển thể xác vật chất của ĐCSTQ.

Những phân tích trên có thể được tóm tắt như sau: từ năm 800, con ác long đỏ tiến vào và hấp thụ tinh hoa của văn hóa ma quỷ tại phương Tây và châu Âu. Đến năm 1818, khi Karl Marx ra đời, đó chính là sự kết tinh đỉnh cao của tinh hoa tà ma, dẫn đến việc sáng lập “chủ nghĩa cộng sản”. Việc công bố “Tuyên ngôn cộng sản” đã đánh dấu sự ra đời của thực thể tinh thần của con ác long đỏ trên nhân gian – chủ nghĩa cộng sản. Năm 1917, với thắng lợi của cách mạng Tháng Mười tại Liên Xô, chủ nghĩa cộng sản bước vào vỏ bọc vật chất là Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết. Năm 1921, sự thành lập của ĐCSTQ đánh dấu việc chủ nghĩa cộng sản đã được thai nghén thành công tại Trung Quốc, hình thành bào thai ma quỷ của ĐCSTQ. Giai đoạn từ 1921 đến 1949 chính là quá trình phát triển của bào thai này, trong đó, nó đã hấp thụ đầy đủ tinh hoa của các yếu tố tà ác trong văn hóa truyền thống Trung Quốc. Đến năm 1949, vỏ bọc ma quỷ này chính thức chào đời. Đây chính là chức năng sinh hóa của thiên bạo.

Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/53239



Ngày đăng: 04-04-2025

Mọi bài viết, hình ảnh, hay nội dung khác đăng trên ChanhKien.org đều thuộc bản quyền của trang Chánh Kiến. Vui lòng chỉ sử dụng hoặc đăng lại nội dung vì mục đích phi thương mại, và cần ghi lại tiêu đề gốc, đường link URL, cũng như dẫn nguồn ChanhKien.org.