Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật Thiên cổ anh hùng của văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm
[ChanhKien.org]
Ngụy Vũ Đại Đế Tào Tháo. (The Epoch Times chế tác)
III. Tiêu diệt Viên Thiệu, đánh dẹp con cháu họ Viên, chinh phạt Ô Hoàn
Năm Kiến An thứ tư (năm 199 sau Công nguyên), Viên Thiệu thôn tính Công Tôn Toản, chiếm giữ các châu phía bắc Hoàng Hà gồm U Châu, Ký Châu, Thanh Châu và Tịnh Châu; đồng thời sắc phong cho quân Ô Hoàn, nên phía bắc không còn nỗi lo sau lưng. Viên Thiệu sai con trưởng là Viên Đàm, con thứ là Viên Hy và cháu ngoại là Cao Cán lần lượt trấn thủ ba châu Thanh, U, Tịnh; tự mình nắm giữ 10 vạn tinh binh, vạn con ngựa chiến, muốn tiến xuống phía nam để tranh đoạt thiên hạ. Lúc bấy giờ, Tào Tháo chủ quản 2 châu Dự và Diễn, binh lực chưa đầy 2 vạn. Phía bắc có đại quân của Viên Thiệu áp sát biên cảnh, phía nam có Trương Tú và Lưu Biểu không chịu hàng phục, phía đông có Lưu Bị liên kết với Viên Thiệu, đông nam có Tôn Sách đang rục rịch hành động, phía tây có các tướng vùng Quan Hữu vẫn đang đứng ngoài quan sát.
Thượng thư lệnh (Kiến thiết) Khổng Dung cho rằng Viên Thiệu đất rộng quân mạnh, có Điền Phong, Hứa Du bày mưu, có dũng tướng Nhan Lương, Văn Xú thống lĩnh binh sĩ, e rằng khó có thể giành chiến thắng. Tuy nhiên, các mưu sĩ của Tào Tháo là Tuân Úc và Quách Gia lại tin tưởng vào ông. Quách Gia cho rằng Tào Tháo có ‘mười điểm thắng’ (Thập thắng), còn Viên Thiệu có ‘mười điểm bại’ (Thập bại): Thứ nhất là Đạo thắng: Thiệu ‘lễ nghi phiền hà’, Tào Tháo ‘thuận theo tự nhiên’. Thứ hai là Nghĩa thắng: Thiệu ‘hành động nghịch đạo’, Tào Tháo ‘phò trợ triều đình để thống suất thiên hạ’. Thứ ba là Trị thắng: Cuối đời Hán ‘chính sự lỏng lẻo’, Thiệu ‘dùng sự lỏng lẻo để trị sự lỏng lẻo’, Tào Tháo ‘dùng kỷ luật nghiêm minh khiến trên dưới biết phép tắc’. Thứ tư là Độ thắng (Lòng người): Thiệu ‘ngoài rộng lượng nhưng trong đố kỵ, dùng người mà vẫn nghi ngờ, chỉ tin dùng người thân thích’, Tào Tháo ‘dùng người không nghi, chỉ cốt ở tài năng, không phân biệt thân sơ’. Thứ năm là Mưu thắng: Thiệu ‘đa mưu túc kế nhưng thiếu quyết đoán, thường chậm trễ việc quân’, Tào Tháo ‘mưu định là làm, ứng biến vô cùng’. Thứ sáu là Đức thắng: Thiệu chỉ lo mua danh chuộc tiếng, ‘kẻ sĩ thích vẻ bề ngoài phần lớn theo về’, Tào Tháo lấy lòng thành đãi sĩ, ‘không làm việc hư vinh’, trọng thực dụng, thưởng phạt phân minh, ‘với kẻ có công không hề keo kiệt’, khiến những bậc trung chính, nhìn xa và thực tế ‘đều nguyện dốc sức’. Thứ bảy là Nhân thắng: Thiệu chỉ có cái ‘nhân của đàn bà’, thấy người đói khổ thì xót thương lộ ra mặt, nhưng với những kẻ không nhìn thấy thì lại ‘không nghĩ tới’, Tào Tháo đối với việc nhỏ có thể sơ suất, nhưng đối với đại sự thiên hạ ‘lo liệu chu toàn, không việc gì không thành’. Thứ tám là Minh thắng: Thiệu để ‘đại thần tranh quyền, lời gièm pha làm loạn’, Tào Tháo ‘trị dưới có đạo, lời gièm xiểm không thể lọt tai’. Thứ chín là Văn thắng: Thiệu ‘thị phi bất phân, Tào Tháo đối với cái đúng thì ‘đãi bằng lễ’, đối với cái sai thì ‘trị bằng pháp’. Thứ mười là Võ thắng: Binh sĩ tin cậy, kẻ thù khiếp sợ, Thiệu ‘không biết yếu lĩnh cầm quân’, Tào Tháo ‘dùng binh như thần’. Tào Tháo tự tin nói rằng: “Viên Thiệu đất rộng lương nhiều, chẳng qua là đều tích trữ hộ ta mà thôi”.
Khi đó có người từng trải qua dưới trướng Viên Thiệu, Lưu Biểu và Tào Tháo, đã nhận xét rằng: Viên Thiệu không biết dùng người; Lưu Biểu thì có người mà không biết dùng thế nào; còn Tào Tháo thì thu nạp hào kiệt trong thiên hạ để dùng cho mình, vì thế tung hoành thiên hạ. Viên Thiệu tuy binh nhiều, nhưng “có người hiền mà không dùng, nên kỳ sĩ bỏ đi; Lưu Biểu ung dung giữ đất Kinh Sở, chỉ ngồi nhìn thời cuộc biến đổi, người tài tránh loạn đến Kinh Châu đều là nhân vật kiệt xuất trong thiên hạ, nhưng Lưu Biểu không biết bổ nhiệm, nên khi quốc gia nguy cấp thì không có người phò tá. Đến khi Tào Tháo bình định Ký Châu, vừa đặt chân xuống xe đã lập tức chỉnh đốn giáp binh, thu dụng hào kiệt mà dùng, nhờ đó tung hoành thiên hạ. Sau khi bình định vùng Giang, Hán, ông tiến cử và sắp xếp những người tài vào các chức vị, khiến lòng người trong thiên hạ quy phục, nghe danh mà mong được sắp đặt; văn võ đều được dùng, anh hùng đều dốc sức — đó chính là cách làm của bậc vương giả thời xưa”. (Trích Tam Quốc Chí – Ngụy thư – Vương Xán truyện)
Tào Tháo có tấm lòng rộng lớn, khí độ phi thường. Ông cho rằng Lưu Bị là bậc anh hùng, ông từng nói: “Anh hùng trong thiên hạ, chỉ có sứ quân và ta mà thôi”. Vì thế ông rất kính trọng Lưu Bị, “ra ngoài thì cùng xe, ngồi thì cùng chiếu”. Các mưu sĩ của Tào Tháo như Trình Dục, Quách Gia nhiều lần khuyên nên nhân cơ hội giết Lưu Bị, nhưng Tào Tháo chỉ nói một câu: “Hiện nay là lúc thu phục anh hùng, giết một người mà mất lòng thiên hạ thì không nên”. (Trích Tam Quốc Chí – Vũ Đế kỷ)
Năm Kiến An thứ ba, khi Tào Tháo ở Diễn Châu đã bổ dụng Tất Thầm. Sau này Trương Mạo phản bội, bắt cóc mẹ, em trai và vợ của Tất Thầm đi. Tào Tháo nói với ông ta rằng: “Mẹ già của ngươi ở bên đó, ngươi có thể rời đi”. Tất Thầm lập tức dập đầu, thề rằng bản thân tuyệt đối không rời bỏ, Tào Tháo cảm động đến mức rơi lệ. “Thầm dập đầu khẳng định không có hai lòng, Tào Công khen ngợi mà rơi lệ vì ông ta”. Thế nhưng, Tất Thầm sau đó vẫn lặng lẽ rời đi. Đến khi dẹp tan Trương Mạo, Tất Thầm bị bắt, mọi người đều lo lắng cho tính mạng của ông. Tào Tháo lại nói: “Người có thể hiếu thảo với người thân, lẽ nào lại không trung thành với quân chủ?”. Ông không những không giết Tất Thầm, mà còn bổ nhiệm ông làm Lỗ tướng.
Ngụy Chủng vốn là người được Tào Tháo tiến cử chức Hiếu liêm. Khi Trương Mạo đánh chiếm Diễn Châu, Tào Tháo từng nói: “Ngụy Chủng sẽ không bỏ ta”. Chẳng ngờ Ngụy Chủng lại đầu hàng. Đến lúc đánh bại Trương Mạo và bắt sống Ngụy Chủng, Tào Tháo cũng không giết mà nói rằng: “Chính là vì cái tài của ông ta vậy”, rồi “cởi trói và trọng dụng”. Dương Phụ vì thế đã khen ngợi Tào Tháo là người “có thể dùng được cả những kẻ nằm ngoài dự tính”. (Tam Quốc Chí • Dương Phụ Truyện)
Dương Phụ, người giữ chức Tòng sự ở Lương Châu, vâng lệnh Lương Châu mục Vi Đoan đi sứ đến Hứa Đô đúng lúc Tào Tháo và Viên Thiệu đang đối đầu. Sau khi trở về Lương Châu, Dương Phụ đã thưa với các tướng vùng Quan Hữu rằng Tào Tháo là bậc hùng tài viễn lược, có thể làm nên đại nghiệp. Nhờ đó, các tướng Quan Hữu giữ thái độ trung lập trong cuộc tranh đấu giữa Tào và Viên. Tào Tháo bèn sai Vệ Ký đi trấn an Quan Trung.
Tháng tám năm Kiến An thứ tư (năm 199), Tào Tháo tiến quân đến Lê Dương, sai Thái thú Đông Quận là Lưu Diên đóng quân tại Bạch Mã để chuẩn bị kháng cự quân Viên. Tháng chín, ông chia quân trấn thủ Quan Độ. Viên Thiệu phái sứ giả đến Nhương Thành thuyết phục Trương Tú hiệp lực đánh kẹp Tào Tháo. Mưu sĩ của Trương Tú là Giả Hủ cho rằng anh em nhà Viên Thiệu còn chẳng dung nổi nhau thì sao có thể dung nạp quốc sĩ, nên đã tuyệt giao với họ. Giả Hủ khuyên Trương Tú nên quy thuận Tào Tháo, nhưng Tú còn do dự vì mối thù giết con (Tào Ngang). Giả Hủ nhận định Tào Tháo có chí bá vương, tất sẽ gạt bỏ oán riêng mà tỏa sáng đức độ ra khắp bốn phương. Tháng mười một, Trương Tú dẫn dân chúng đầu hàng Tào Tháo. Tào Tháo cầm tay đón tiếp, mở tiệc vui vẻ, lại còn kết thông gia bằng cách cho con trai mình là Tào Quân lấy con gái của Tú, thăng cho Tú làm Dương Vũ tướng quân, phong làm Liệt hầu.
Tháng giêng năm Kiến An thứ năm (năm 200), Xa kỵ tướng quân Đổng Thừa cùng Lưu Bị mưu sát Tào Tháo. Sự việc bại lộ, Đổng Thừa bị giết. Lưu Bị trước đó đã rời Hứa Đô, sau lại giết Thứ sử Từ Châu là Xa Trụ để liên kết với Viên Thiệu chống Tào. Tào Tháo bất ngờ tung kỳ binh tấn công phía Đông vào Từ Châu, đánh bại Lưu Bị. Lưu Bị phải bỏ chạy đi xa sang đầu quân cho Viên Thiệu. Tào Tháo tiếp tục đánh chiếm Hạ Bì, Quan Vũ đầu hàng, Tào Tháo đối đãi với Quan Vũ cực kỳ hậu hĩnh. Sau đó, Tào Tháo rút quân về lại Quan Độ.
Tào Tháo đánh bại Viên Thiệu tại Quan Độ, tranh minh họa từ bản in Kinh điển Tam Quốc Chí đầu thời nhà Thanh (bản lưu giữ tại Đại Khôi Đường). (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
Tháng hai, Viên Thiệu ban bố hịch thảo phạt Tào Tháo, sai Nhan Lương bao vây Bạch Mã, tự mình dẫn đại quân đến Lê Dương. Tháng tư, Tào Tháo dùng kế “phân tán lực lượng địch” của mưu sĩ Tuân Úc, kéo quân đến Diên Tân, giả vờ vượt sông tấn công vào hậu phương quân Viên. Viên Thiệu quả nhiên trúng kế, chia quân sang Diên Tân. Tào Tháo bèn dẫn khinh kỵ binh đột kích Bạch Mã khiến Nhan Lương không kịp trở tay. Trương Liêu và Quan Vũ dẫn quân tiên phong tiến đánh, Nhan Lương bị Quan Vũ chém chết. Tào Tháo vung quân xông trận, quân Viên đại bại tan tác, vòng vây Bạch Mã được giải tỏa. Tào Tháo đưa dân di dời dọc theo bờ Tây dòng sông để rút lui, Viên Thiệu dẫn quân qua sông truy kích. Đến phía Nam Diên Tân, Tào Tháo lệnh cho kỵ binh tháo yên thả ngựa, vứt bỏ quân nhu lương thảo. Văn Xú cùng Lưu Bị dẫn năm nghìn kỵ binh đuổi đến nơi, quân Viên lo tranh cướp quân nhu khiến đội hình hỗn loạn. Tào Tháo chỉ với hơn năm trăm kỵ binh đã thừa cơ đột kích, Văn Xú tử trận trong đám loạn quân. Nhuệ khí quân Viên giảm sút nghiêm trọng, Tào Tháo rút quân về Quan Độ, còn Viên Thiệu tiến quân đến Dương Vũ.
Quan Vũ nhờ lập công lớn nên được phong làm Hán Thọ Đình Hầu. Khi nghe tin Lưu Bị đang ở chỗ Viên Thiệu, Vũ liền viết thư cáo từ Tào Tháo. Những người thân cận xin đuổi theo bắt lại, nhưng Tào Tháo nói: “Người ta ai cũng vì chủ của mình, đừng đuổi theo làm gì”. Tào Tháo với lòng khoan dung độ lượng, để thành toàn cho chữ “Nghĩa” của ba anh em kết nghĩa Lưu – Quan – Trường, đã “nghĩa hiệp” thả Quan Vũ, để ông vượt nghìn dặm một ngựa về lại với Lưu Bị bên phe quân Viên. Trong điển tích đó, những hành động của Quan Vũ như treo ấn gói vàng (trọng nghĩa khinh lợi), cầm đuốc đứng chờ đến sáng (trọng nghĩa khinh sắc), vượt năm ải chém sáu tướng, đã trở thành giai thoại ngàn năm, được hậu thế truyền tụng mãi không thôi. Nếu không có cái “Nghĩa” lớn lao của Tào Tháo đi trước, thì ba anh em Lưu – Quan – Trương sao có thể diễn giải một cách trọn vẹn chữ “Nghĩa” trong kết nghĩa anh hùng vốn được người đời sau ca ngợi đến vậy?
Tháng tám, quân chủ lực của Viên Thiệu áp sát Quan Độ, lập liên doanh kéo dài hàng chục dặm, quân Tào cũng lập trại giằng co. Quân Viên đắp gò đất cao rồi bắn tên vào doanh trại quân Tào, quân Tào bèn chế ra xe Phích Lịch bắn đá để đánh trả. Quân Viên đào địa đạo tấn công, quân Tào lại đào hào sâu trong trại để chống lại. Hai bên cầm cự, Tào Tháo quân ít lương thiếu, tình thế ngày càng gian nan. Tào Tháo viết thư cho Tuân Úc, định lui về giữ Hứa Đô. Tuân Úc viết thư trả lời rằng: “Công dĩ thập phân cư nhất chi chúng, họa đích nhi thủ chi, ách kì hầu nhi bất đắc tiến, dĩ bán niên hĩ. Tình kiến thế kiệt, tất tương hữu biến, thử dụng kì chi thì, bất khả thất dã”. (Tam Quốc Chí • Ngụy Thư • Tuân Úc Truyện) Tạm dịch: Nay Ngài lấy số quân bằng một phần mười địch để vạch đất mà giữ, khóa chặt cổ họng chúng khiến chúng không thể tiến lên được đã nửa năm rồi. Khi địch đã lộ rõ mệt mỏi, thế cùng lực kiệt, tất sẽ có biến cố xảy ra, đây chính là lúc dùng kỳ binh, không thể bỏ lỡ. Tào Tháo tiếp thu kiến nghị của Tuân Úc, quyết định kiên trì giữ vững chờ thời cơ.
Trước đó, Tôn Sách với sức mạnh không gì cản nổi, tiêu diệt các anh hùng hào kiệt, bước đầu bình định Giang Đông. Khi Tào Tháo và Viên Thiệu đang cầm cự tại Quan Độ, Tôn Sách dự định dấy binh đánh úp Hứa Đô. Nghe tin này, lòng quân Tào dao động, nhưng Quách Gia vẫn bình tĩnh ung dung, quyết đoán cho rằng Tôn Sách tất sẽ chết dưới tay thích khách. Sau đó, Tôn Sách quả nhiên bị các môn khách của Hứa Cống ám sát để báo thù cho chủ, trúng tên rồi qua đời vài ngày sau đó, Hứa Đô nhờ vậy mà thoát khỏi hiểm nguy.
Tháng mười, Viên Thiệu lệnh cho đại tướng Thuần Vu Quỳnh dẫn vạn quân áp tải lượng lớn lương thảo, tích trữ tại Ô Sào, cách đại doanh quân Viên 40 dặm về phía Bắc. Mưu sĩ Thư Thụ khuyên Viên Thiệu nên tăng cường binh lực phòng thủ cho Ô Sào, một mưu sĩ khác là Hứa Du lại khuyên Thiệu nên thừa cơ hậu phương quân Tào trống trải mà đánh thẳng vào Hứa Đô, nhưng Thiệu đều không nghe theo. Hứa Du bèn sang hàng Tào, Tào Tháo “đi chân trần ra đón, từ xa vừa trông thấy Hứa Du đã vỗ tay cười lớn”. Tào Tháo dùng kế của Hứa Du, tự mình dẫn 5.000 tinh binh đêm tối tập kích Ô Sào, bốn mặt phóng hỏa. Viên Thiệu bỏ qua kế sách dùng trọng binh cứu Ô Sào của Trương Cáp, chỉ phái khinh kỵ binh đi cứu Thuần Vu Quỳnh, rồi lệnh cho Trương Cáp, Cao Lãm dẫn trọng binh tấn công mãnh liệt vào doanh trại Tào, nhưng trại Tào kiên cố không hạ được. Tào Tháo khích lệ tướng sĩ liều chết chiến đấu, đánh tan quân Viên tại Ô Sào, giết Thuần Vu Quỳnh và thiêu rụi toàn bộ lương thảo. Nghe tin Ô Sào thất thủ, quân Viên tức khắc mất sạch ý chí chiến đấu, Trương Cáp và Cao Lãm dẫn bộ hạ đầu hàng Tào Tháo. Đại quân của Thiệu tan rã, Viên Thiệu và Viên Đàm chỉ dẫn theo 800 quân vượt sông trốn về Hà Bắc, 7 vạn quân Viên bị tiêu diệt hoàn toàn. Nhiều quận huyện ở Ký Châu đồng loạt mở cửa thành đầu hàng Tào. Trận Quan Độ giữa Viên và Tào đã đi vào sử sách như một chiến dịch kinh điển về lấy yếu thắng mạnh.
Trong lúc tình thế của Tào Tháo đang căng thẳng, không ít thuộc hạ dưới trướng ông đã bí mật thương thảo với Viên Thiệu. Sau khi Tào Tháo đánh bại Viên Thiệu, toàn bộ thư từ qua lại đều bị thu được. Tào Tháo nói: “Khi thế lực của họ Viên còn mạnh, ngay cả ta còn không tự bảo vệ nổi mình, huống hồ là người khác!”, rồi lệnh cho đem tất cả đi đốt sạch. Tào Tháo hạ lệnh thiêu rụi những bức thư đó, không truy cứu chuyện cũ, lấy đại “Nghĩa” quốc gia làm trọng. Cái đại “Nghĩa” này vượt xa sự đo lường của những ân oán cá nhân, càng khiến mọi người tâm phục khẩu phục.
Thời vua Hoàn Đế, có sao Hoàng Tinh xuất hiện ở ranh giới hai nước Sở và Tống. Ân Khuê người Liêu Đông vốn giỏi xem thiên văn, đã nói rằng 50 năm sau sẽ có chân nhân trỗi dậy ở vùng giữa Lương và Bái, khí thế mạnh mẽ không gì ngăn cản nổi (Tam Quốc Chí – Ngụy Thư nhất). Việc Tào Tháo đánh bại Viên Thiệu, thiên hạ không ai địch nổi, chính là ứng nghiệm với hiện tượng thiên văn đó.
Tháng chín, Tào Tháo rút quân về Hứa Đô. Trước khi Viên Thiệu thất bại, ông ta đã sai Lưu Bị đi đánh chiếm Nhữ Nam. Tào Tháo phái Thái Dương tấn công nhưng không thuận lợi, bị Cung Đô đánh bại. Tào Tháo bèn thân chinh Nam tiến đánh Lưu Bị. Lưu Bị nghe tin Tào Tháo đích thân dẫn quân tới thì bỏ chạy sang đầu quân cho Lưu Biểu, đám người Cung Đô cũng tan rã. Lưu Biểu nghe tin Lưu Bị đến, tự mình ra tận ngoại ô chào đón, tiếp đãi theo lễ thượng khách, cấp thêm binh mã và cho đóng quân tại Tân Dã.
Tháng giêng mùa xuân năm Kiến An thứ bảy (năm 202), Tào Tháo dẫn quân đến Tiếu Huyện. Thấy dân chúng khổ cực, đồng bào thương vong, ruộng đồng hoang phế, trăm nghề đình trệ, ông bèn ban lệnh rằng: “Ta dấy nghĩa binh là vì thiên hạ mà dẹp trừ bạo loạn. Nay người dân trên đất cũ đã chết gần hết, đi suốt ngày trong vùng mà chẳng thấy ai quen biết, khiến ta đau xót khôn nguôi. Từ khi dấy nghĩa binh đến nay, những tướng sĩ nào hy sinh mà không có người thừa tự, hãy tìm thân thích của họ để lập người nối dõi, ban cho ruộng đất, quan phủ cấp trâu cày, và bố trí thầy giáo để dạy dỗ. Lại lập miếu cho người còn sống để thờ phụng tổ tiên họ. Nếu linh hồn họ có linh thiêng, thì dù trăm năm sau ta có qua đời cũng chẳng còn gì hối tiếc!”
Tào Tháo sau đó đến Tuấn Nghi, khai đào kênh Tuy Dương. Nhớ lại chuyện cũ năm xưa khi Kiều Huyền có huệ nhãn nhận ra bậc anh hùng, ông bèn sai sứ giả dùng lễ Thái lao (lễ vật cao quý gồm bò, cừu, lợn) để tế Kiều Huyền. Bài văn tế của Tào Tháo viết rằng: “Cố thái úy kiều công, đản phu minh đức, phiếm ái bác dung. Quốc niệm minh huấn, sĩ tư lệnh mô. Linh u thể ế, mạc tai hi hĩ! Ngô dĩ ấu niên, đãi thăng đường thất, đặc dĩ ngoan bỉ chi tư, vi đại quân tử sở nạp. Tăng vinh ích quan, giai do tưởng trợ, do trọng ni xưng bất như nhan uyên, lí sinh chi hậu thán cổ phục. Sĩ tử tri kỷ, hoài thử vô vong. Hựu thừa tòng dung ước thệ chi ngôn: ‘Tồ thệ chi hậu, lộ hữu kinh do, bất dĩ đấu tửu chích kê quá tương ốc lỗi, xa quá tam bộ, phúc thống vật quái!’ Tuy lâm thì hí tiếu chi ngôn, phi chí thân chi đốc hảo, hồ khẳng vi thử từ hồ? Phỉ vị linh phẫn, năng di kỷ tật, hoài cựu duy cố, niệm chi thê sảng. Phụng mệnh đông chinh, truân thứ hương lí, bắc vọng quý thổ, nãi tâm lăng mộ. Tài trí bạc điện, công kì thượng hưởng!”
Đại ý là: “Thái úy Kiều công, phẩm hạnh cao khiết, lòng yêu bao la, độ lượng rộng mở. Đất nước nhớ mãi những lời răn dạy, kẻ sĩ khắc ghi những lời giáo huấn của Ngài. Linh hồn Ngài dường như vẫn còn đâu đây. Thuở còn trẻ, tôi đến phủ Ngài, lúc ấy còn niên thiếu bướng bỉnh, lại được Ngài tiếp nhận. Những lời khen ngợi, tán dương của Ngài khi đó chẳng khác nào Khổng Tử tự nhận không bằng Nhan Uyên, hay như Lý Sinh khen ngợi Giả Phục. Kẻ sĩ chết vì người tri kỷ, tôi luôn ghi nhớ lời này. Lại nhớ đến lời ước hẹn của chúng ta: ‘Sau khi ta chết, nếu ngươi đi qua đây mà không dâng một bầu rượu, một con gà để tế ta, thì khi xe ngựa đi quá ba bước, ngươi sẽ bị đau bụng, lúc đó chớ có oán trách ta.’ Tuy đó chỉ là lời nói đùa khi ấy, nhưng nếu quan hệ không mật thiết thì sao có thể nói những lời như vậy? Chẳng phải tôi sợ linh hồn Ngài nổi giận làm tôi sinh bệnh, mà thực sự là vì hoài niệm chuyện cũ, cảm thấy vô cùng bi thương. Nay vâng mệnh đông chinh, đóng quân nơi quê nhà, nhìn về phía bắc hướng về đất cũ, lòng đau xót trước lăng mộ của Ngài. Xin dâng chút lễ mọn tế lễ, mong Ngài thụ hưởng!” Bài văn tế này tình cảm chân thành, tha thiết, trong cái hài hước lại càng thấy rõ nghĩa khí, thực sự là một danh tác lớn khác của Tào Tháo.
(Còn tiếp)
Dịch từ:

