Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật Thiên cổ anh hùng của văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm
[ChanhKien.org]
Ngụy Vũ Đại Đế Tào Tháo. (Ảnh: The Epoch Times chế tác)
Phần IV: Nét bút xuất thần
Tào Tháo ngoài thì đạt thành tựu về quân sự, trong lại tu sửa văn học; cầm quân hơn 30 năm, sách chẳng rời tay. Ngày thì giảng bàn võ lược, đêm lại suy ngẫm kinh truyện. Mỗi khi lên chỗ núi cao tất sẽ làm phú, hay lúc cầm ngang ngọn giáo cũng có thể làm thơ (hoành sóc phú thi); khi phổ vào nhạc đều trở thành những chương nhạc tuyệt diệu. Thơ văn của Tào Tháo cũng thất lạc nhiều, nay chỉ còn sót lại 18 bài Nhạc phủ, tổng cộng 26 thủ.
Lưu Hy Tái thời nhà Thanh nhận xét: “Thơ của Tào công, khí thế hùng hồn, nội lực kiên định, đủ sức bao trùm tất thảy.”
Phương Đông Thụ cũng nói: “Đại ước Vũ Đế thi trầm úc trực phác, khí trực nhi trục tằng đốn đoạn, bất nhất thuận bình phóng, thì thì đề bút hoán khí hoán thế; tầm kỳ ý tự, vô bất minh bạch; ngoạn kỳ bút thế văn pháp, ngưng trọng khuất bàn, độc chi lệnh nhân ý mãn.”
Tạm dịch là: Đại để thơ Ngụy Vũ Đế có phong vị u sầu, chân phương, khí chất trực diện mà tầng tầng lớp lớp ngắt nghỉ linh hoạt, không trôi chảy bằng phẳng một bề, lúc nào cũng nâng bút lấy hơi đổi thế; tìm kiếm ý tứ bên trong thì không gì là không minh bạch; thưởng ngoạn bút thế văn pháp thì thấy sự ngưng trọng, uốn lượn khúc khuỷu, khiến người đọc cảm thấy ý niệm tràn đầy. (Chiêu Muội Chiêm Ngôn, quyển 2).
Thơ văn của Tào Tháo có rất nhiều câu đã trở thành danh ngôn ngàn thu: “Thiên địa gian, nhân vi quý” (Trong trời đất, con người là quý nhất), “Đối tửu đương ca, nhân sinh kỷ hà?” (Đối diện với rượu hãy ca hát, đời người được bao lâu?), “Hà dĩ giải ưu? Duy hữu Đỗ Khang” (Làm sao giải sầu? Chỉ có rượu Đỗ Khang), “Sơn bất yếm cao, hải bất yếm thâm” (Núi không chê cao, biển không chê sâu), “Lão ký phục lịch, chí tại thiên lý; liệt sĩ mộ niên, tráng tâm bất dĩ” (Ngựa già nằm trong chuồng nhưng chí ở ngàn dặm; người chí sĩ lúc về già, lòng hăng hái vẫn không thôi), và còn nhiều câu khác nữa.
Vào thời đại của thơ ngũ ngôn, Tào Tháo vẫn viết thơ tứ ngôn và đưa chúng trở thành những khúc tuyệt xướng, trở thành người khai sáng phong cách văn học Kiến An. Phong cách thơ của ông đã ảnh hưởng sâu sắc đến đương thời và hậu thế. Người đời sau gọi đó là “Kiến An phong cốt” (Nghiêm Vũ thời Nam Tống), “Bồng Lai văn chương Kiến An cốt” (Lý Bạch), hay “Hán Ngụy phong cốt” (Trần Tử Ngang thời Đường). Thơ ngũ ngôn của Tào Tháo đa phần là những câu từ thâm trầm hùng tráng, khảng khái cổ phác mà bi lương, như các bài Hao Lý, Giải Lộ… được xưng tụng là “Đệ nhất cao thủ”, “Lão khí vô địch”, thể hiện khía cạnh truyền cảm nhất của thi ca Kiến An và dẫn dắt ca từ Nhạc phủ bước sang một con đường mới. Tào Tháo được tôn vinh là “Đệ nhất cao nhân” của thơ ngũ ngôn, “Bậc tổ sư hàng đầu của thi nhân ngàn đời”, với “Phong cách cổ phác, mở ra tiền đề cho thơ ngũ ngôn đời Đường”.
Tào Tháo đã tận dụng thi từ để ghi lại những thể ngộ và cảnh giới nhìn thấy trong quá trình tu luyện, mở ra một phong cách mới cho thời đại. Ông đã sáng tạo nên nhiều bài thơ mà Tào Thực cũng như người đời sau thời Lục Triều gọi là “Du tiên thi” (thơ du ngoạn cõi Tiên), khiến thể loại này trở thành một đóa hoa kỳ lạ trong nền văn hóa Thần truyền của Trung Hoa. Loại thơ này đa phần là những bài ca tụng Tiên nhân, ca ngợi sự thăng hoa của tu luyện, và thường do các bậc tu Đạo viết nên. Thơ du tiên của Tào Tháo và Lý Bạch chính là những tác phẩm xuất sắc nhất trong số đó. Trong hơn 20 bài thơ hiện còn lưu giữ được của Tào Tháo, có tới bảy bài thuộc thể loại du Tiên: Khí Xuất Xướng (ba bài), Tinh Liệt (một bài), Mạch Thượng Tang (một bài), Thu Hồ Hành (hai bài); các bài này ghi chép lại việc thi nhân bước lên tiên cảnh, cùng Thần Tiên dạo chơi cũng như việc tu Đạo dưỡng sinh.
Thơ du tiên giúp khơi gợi lòng kính Thần tin Phật, hướng Đạo thành Tiên, phản bổn quy chân của thế nhân. Tuy nhiên, nhiều người hiện đại do chịu ảnh hưởng của thuyết vô thần, nên cho rằng thơ du tiên chỉ là cảnh giới hư ảo mông lung do thi nhân tưởng tượng ra, thậm chí chỉ coi đó là một thủ pháp lãng mạn trong sáng tác, mà không thể thực sự thấu hiểu được giá trị cốt lõi của loại thơ này.
Tào Tháo ứng với điềm lành sao vàng (Hoàng tinh), thuận mệnh mà sinh, là bậc chân nhân hạ thế, tu Đạo, dưỡng thân. Thơ du tiên của ông ghi chép rõ ràng quá trình tu luyện, thể hội và những thành tựu đạt được, đem phong phạm của bậc Tiên gia để lại cho hậu thế. Thơ du tiên của Tào Tháo có khí thế khoáng đạt, ngôn ngữ mộc mạc, trôi chảy, nội hàm phong phú, khi đọc lên âm tiết sang sảng, rất thuận miệng.
“Khí xuất xướng (Kỳ 1)”:
Giá lục long, thừa phong nhi hành.
Hành tứ hải, lộ hạ chi bát bang.
Lịch đăng cao sơn lâm khê cốc, thừa vân nhi hành.
Hành tứ hải ngoại, đông đáo Thái sơn.
Tiên nhân ngọc nữ, hạ lai cao du.
Tham giá lục long ẩm ngọc tương.
Hà thủy tận, bất đông lưu.
Giải sầu phúc, ẩm ngọc tương.
Phụng trì hành, đông đáo Bồng Lai sơn, thượng chí thiên chi môn.
Ngọc khuyết hạ, dẫn kiến đắc nhập,
Xích Tùng tương đối, tứ diện cố vọng, thị chính hỗn hoàng.
Khai ngọc tâm chính hưng, kỳ khí bách đạo chí.
Truyền cáo vô cùng bế kỳ khẩu, đãn đương ái khí thọ vạn niên.
Đông đáo hải, dữ thiên liên.
Thần Tiên chi đạo, xuất yểu nhập minh, thường đương chuyên chi.
Tâm điềm đạm, vô sở khái dục.
Dục bế môn tọa tự thủ, thiên dữ kỳ khí.
Nguyện đắc Thần chi nhân, thừa giá vân xa,
Tham giá bạch lộc, thượng đáo thiên chi môn, lai tứ thần chi dược.
Quỵ thụ chi, kính Thần tề.
Đương như thử, đạo tự lai.
Tạm dịch nghĩa:
Cưỡi lục long, lướt gió mà đi.
Đi khắp bốn bể, ngang qua tám bang
Vượt núi cao vực sâu, cưỡi mây đi.
Dạo chơi bốn bể, đến núi Thái Sơn phía Đông.
Tiên nhân ngọc nữ, giáng hạ ngao du.
Cưỡi lục long, uống ngọc tương.
Nước sông cạn, chẳng xuôi về Đông.
Trút lòng sầu muộn, uống ngọc tương.
Xin được tiếp tục đi, đến núi Bồng Lai phía Đông, thẳng lên cổng Thiên cung.
Cung ngọc đó, dẫn người vào tương kiến.
Cùng Xích Tùng, trông vợi bốn phương, rực rỡ huy hoàng.
Tâm ngọc rộng mở, trăm khí đều thông.
Truyền bảo muôn phần an tĩnh, nhưng lúc ấy ái khí thọ vạn năm.
Đông đến tận biển, nối liền chân trời.
Đạo Thần Tiên, ra vào nơi huyền ảo, cần chuyên tâm bền lòng.
Tâm điềm tĩnh, không khởi dục vọng.
Đóng cửa ngồi yên giữ mình, trời ban cho khí lành.
Nguyện thành Thần Tiên, cưỡi mây bay xa.
Cưỡi bạch lộc đến cổng Trời, được ban Thần dược.
Quỳ gối nhận lễ, kính bậc Thần Tiên.
Được như thế, Đạo sẽ tự đến.
“Khí xuất xướng (Kỳ 2)”:
Hoa âm sơn, tự dĩ vi đại.
Cao bách trượng, phù vân vi chi cái.
Tiên nhân dục lai, xuất tùy phong, liệt chi vũ.
Xuy ngã động tiêu, cổ sắt cầm, hà ngân diêm ngân!
Tửu dữ ca hý, kim nhật tương nhạc thành vi nhạc.
Ngọc nữ khởi, khởi vũ di sổ thời.
Cổ xuy nhất hà tào tào.
Tòng tây bắc lai thời, Tiên đạo đa giá yên,
Thừa vân giá long, uất hà vụ vụ.
Ngao du bát cực, nãi đáo Côn Luân chi sơn,
Tây Vương Mẫu trắc, Thần Tiên kim chỉ ngọc đình.
Lai giả vi thùy? Xích tùng vương kiều, nãi đức toàn chi môn.
Nhạc cộng ẩm thực đáo hoàng hôn.
Đa giá hợp tọa, vạn tuế trưởng, nghi tử tôn.
Tạm dịch nghĩa:
Núi Hoa Âm, cao lớn trường tồn.
Cao trăm trượng, mây giăng phủ kín.
Tiên nhân muốn đến, thuận gió tùy mưa.
Thổi sáo, tiêu, đánh đàn cầm đàn sắt, réo rắt thay!
Uống rượu cùng ca hát, hôm nay tụ họp thật là vui.
Ngọc nữ đứng lên, nhảy múa chẳng để ý thời gian.
Tiếng trống huyên náo.
Từ Tây Bắc đến, nhiều vị Đạo Tiên cưỡi khói mờ ảo.
Người cưỡi mây, người ngự long, rực rỡ đông đúc.
Ngao du Bát Cực, hướng đến núi Côn Luân.
Bên cạnh Tây Vương Mẫu, Thần Tiên dừng bước nơi ngọc đình.
Người đến là vì ai? Xích Tùng với Vương Kiều, bước vào cửa công đức viên mãn.
Cùng nhau tiệc tùng đến hoàng hôn.
Ngồi với nhau, thọ đến muôn tuổi, con cháu thụ ích.
“Khí xuất xướng (Kỳ 3)”:
Du Quân Sơn, thậm vi chân.
Thôi ngôi tạc các, nhĩ tự vi Thần.
Nãi đáo Vương Mẫu đài, kim giai ngọc vi đường, chi thảo sinh điện bàng.
Đông tây sương, khách mãn đường.
Chủ nhân đương hành trường, tọa giả trường thọ cự hà ương.
Trưởng nhạc phủ thủy nghi tôn tử.
Thường nguyện chủ nhân tăng niên, dữ thiên tương thủ.
Tạm dịch nghĩa:
Ngao du Quân Sơn, quá chân thật.
Đỉnh núi cao ngất, cảm giác như Thần.
Đến đài Vương Mẫu, vàng kim ngọc quý họa khắc, linh chi mọc đầy cạnh bên.
Nhà Đông nhà Tây, khách tấp nập.
Rót rượu kính Thần, cầu chúc được trường thọ.
Niềm vui lâu dài, nên để cho con cháu.
Mãi mong chủ nhân trường thọ, sánh cùng Trời.
Trong bài “Khí Xuất Xướng” (Kỳ 1), Tào Tháo thuật lại việc mình cưỡi xe sáu rồng, đạp mây mà đi, phía Đông đến núi Thái Sơn. Thái Sơn vốn là ngọn núi đứng đầu trong Ngũ Nhạc của Trung Quốc, được coi là nơi giao thoa giữa nhân gian và Thần thánh. Tại đây, các Tiên nhân và ngọc nữ đã hạ phàm để hội ngộ cùng ông. Tiếp tục đi về phía Đông đến núi Bồng Lai, đỉnh Bồng Lai thông tận trời xanh, lên tới tận cổng trời. Phía dưới cổng ngọc (Ngọc Khuyết), ông được dẫn vào, đối diện với Tiên nhân Xích Tùng Tử. Đứng từ đó nhìn ngắm bốn phương, đàm luận về Đạo Thần Tiên: “Mở tấm lòng ngọc (ngọc tâm) chính khí bừng lên, khí ấy từ trăm ngả tụ về.” Ông viết: “Đạo Thần Tiên, ra vào nơi thâm sâu huyền bí, phải luôn chuyên nhất. Tâm thái điềm đạm, không chút tham dục. Đóng cửa ngồi tự giữ mình, ắt được khí trời ban cho.” Qua đó thấy được Tào Tháo đã dốc lòng tu luyện.
Trong bài “Khí Xuất Xướng” (Kỳ 2), thi nhân ghi lại khung cảnh một đại hội Tiên nhân: trước tiên đến núi Hoa Âm, thổi tiêu, gảy đàn cầm đàn sắt, uống rượu hát ca; sau đó chu du khắp bát cực, đến núi Côn Lôn, hội kiến Tây Vương Mẫu, gặp gỡ Xích Tùng Tử và Vương Tử Kiều, “Cùng vui vẻ ăn uống đến tận hoàng hôn”. Xích Tùng Tử còn có tên là Xích Tụng Tử, hiệu là Tả Thánh Nam Cực Nam Nhạc Chân Nhân, Tả Tiên Thái Hư Chân Nhân; vốn là vị Vũ Sư (Thần Mưa) thời Thần Nông. Vương Kiều còn gọi là Vương Tử Kiều, tức Thái tử Tấn của Chu Linh Vương thời Đông Chu. Ông từng làm huyện lệnh Bách Nhân, sau đắc Đạo tại núi Tuyên Vụ phía Đông Bắc. Thời Hán Hoàn Đế, trong thành Bách Nhân vẫn còn bia minh (bài văn khắc trên bia đá) do người dân lập cho huyện lệnh Vương Kiều, trên khắc: “Núi có Quyền Mạo (Tuyên Vụ), là nơi Vương Kiều thành Tiên”. Điều này minh chứng việc Vương Tử Kiều đã cưỡi hạc bay về trời tại núi Tuyên Vụ.
Trong bài “Khí Xuất Xướng” (Kỳ 3), Tào Tháo ghi lại một cuộc hội ngộ khác giữa ông và các vị Thần Tiên tại núi Quân Sơn. Quân Sơn nằm giữa hồ Động Đình, vốn là nơi cư ngụ của hai vị phi tử của Vua Thuấn (Nga Hoàng và Nữ Anh). Trên núi Quân Sơn có đài Vương Mẫu, nơi đó “bậc thềm bằng vàng, điện đường bằng ngọc, cỏ linh chi mọc khắp bên điện”. Cảnh tượng hiện ra với “hai dãy hành lang Đông Tây, khách khứa ngồi đầy sảnh”; cuối bài thơ, thi nhân gửi lời chúc nguyện: “Mong chủ nhân tăng thêm tuổi thọ, cùng Trời đất trường tồn”.
“Thu Hồ Hành (Kỳ 1)”
Thần thượng tán quan sơn, thử đạo đương hà nan. Thần thượng tán quan sơn, thử đạo đương hà nan. Ngưu đốn bất khởi, xa đọa cốc gian. Tọa bàn thạch chi thượng, đạn ngũ huyền chi cầm. Tác vi thanh giác vận, ý trung mê phiền. Ca dĩ ngôn chí, thần thượng tán quan sơn.
Hữu hà tam lão công, tốt lai tại ngã bàng. Hữu hà tam lão công, tốt lai tại ngã bàng. Phụ yểm bị cừu, tự phi hằng nhân. Vị khanh vân hà khốn khổ dĩ tự oán, hoàng hoàng sở dục, lai đáo thử gian? Ca dĩ ngôn chí, hữu hà tam lão công.
Ngã cư côn lôn sơn, sở vị giả chân nhân. Ngã cư côn lôn sơn, sở vị giả chân nhân. Đạo thâm hữu khả đắc. Danh sơn lịch quan, yêu du bát cực, chẩm thạch sấu lưu ẩm tuyền. Trầm ngâm bất quyết, toại thượng thăng thiên. Ca dĩ ngôn chí, ngã cư côn lôn sơn.
Khứ khứ bất khả truy, trường hận tương khiên phàn. Khứ khứ bất khả truy, trường hận tương khiên phàn. Dạ dạ an đắc mị, trù trướng dĩ tự liên. Chính nhi bất quyệt, nãi phú y nhân. Kinh truyện sở quá, tây lai sở truyện. Ca dĩ ngôn chí, khứ khứ bất khả truy.
Tạm dịch nghĩa:
Sáng sớm leo lên núi Tản Quan, đường này sao mà gian nan thế. Sáng sớm leo lên núi Tản Quan, đường này sao mà gian nan thế. Trâu mệt quỵ xuống không dậy nổi, xe lăn rơi xuống giữa vực sâu. Ngồi trên tảng đá lớn, gảy cây đàn ngũ huyền. Tạo ra tiếng “Thanh Giác”, ý niệm bỗng mê loạn phiền muộn. Mượn lời ca để tỏ chí hướng, sáng sớm leo lên núi Tản Quan.
Có ba vị lão ông nào vậy, bỗng nhiên đến ở bên cạnh ta. Có ba vị lão ông nào vậy, bỗng nhiên đến ở bên cạnh ta. Vai khoác áo da thú, vẻ ngoài chẳng giống người thường. Các ông hỏi: “Khanh làm gì mà khốn khổ tự oán trách mình thế, Vội vàng muốn cầu điều chi, mà lại tìm đến chốn này?” Mượn lời ca để tỏ chí hướng, có ba vị lão ông.
“Ta cư ngụ ở núi Côn Lôn, chính là người mà đời gọi là Chân nhân. Ta cư ngụ ở núi Côn Lôn, chính là người mà đời gọi là Chân nhân. Đạo sâu thẳm nhưng có thể đắc được. Ta đi khắp danh sơn, chu du ngoài tám cõi, gối đầu lên đá, súc miệng bằng dòng nước, uống nước suối rừng.” Ta còn đang trầm ngâm chưa quyết, thì các vị ấy đã bay vút lên Trời. Mượn lời ca để tỏ chí hướng, ta cư ngụ ở núi Côn Lôn.
Người đã đi xa chẳng thể đuổi theo, mãi hận vì bị hồng trần níu kéo. Người đã đi xa chẳng thể đuổi theo, mãi hận vì bị hồng trần níu kéo. Đêm đêm sao ngủ cho yên giấc, buồn bã bùi ngùi tự xót thương. Giữ lòng ngay chính không dối gạt, bèn viết bài phú dựa theo nhân duyên này. Theo những gì kinh truyện đã ghi, từ phía Tây truyền lại. Mượn lời ca để tỏ chí hướng, người đã đi xa chẳng thể đuổi theo.
“Thu Hồ Hành (Kỳ 2)”
Nguyện đăng Thái Hoa sơn, thần nhân cộng viễn du. Nguyện đăng Thái Hoa sơn, thần nhân cộng viễn du. Kinh lịch Côn Lôn sơn, đáo Bồng Lai. Phiêu phiêu bát cực, dữ thần nhân câu. Tư đắc thần dược, vạn tuế vi kỳ. Ca dĩ ngôn chí, nguyện đăng Thái Hoa sơn.
Thiên địa hà trường cửu, nhân đạo cư chi đoản. Thiên địa hà trường cửu, nhân đạo cư chi đoản. Thế ngôn bá dương, thù bất tri lão. Xích Tùng Vương Kiều, diệc vân đắc đạo. Đắc chi vị văn, thứ dĩ thọ khảo. Ca dĩ ngôn chí, thiên địa hà trường cửu.
Minh minh nhật nguyệt quang, hà sở bất quang chiêu. Minh minh nhật nguyệt quang, hà sở bất quang chiêu. Nhị nghi hợp thánh hóa, quý giả độc nhân bất? Vạn quốc suất thổ, mạc phi vương thần. Nhân nghĩa vi danh, lễ nhạc vi vinh. Ca dĩ ngôn chí, minh minh nhật nguyệt quang.
Tứ thì canh thệ khứ, trú dạ dĩ thành tuế. Tứ thì canh thệ khứ, trú dạ dĩ thành tuế. Đại nhân tiên thiên nhi thiên phất vi, bất thích niên vãng, ưu thế bất trì. Tồn vong hữu mệnh, lự chi vi xi. Ca dĩ ngôn chí, tứ thì canh thệ khứ.
Thích thích dục hà niệm, hoan tiếu ý sở chi. Thích thích dục hà niệm, hoan tiếu ý sở chi. Tráng thịnh trí tuệ, thù bất tái lai. Ái thì tiến thú, tương dĩ huệ thùy? Phiếm phiếm phóng dật, diệc đồng hà vi! Ca dĩ ngôn chí, thích thích dục hà niệm.
Tạm dịch nghĩa:
Nguyện leo lên núi Thái Sơn, Hoa Sơn, cùng Thần nhân chu du phương xa. Nguyện leo lên núi Thái Sơn, Hoa Sơn, cùng Thần nhân chu du phương xa. Đi qua núi Côn Lôn, đến chốn Bồng Lai. Phiêu diêu khắp tám cõi, cùng sánh bước với Thần nhân. Mong sao tìm được thuốc thần, để hẹn ước vạn tuổi trường sinh. Mượn lời ca để tỏ chí hướng, nguyện leo lên núi Thái Sơn, Hoa Sơn.
Trời đất sao mà dài lâu thế, mà đạo người sống ở đó thật ngắn ngủi. Trời đất sao mà dài lâu thế, mà đạo người sống ở đó thật ngắn ngủi. Người đời nhắc tên Bá Dương (Lão Tử), mà chẳng biết ông lão ấy thực sự ra sao. Xích Tùng, Vương Kiều, cũng đều nói là đã đắc Đạo. Cách để đắc Đạo thì chưa được nghe, mong sao có được thọ khảo. Mượn lời ca để tỏ chí hướng, trời đất sao mà dài lâu thế.
Sáng rực thay ánh sáng của nhật nguyệt, nơi nào mà chẳng được soi rọi. Sáng rực thay ánh sáng của nhật nguyệt, nơi nào mà chẳng được soi rọi. Âm dương (nhị nghi) hòa hợp cùng sự giáo hóa của Thánh nhân, chẳng phải chỉ có con người là đáng quý nhất sao? Muôn nước khắp cõi đất này, không đâu không phải là thần dân của vương giả. Lấy nhân nghĩa làm danh, lấy lễ nhạc làm vinh. Mượn lời ca để tỏ chí hướng, sáng rực thay ánh sáng của nhật nguyệt.
Bốn mùa thay nhau trôi đi, ngày đêm nối tiếp thành năm tháng. Bốn mùa thay nhau trôi đi, ngày đêm nối tiếp thành năm tháng. Bậc đại nhân đi trước cả trời mà trời không làm trái, chẳng buồn vì năm tháng trôi qua, chỉ lo đời chẳng được thái bình. Sống chết vốn có mệnh, lo lắng quá mức chỉ là ngu muội mà thôi. Mượn lời ca để tỏ chí hướng, bốn mùa thay nhau trôi đi.
Cứ buồn rầu mãi thì định nghĩ ngợi điều chi, hãy để ý niệm hướng về nơi vui vẻ mỉm cười. Cứ buồn rầu mãi thì định nghĩ ngợi điều chi, hãy để ý niệm hướng về nơi vui vẻ mỉm cười. Thời sức vóc tráng kiện và trí tuệ mẫn tiệp, một đi sẽ không bao giờ trở lại. Nếu không biết yêu quý thời gian để tiến bước, thì lấy gì để ban ân huệ cho đời? Cứ buông thả bản thân một cách hời hợt, thì cũng có ích gì đâu! Mượn lời ca để tỏ chí hướng, cứ buồn rầu mãi thì định nghĩ ngợi điều chi.
Bài “Thu Hồ Hành” được sáng tác vào năm Kiến An thứ 20 (năm 215) khi Tào Tháo dẫn quân về phía Tây chinh phạt Trương Lỗ. Vào tháng Tư mùa hạ, ông đi từ Trần Thương, vượt qua cửa ải Tản Quan. Trong một buổi sớm mai leo lên núi Tản Quan, đường xá vô cùng hiểm trở, “Trâu mệt quỵ xuống không dậy nổi, xe lăn rơi xuống giữa vực sâu”. Thi nhân khi ấy “ngồi trên tảng đá lớn, gảy cây đàn ngũ huyền. Tạo ra tiếng Thanh Giác, ý niệm bỗng mê loạn phiền muộn”. Sách Lễ Ký – Nhạc Ký có chép: “Vua Thuấn làm ra đàn ngũ huyền (đàn 5 dây) để hát bài Nam Phong”. Điệu nhạc “Thanh Giác” tương truyền do Hoàng Đế sáng tác, không phải bậc đại đức thì không được phép tấu hay nghe. Chính vào lúc đó, ba vị Tiên ông từ núi Côn Lôn đã đến bên cạnh thi nhân và hỏi rằng: “Khanh làm gì mà khốn khổ tự oán trách mình thế, vội vàng muốn cầu điều chi mà lại tìm đến chốn này?”. Qua cuộc trò chuyện, thi nhân nhớ lại tiền kiếp của chính mình: “Ta vốn ngụ ở núi Côn Lôn, chính là bậc mà người đời gọi là Chân nhân. Đạo sâu thẳm nhưng có thể đắc được. Ta đã đi khắp danh sơn, chu du ngoài tám cõi, gối đầu lên đá, súc miệng bằng dòng nước, uống nước suối rừng.” Cuối cùng, Tào Tháo giải thích căn nguyên bài phú này, ghi chép lại những gì mình đã trải qua để truyền lại cho đời, đồng thời nhấn mạnh rằng đây là sự thật, không hề gian dối: “Giữ lòng ngay chính không dối gạt, từ chương bài phú đều có căn nguyên. Ghi lại những nơi kinh truyện đã đi qua, theo những gì từ phía Tây truyền lại”.
Trong bài “Thu Hồ Hành” (Kỳ 2), Tào Tháo đã phát nguyện leo lên núi Thái Sơn và Hoa Sơn để cùng các bậc Thần nhân chu du phương xa. Sau đó là hành trình “đi qua núi Côn Lôn, đến chốn Bồng Lai; phiêu diêu khắp tám cõi, sánh bước cùng Thần nhân”. Khi trở lại nhân gian, thi nhân bùi ngùi cảm thán: “Trời đất sao mà dài lâu thế! Mà đạo người sống ở đó thật ngắn ngủi”. Thế gian lưu truyền rằng những vị như Bá Dương (Lão Tử), Xích Tùng Tử, Vương Tử Kiều đều là những bậc đắc Đạo, Tào Tháo tuy rằng “cách đắc Đạo thì chưa được nghe, nhưng mong sao có được thọ khảo”. Thi nhân đều đã gặp họ nhưng lại không hỏi về bí quyết trường thọ của họ. Giữa nhân gian nhật nguyệt sáng ngời, nơi nào mà chẳng được soi rọi, “Muôn nước khắp cõi đất này, không đâu không phải là thần dân của vương giả; lấy nhân nghĩa làm danh, lấy lễ nhạc làm vinh”. Tào Tháo đang thực thi sứ mệnh chuyển sinh xuống nhân gian của chính mình, đồng thời báo cho người đương thời và hậu thế rằng: “Bậc đại nhân đi trước cả trời mà trời không làm trái, chẳng buồn vì năm tháng trôi qua, chỉ lo đời chẳng được trị bình; sống chết vốn có mệnh, lo lắng quá mức chỉ là ngu muội”. Nói cách khác, ý ông là: Thuận theo thiên mệnh mà hành sự thì Trời ắt sẽ giúp cho thành công; sống chết tồn vong đều đã có số mệnh, không cần phải lo âu hay trăn trở quá nhiều.
“Mạch thượng tang”
Giá hồng nghê, thừa xích vân, đăng bỉ Cửu Nghi lịch ngọc môn.
Tề thiên Hán, chí Côn Luân, kiến Tây Vương Mẫu yết Đông Quân.
Giao Xích Tùng, cập Tiễn Môn, thụ yếu bí đạo ái tinh thần.
Thực chi anh, ẩm lễ tuyền, trụ trượng quyết chi bội thu lan.
Tuyệt nhân sự, du hồn nguyên, nhược tật phong du huất phiêu phiên.
Cảnh vị di, hành số thiên, thọ như Nam Sơn bất vong khiên.
Tạm dịch nghĩa:
Cưỡi cầu vồng, đạp mây đỏ, lên đỉnh Cửu Nghi, nhập Thiên cung.
Qua Thiên Hán, đến Côn Luân, gặp Tây Vương Mẫu, yết kiến Đông Quân.
Làm bạn với Xích Tùng, Tiễn Môn, tiếp nhận bí đạo, dưỡng tinh thần.
Ăn linh chi, uống cam tuyền, chống gậy quế, treo thu lan.
Dứt mọi chuyện đời, ngao du khắp chốn, như gió lốc bay nhảy muôn nơi.
Cảnh chẳng đổi, băng ngàn dặm, thọ như Nam Sơn, không quên lỗi lầm.
Dịch thơ:
Cưỡi cầu vồng,
Đạp mây đỏ,
Lên đỉnh Cửu Nghi nhập Thiên cung.
Qua Thiên Hán,
Đến Côn Luân,
Gặp Tây Vương Mẫu cùng Đông Quân.
Bạn Xích Tùng,
Với Tu Môn,
Cầu đạo bí phương di dưỡng tinh thần.
Ăn linh chi,
Uống cam tuyền,
Cầm trượng quế và đeo hoa lan.
Dứt chuyện đời,
Du đất trời,
Như gió lốc (soát) bay nhảy muôn nơi.
Bóng chưa đổi,
Băng ngàn dặm,
Thọ như Nam Sơn, không quên lỗi lầm.
(Bản dịch của Cổ Mộ, thivien.net)
Trong bài ‘Mạch Thượng Tang’, Tào Tháo lại một lần nữa đến núi Côn Lôn, yết kiến Tây Vương Mẫu và Đông Quân, kết giao với Xích Tùng Tử, Tiễn Môn (còn gọi là Tiễn Môn Cao, một vị Tiên nhân mà năm xưa khi Tần Thủy Hoàng đến núi Kiệt Thạch đã từng phái người đi tìm kiếm). Tại đây, ông được truyền thụ ‘bí đạo’ (Đạo Pháp huyền bí), ăn hoa cỏ linh chi, uống suối rượu ngọt, cùng chư Tiên chu du khắp bầu trời bao la.
“Tinh liệt”
Quyết sơ sinh, tạo hoạch chi đào vật, mạc bất hữu chung kỳ.
Mạc bất hữu chung kỳ.
Thánh hiền bất năng miễn, hà vi hoài thử ưu?
Nguyện ly long chi giá, tư tưởng Côn Luân cư.
Tư tưởng Côn Luân cư.
Kiến kỳ ư vu quái, chí ý tại Bồng Lai.
Chí ý tại Bồng Lai.
Chu lễ thánh tồ lạc, Cối Kê dĩ phần khâu.
Cối Kê dĩ phần khâu.
Đào đào thùy năng độ? Quân tử dĩ phất ưu.
Niên chi mộ nại hà, thời quá thời lai vi.
Tạm dịch nghĩa:
Thuở ban đầu, tạo hóa sinh vạn sự vạn vật, đều có an bài vận mệnh.
Đều có an bài vận mệnh.
Thánh hiền cũng không thể miễn, làm sao có thể hoài nghi điều này?
Nguyện cưỡi ly long, lòng muốn đến sống ở Côn Luân.
Lòng muốn đến sống ở Côn Luân.
Gặp điều cổ quái, chí nguyện đến chốn Bồng Lai.
Chí nguyện đến chốn Bồng Lai.
Chu Lễ, Thánh nhân đã mất, Cối Kê là nơi có mộ phần.
Cối Kê là nơi có mộ phần.
Ai có thể vượt qua tháng năm dằng dặc, vạn thế trường tồn? Kẻ quân tử không sầu lo.
Cuối đời không biết làm sao đây, thời gian trôi qua, tháng ngày còn lại không nhiều.
Tào Tháo mượn thơ để bày tỏ chí hướng, luôn “Tư tưởng hướng về chốn ở Côn Lôn”, “Chí ý đặt tại chốn Bồng Lai”. Ông quan niệm rằng con người khi ở thế gian, bất kể là bậc Thánh nhân hay kẻ phàm trần, cuối cùng đều trở về với nấm mồ, do đó không cần phải ưu phiền về ngày kết thúc của đời người.
Lý Bạch vô cùng am tường về văn học Kiến An, đặc biệt là các bài thơ của Tào Tháo, nên đã dùng câu “Bồng Lai văn chương Kiến An cốt” để đánh giá. Cái gọi là “Văn chương Bồng Lai” chính là chỉ nội hàm Tiên Đạo phong phú chứa đựng bên trong, đó cũng chính là phong cách của văn học Kiến An.
Tào Tháo cùng các con là Tào Phi, Tào Thực đều là những thi nhân lừng lẫy trong lịch sử văn học Trung Quốc, sử gọi là “Tam Tào”. “Ngụy Vũ Đế tuy ở ngôi vị Tướng quốc, Ngụy Vương tôn quý nhưng vẫn hết mực yêu chuộng thi chương”. Ông đã quy tụ rất nhiều văn nhân học sĩ, trong đó nổi bật nhất là “Kiến An Thất tử”: “Khổng Dung (Văn Cử) người nước Lỗ, Trần Lâm (Khổng Chương) người Quảng Lăng, Vương Sán (Trọng Tuyên) người Sơn Dương, Từ Can (Vi Đằng) người Bắc Hải, Nguyễn Vũ (Nguyên Du) người Trần Lưu, Ứng Thảng (Đức Liên) người Nhữ Nam, và Lưu Trinh (Công Cán) người Đông Bình. Bảy vị này, về học vấn không gì là không thông suốt, về từ chương không gì là phải vay mượn của người khác” (Trích “Điển luận – Luận văn” của Tào Phi). Tào Thực chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Tào Tháo, từ chỗ hoài nghi Thần thánh đến lúc tin vào Thần linh, cũng đã sáng tác rất nhiều bài thơ phú về du tiên.
Trong bài “Bảo Đao Phú”, Tào Thực thuật lại việc Tào Tháo rèn bảo đao lập đàn tế Thần Thái Ất. Thời nhà Hán, Thái Ất là vị Thần tôn quý nhất của trời, Hán Vũ Đế tôn thờ Thái Ất là Thiên Đế. Tào Tháo đã cầu nguyện Tôn thần Thái Ất, trong giấc mộng đã thông linh với Thần linh mà chế tạo nên bảo đao.
“Bảo Đao Phú” (Cùng lời tựa)
Vào năm Kiến An, phụ thân tôi là Ngụy Vương mệnh cho hữu ty (quan phụ trách) rèn năm thanh bảo đao, ròng rã ba năm mới xong, lấy biểu tượng Long (Rồng), Hổ, Hùng (Gấu), Điểu (Chim), Tước (Sẻ) để làm dấu. Thái tử (Tào Phi) được một thanh, tôi cùng em trai là Nhiêu Dương Hầu (Tào Chương) mỗi người được một thanh. Hai thanh còn lại, phụ thân tự mình đeo bên người.
Bài phú rằng: Hữu hoàng hán chi minh hậu, tư minh đạt nhi huyền thông. Phi văn tảo dĩ bác trí, dương vũ bị dĩ ngự hung. Nãi sí hỏa viêm lô, dung thiết đĩnh anh. Ô Hoạch phấn chuy, Âu Dã thị doanh. Phiến cảnh phong dĩ kích khí, phi quang giám vu thiên đình. Viên cáo từ vu Thái Ất, nãi cảm mộng nhi thông linh. Nhiên hậu lệ dĩ ngũ phương chi thạch, giám dĩ trung hoàng chi nhưỡng. Quy viên cảnh dĩ định hoàn, sư thần tư nhi tạo tượng. Thùy hoa phân chi uy nhuy, lưu thúy thải chi hoảng dưỡng. Cố kỳ lợi lục đoạn tê cách, thủy đoạn long giác. Khinh kích phù tiệt, nhận bất tiêm lưu. Du Nam Việt chi Cự Khuyết, siêu tây sở chi Thái A. Thực chân nhân chi du ngự, vĩnh thiên lộc nhi thị hà.
Đại ý rằng:
Bậc minh quân Ngụy Vương của triều Hán thánh minh, tư duy sáng suốt rộng mở. Ông ban bố công văn để chiêu mộ hiền tài khắp thiên hạ, chấn hưng võ bị để trừ bạo diệt hung. Cho nhóm lửa trong lò rừng rực, nung sắt luyện lấy tinh hoa. Giống như lực sĩ Ô Hoạch vung chùy, tựa như bậc thầy Âu Dã đúc rèn. Quạt lửa lò cháy rực để tăng thêm khí thế, ánh lửa bốc cao soi sáng cả thiên đình. Ông hướng về Thần Thái Ất mà cầu nguyện, rồi trong mộng mà thông linh với Thần. Sau đó, dùng đá ngũ phương để mài dao, lấy đất Trung Hoàng mà lau lưỡi kiếm. Đo độ tròn để chế tác vòng khuyên, dồn thần tư để tạo nên họa tiết. Hoa văn rực rỡ không gì sánh bằng, lưỡi đao lấp lánh tỏa ánh hào quang. Vì thế, bảo đao vô cùng sắc bén: trên cạn có thể chém đứt da tê giác, dưới nước có thể chặt phăng sừng rồng; chém nhẹ hay cắt vật đang trôi đều đứt đoạn, mà lưỡi đao chẳng hề hư tổn. Độ sắc bén ấy vượt qua thanh Cự Khuyết của Việt Vương Câu Tiễn, hơn hẳn thanh Thái A của Sở Vương. Quả thực xứng đáng để phụ vương đeo bên mình, giữ cho vương vị mãi mãi vững bền.
(Còn tiếp)
Dịch từ:
