Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật Thiên cổ anh hùng của văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm

[ChanhKien.org]

Ngụy Vũ Đại Đế Tào Tháo. (The Epoch Times chế tác)

Viên Thiệu có ba người con trai là Viên Đàm, Viên Hy và Viên Thượng. Vợ sau của Thiệu là Lưu Thị yêu quý Viên Thượng, thường xuyên khen ngợi với Thiệu. Thiệu muốn lập Thượng làm người kế vị, nên đẩy con trưởng là Viên Đàm ra làm Thứ sử Thanh Châu. Mưu sĩ Thư Thụ can ngăn nhưng Thiệu không nghe, bảo rằng: “Ta muốn để các con mỗi đứa giữ một châu để xem tài năng của chúng ra sao”. Thế rồi Thiệu cho con thứ là Viên Hy làm Thứ sử U Châu, cháu ngoại là Cao Cán làm Thứ sử Tịnh Châu. Mùa thu, tháng chín, Tào Tháo vượt sông tấn công Viên Đàm. Đàm cấp báo cho Thượng, Thượng để Thẩm Phối ở lại giữ Nghiệp Thành, tự mình dẫn quân cứu Đàm, cùng đối kháng với quân Tào. Hai bên giao chiến liên tục, Đàm và Thượng nhiều lần đại bại, phải rút về cố thủ.

Tháng hai năm Kiến An thứ tám (năm 203), Tào Tháo tấn công Lê Dương, giao chiến với Viên Đàm và Viên Thượng ngay dưới chân thành. Đàm và Thượng bại trận bỏ chạy, rút về Nghiệp Thành. Mùa hè, tháng tư, Tào Tháo truy kích đến tận Nghiệp Thành, thu cắt lúa mạch của địch. Các tướng muốn thừa thắng tấn công ngay, nhưng Quách Gia nói: “Viên Thiệu yêu quý hai đứa con này, nhưng chưa kịp quyết định đứa nào sẽ kế vị. Nay quyền lực của chúng ngang nhau, mỗi bên đều có phe cánh riêng, nếu ta đánh gấp thì chúng sẽ bao bọc lẫn nhau, nhưng nếu nới lỏng thì lòng tranh đoạt sẽ nảy sinh. Chi bằng ta xuôi nam hướng về Kinh Châu để đợi biến cố, khi chúng đã sinh biến rồi ta mới tấn công, có thể một trận là định đoạt được tất cả”. Tào Tháo nói: “Hay lắm!”. Tháng năm, Tào Tháo rút quân về Hứa Đô, để tướng Giả Tín ở lại đóng giữ Lê Dương, khiến Viên Đàm và Viên Thượng bắt đầu tự đánh lẫn nhau.

Tháng tám, Tào Tháo đi chinh phạt Lưu Biểu, quân đóng tại Tây Bình. Viên Thượng tự mình dẫn quân tấn công Viên Đàm và thắng lớn. Viên Đàm tháo chạy về Bình Nguyên, vào thành cố thủ. Viên Thượng bao vây tấn công rất gấp, Viên Đàm bèn phái Tân Tì đến chỗ Tào Tháo để cầu hàng và xin cứu viện. Các tướng đều nghi ngờ, đa số thuộc hạ cho rằng Lưu Biểu đang mạnh, nên bình định trước, còn Viên Đàm và Viên Thượng không đáng lo. Tuân Úc khuyên Tào Tháo nên chấp thuận lời thỉnh cầu, ông nói: “Thiên hạ đang lúc đa sự, mà Lưu Biểu chỉ ngồi giữ vùng Giang, Hán, đủ biết hắn không có chí ở bốn phương. Nhà họ Viên chiếm cứ 4 châu, binh giáp có tới vài mươi vạn, Viên Thiệu lại nhờ đôn hậu mà được lòng dân; nếu hai đứa con của hắn hòa thuận để giữ lấy cơ nghiệp ấy, thì cái nạn của thiên hạ vẫn chưa dứt được. Nay anh em chúng ác độc với nhau, thế không thể cùng tồn tại, nếu đứa này sáp nhập được đứa kia thì lực lượng sẽ tập trung, lực lượng đã tập trung thì khó mà mưu tính được. Chi bằng nhân lúc chúng đang loạn mà đánh lấy, thiên hạ sẽ định được ngay, thời cơ này không thể bỏ lỡ”. Tào Tháo cho là phải, cũng nói rằng: “Ta đánh Lữ Bố, Biểu không xâm phạm, trận Quan Độ, Biểu cũng chẳng cứu Viên Thiệu, đây là kẻ giặc chỉ biết tự giữ mình, nên để mưu tính sau. Đàm và Thượng gian giảo, nên thừa lúc chúng đang loạn mà đánh. Cho dù Đàm có giả trá, không thực lòng quy thuận, thì việc khiến ta đánh bại được Thượng rồi thu lấy đất đai của hắn, lợi thế cũng nhiều rồi”. Tào Tháo quyết định cứu Viên Đàm.

Tân Tì cũng tiến lời rằng: “Lấy uy danh của Minh công để ứng phó với kẻ địch đang lúc khốn cùng, đánh lũ giặc đang mệt mỏi rệu rã, thì khác nào cơn gió dữ thổi quét lá mùa thu. Nay nhân lúc chúng xin cứu viện mà vỗ về lấy, lợi ích không gì lớn bằng. Hơn nữa, cái họa ở bốn phương không đâu lớn bằng Hà Bắc, Hà Bắc mà bình định xong thì 6 quân hưng thịnh, thiên hạ đều phải khiếp sợ”. Tào Tháo khen: “Hay lắm!” rồi chấp thuận lời thỉnh cầu.

Tháng mười mùa đông, Tào Tháo dẫn quân đến Lê Dương, tại đây ông đã lập hôn ước cho con trai mình là Tào Chỉnh với con gái của Viên Đàm. Viên Thượng nghe tin ấy bèn rời khỏi Bình Nguyên để quay về Nghiệp Thành. Hai tướng ở Đông Bình là Lã Khoáng và Lã Tường phản lại Viên Thượng, đóng quân ở Dương Bình rồi dẫn bộ hạ đầu hàng Tào Tháo, cả hai đều được phong làm Liệt hầu. Sau khi vòng vây quanh Viên Đàm được giải tỏa, Đàm lại ngầm khắc ấn tướng quân đem tặng cho Lã Khoáng và Lã Tường (nhằm lôi kéo lại). Lã Khoáng nhận ấn xong liền đem nộp cho Tào Tháo. Tào Tháo nói: “Ta vốn biết Đàm có tiểu kế mà. Hắn muốn mượn tay ta đánh Thượng để tranh thủ lúc rảnh rỗi mà vơ vét dân chúng, tụ tập quân đội. Hắn tính rằng khi Thượng bại thì ta cũng mệt mỏi, hắn có thể tự cường mà thừa cơ ta đang suy yếu. Nhưng khi Thượng bị phá thì ta cũng đang lúc hưng thịnh, hắn lấy đâu ra cơ hội mà thừa thế đây?”. Tào Tháo đã sớm nhìn thấu mưu mô của Viên Đàm.

Năm Kiến An thứ chín (năm 204), chiến sự xảy ra dồn dập. Tháng hai, Tào Tháo tiến quân đến sông Hoàn, tấn công Nghiệp Thành. Tháng tư mùa hạ, ông phá tan quân địch, lại hạ được Hàm Đan. Tháng năm, ông quay lại tấn công Nghiệp Thành, phá hủy các gò đất và địa đạo của địch, đào hào vây thành với chu vi bốn mươi dặm. Ban đầu, ông lệnh cho đào hào nông, tỏ vẻ như có thể bước qua được. Thẩm Phối (tướng giữ thành của Viên Thượng) đứng trên cao trông thấy thì cười nhạo, không thèm ra tranh đoạt. Tào Tháo chỉ trong một đêm đã cho đào sâu thêm, rộng và sâu tới hai trượng, rồi dẫn nước sông Chương vào hào. Tháng bảy mùa thu, Viên Thượng dẫn quân về cứu Nghiệp Thành. Các tướng đều cho rằng: “Đây là đạo quân đang trên đường về cứu quê nhà, người người sẽ tự liều chết chiến đấu, chi bằng hãy lánh đi”. Tào Tháo nói: “Nếu Thượng đi đường đại lộ thì nên lánh; nếu hắn đi theo đường núi phía Tây thì đó chỉ là con chim trong lồng mà thôi”. Viên Thượng quả nhiên đi theo đường núi phía Tây, đóng trại bên sông Phụ. Đêm tối, Thượng phái quân đột kích vòng vây, Tào Tháo nghênh chiến đánh bại chúng, rồi bao vây trại của địch. Khi vòng vây chưa khép hẳn, Viên Thượng sợ hãi, phái cựu Thứ sử Dự Châu là Âm Khuê cùng Trần Lâm đến xin hàng, nhưng Tào Tháo không chấp thuận, càng siết chặt vòng vây hơn. Viên Thượng nhân đêm tối bỏ trốn, chạy về giữ núi Kỳ Sơn, Tào Tháo truy kích đến cùng. Quân Tào thu giữ toàn bộ quân nhu lương thảo, lấy được cả ấn tín và tiết việt của Thượng, quân trong thành Nghiệp Thành vì thế mà hoàn toàn tan rã. Tháng tám, cháu của Thẩm Phối là Thẩm Vinh đêm tối mở cửa đông thành cho quân Tào vào. Thẩm Phối bại trận bị bắt sống, Tào Tháo hạ lệnh chém đầu, Nghiệp Thành chính thức được bình định.

Tào Tháo từ thuở thiếu thời đã có giao du với Viên Thiệu. Sau đó, họ lại cùng nhau thảo phạt Đổng Trác, tấn công Viên Thuật. Nay đôi bạn cũ đã ở hai bờ âm dương cách biệt, Tào Tháo bèn đích thân đến trước mộ Viên Thiệu để tế bái người vừa là kỳ phùng địch thủ, vừa là bạn cũ này. Ông vừa tế vừa khóc lóc thảm thiết, tình cảm động đến trời đất. Ông còn cho người đến an ủi vợ của Thiệu, trả lại những bảo vật của gia đình họ, ban tặng thêm gấm vóc, bông sợi và cấp lương thực đầy đủ. Coi trọng chữ “Nghĩa” lên hàng đầu, không vì ân oán cá nhân, đây là thuận theo ý trời mà diễn Nghĩa vậy.

Tháng chín, Tào Tháo hạ lệnh rằng: “Vùng Hà Bắc vừa trải qua hoạn nạn do nhà họ Viên gây ra, nay lệnh cho dân chúng không phải nộp tô thuế của năm nay!”. Ông cũng thắt chặt các điều luật chống lại việc hào cường thôn tính ruộng đất, khiến bách tính vô cùng vui mừng. Thiên tử phong Tào Tháo kiêm nhiệm chức Ký Châu mục, Tào Tháo bèn xin trả lại chức Diễn Châu mục. Quách Gia khuyên Tào Tháo nên chiêu mộ thêm nhiều danh sĩ vùng Thanh, Ký, U, Tịnh để bổ nhiệm làm thuộc hạ, khiến lòng người quy thuận, Tháo nghe theo.

Tháng giêng mùa xuân năm Kiến An thứ mười (năm 205), Tào Tháo tấn công Viên Đàm. Đôi bên giao tranh ác liệt từ sáng đến trưa vẫn chưa phân thắng bại. Tào Tháo bèn tự mình tay cầm dùi gõ trống thúc quân, sĩ tốt ai nấy đều hăng hái, tức thì phá tan quân địch, chém Viên Đàm cùng vợ con. Vùng Ký Châu từ đây chính thức được bình định.

Tào Tháo tháo nước làm ngập Ký Châu, Tào Tháo dẫn binh chiếm Hồ Quan. Tranh minh họa từ bản in Tam Quốc Chí đầu thời nhà Thanh (bản lưu giữ tại Đại Khôi Đường). (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)

Tào Tháo ban lệnh rằng: “Những kẻ từng cùng phe cánh làm điều ác với họ Viên, nay cho phép được cùng ta bắt đầu lại từ đầu”. Ông trao cho những người từng lầm đường lạc lối cơ hội để sửa đổi sai lầm. Ông cũng lệnh cho dân chúng không được phép báo thù riêng, cấm việc tổ chức tang lễ xa hoa lãng phí, tất cả đều phải nhất quán theo pháp luật. Trong tháng đó, các đại tướng của Viên Hy là Tiêu Xúc, Trương Nam đã phản bội, quay sang tấn công Viên Hy và Viên Thượng. Hai anh em Hy, Thượng phải tháo chạy sang lánh nạn tại bộ tộc Ô Hoàn ở vùng Tam Quận.

Tháng giêng mùa xuân năm Kiến An thứ mười một (năm 206), Tào Tháo đi chinh phạt Cao Cán (cháu ngoại của Viên Thiệu, giữ chức Bình Châu mục. Khi Tào Tháo hạ được Nghiệp Thành, Cao Cán từng đầu hàng nên Tháo vẫn để hắn làm Thứ sử. Tuy nhiên, khi nghe tin Tào Tháo đi đánh Ô Hoàn, Cán đã dẫn cả châu làm phản). Cao Cán nghe tin quân Tào tới, bèn để biệt tướng ở lại giữ thành, còn mình chạy sang vùng Hung Nô để cầu cứu Thiền Vu, nhưng Thiền Vu không tiếp nhận. Tào Tháo bao vây Hồ Quan suốt 3 tháng thì hạ được thành. Hành trình chinh phạt này vô cùng gian khổ, Tào Tháo đã sáng tác bài thơ “Khổ hàn hành” để ghi lại sự kiện này.

Khổ hàn hành

Bắc thượng Thái Hành sơn, gian tai hà nguy nguy!

Dương trường bang cật khuất, xa luân vị chi thôi

Thụ mộc hà tiêu sắt, bắc phong thanh chính bi

Hùng bi đối ngã tôn, hổ báo hiệp lộ đề

Khê cốc thiểu nhân dân, tuyết lạc hà phi phi

Diên cảnh trường thán tức, viễn hành đa sở hoài

Ngã tâm hà phí uất? Tư dục nhất Đông quy

Thuỷ thâm kiều lương tuyệt, trung lộ chính bồi hồi

Mê hoặc thất cố lộ, bạc mộ vô túc lâu

Hành hành nhật dĩ viễn, nhân mã đồng thời cơ

Đảm nang hành thủ tân, phủ băng trì tác my

Bi bỉ “Đông Sơn” thi, du du lệnh ngã ai!

Dịch nghĩa:

Xuôi miền Bắc vượt lên núi Thái Hành, cao chót vót thật là gian nguy!

Đường đi trên dốc núi quanh co như ruột dê. Bánh xe muốn gãy đổ.

Cây cối hiu hắt buồn bã làm sao! Nghe gió bắc thổi thật sầu não.

Beo gấu ngồi xổm trước mặt. Hổ báo kêu gào ở giữa đường.

Khe vực không có người dân nào ở. Mưa tuyết rơi mịt mù.

Dài cổ kêu than cực khổ. Viễn chinh chất ngất nhiều nỗi.

Tâm can u uất nghẹn ngào. Muốn trở về miền Đông ngay.

Nước sâu cầu lại gãy. Đường chính đi quanh co.

Mê hoặc lạc mất đường. Trời chiều không biết ở lại đâu.

Ngày ngày đi mãi xa xôi ròng rã. Người ngựa đói meo.

Lấy đòn gánh làm củi. Đập băng để nấu cháo ăn.

Bi phẫn quá làm thơ Đông Sơn. Nỗi buồn này dài dằng dặc

Lời thơ chất phác, không chút hoa mỹ, miêu tả con đường chinh chiến quanh co như ruột dê, hành trình trong gió tuyết lẫn lộn, cảnh khốn cùng không nơi ăn chốn ở. Đây là bản thực lục về chặng đường gian nan, phong cách trầm hùng và đầy vẻ bi lương.

Tháng hai năm Kiến An thứ mười hai (năm 207), Tào Tháo từ Thuần Vu trở về Nghiệp Thành, ban lệnh rằng: “Ta dấy nghĩa binh giết kẻ bạo loạn đến nay đã 19 năm, đánh đâu thắng đó, há phải là công của một mình ta sao? Đó chính là sức lực của các hiền sĩ đại phu vậy. Thiên hạ tuy chưa hoàn toàn bình định, ta nguyện cùng các hiền sĩ đại phu cùng nhau định đoạt; nếu một mình ta hưởng hết thành quả khó nhọc ấy, sao ta có thể yên lòng! Hãy mau chóng định công ban thưởng”.

Thế là ông phong cho hơn 20 công thần đều làm Liệt hầu, những người còn lại lần lượt thụ phong theo thứ tự, đồng thời chu cấp cho trẻ mồ côi của những người đã hy sinh, tùy mức độ nặng nhẹ mà có sự khác biệt. Nhân đó, ông dâng biểu kể về công trạng của Vạn Tuế Đình hầu Tuân Úc; đến tháng ba, tăng phong cho Tuân Úc thêm một nghìn hộ.

Tào Tháo quyết ý bắc phạt Ô Hoàn. Các tướng đều nói: “Viên Thượng chỉ là kẻ bại vong, man di tham lam, không thân nghĩa, sao có thể vì hắn mà tận lực? Nay nếu tiến sâu đánh họ, Lưu Bị ắt sẽ thuyết phục Lưu Biểu đánh úp Hứa Đô. Một khi biến cố xảy ra thì không thể hối kịp”. Chỉ có Quách Gia tính rằng Lưu Biểu nhất định không thể trọng dụng Lưu Bị, nên khuyên Tào Tháo tiến quân, không cần lo lắng. Quách Gia nói: “Chúa công tuy uy chấn thiên hạ, nhưng người Hồ ỷ xa tất không phòng bị. Nhân lúc họ không chuẩn bị mà bất ngờ đánh, có thể tiêu diệt được. Hơn nữa, Viên Thiệu trước đây có ân với dân di, mà anh em Viên Thượng vẫn còn. Nay dân bốn châu chỉ vì uy mà tạm quy phục, ân đức chưa ban tới; nếu bỏ đó mà nam chinh, Viên Thượng sẽ dựa vào thế lực Ô Hoàn, chiêu tập thuộc hạ cũ của cha hắn. Một khi người Hồ nổi dậy, dân chúng khiếp sợ mà theo, sẽ nuôi lớn dã tâm của Đạp Đột, sinh mưu đồ nhòm ngó, e rằng Thanh Châu, Ký Châu cũng không còn thuộc về ta nữa. Còn Lưu Biểu chỉ là kẻ ngồi nói suông, tự biết tài không đủ chế ngự Lưu Bị; nếu trọng dụng thì sợ không khống chế nổi, nếu khinh dùng thì Lưu Bị cũng không chịu ra sức. Vì vậy, dù ta đem quân đi xa, trong nước trống vắng, chúa công cũng không phải lo”.

Tào Tháo bèn theo kế của Quách Gia, để trống hậu phương mà xuất quân xa đánh Ô Hoàn.

“Người Hồ” vốn được gọi là “con cưng của Trời”. Họ nguyên là hậu duệ của Hiên Viên Hoàng Đế, cũng thuộc con dân Hoa Hạ, rời Trung Nguyên mà trở thành các dân tộc du mục. Họ có mối liên hệ chằng chịt với vùng Trung Thổ Thần Châu; giống như các cộng đồng Hoa Hạ cổ ở quanh Trung Nguyên, họ luôn được các bậc anh hùng kiệt xuất qua các thời đại quan tâm và chiếu cố. Trong lịch sử các triều đại, đặc biệt là những nhân vật anh hùng kiệt xuất, hoặc thông qua chiến tranh để truyền bá văn hóa, hoặc qua buôn bán, giao lưu văn hóa, truyền bá tôn giáo… luôn không quên dùng nền văn hóa Thần truyền Trung Hoa để giáo hóa họ.

Ở phía bắc Trung Nguyên, người Hồ được gọi là Hung Nô; còn nhóm ở phía đông của Hung Nô được gọi là Đông Hồ. Cuối đời Tần, đầu đời Hán, thiền vu Mạo Đột đánh bại Đông Hồ. Người Đông Hồ di cư lên phía bắc đến núi Tiên Ty và núi Ô Hoàn, lấy tên núi làm tên tộc, hình thành các nhóm Tiên Ty và Ô Hoàn. Đến thời Hán Vũ Đế (niên hiệu Nguyên Thú), nhà Hán đại phá Hung Nô, đưa người Ô Hoàn đến năm quận: Thượng Cốc, Ngư Dương, Hữu Bắc Bình, Liêu Đông và Liêu Tây. Người Ô Hoàn giỏi cưỡi ngựa bắn cung, sống theo nguồn nước và cỏ, lấy lều tròn làm nơi cư trú. Khi bị bệnh, họ dùng ngải cứu, nung đá để chữa, hoặc dùng dao rạch lấy máu rồi cầu khấn thần linh trời đất núi sông. Vì không có chữ viết nên mọi thứ đều được truyền miệng; họ rất coi trọng lời nói và hành vi, đã nói là làm, nói sao làm vậy.

Tháng năm Kiến An thứ mười hai (năm 207), Tào Tháo đích thân dẫn đại quân bắc tiến, tiến quân đến Vô Chung (nay là huyện Kế, Thiên Tân). Khi đến Dịch Thủy, Quách Gia lại dâng kế rằng: “Binh quý ở thần tốc. Nay đi đường xa nghìn dặm để đánh người, quân nhu (chiến cụ và lương thảo) quá nhiều, khó lòng tranh được lợi thế, vả lại nếu quân địch nghe tin tất sẽ phòng bị; chi bằng để quân nhu lại, dùng khinh binh đi gấp đôi quãng đường để xuất kích, đánh lúc chúng không ngờ tới”. Tào Tháo nghe theo.

Tháng bảy mùa thu, mưa lớn gây lụt lội, đường ven biển không thể đi thông được. Điền Trù xin làm người dẫn đường, Tào Tháo chấp thuận.

Trước kia, Viên Thiệu từng nhiều lần sai sứ giả đến Vô Chung mời gọi Điền Trù, lại còn phong ấn tướng quân, giao phó việc vỗ về dân chúng trong vùng, nhưng Điền Trù đều cự tuyệt. Điền Trù vốn phẫn nộ trước việc quân Ô Hoàn sát hại nhiều bậc danh sĩ trong quận mình, lòng muốn thảo phạt nhưng lực bất tòng tâm. Khi Tào Tháo sai sứ đến chiêu mộ, Điền Trù bèn dặn môn hạ phải tiếp đãi sứ giả của họ Tào thật chu đáo. Người môn hạ thắc mắc: “Xưa kia Viên Công ngưỡng mộ ngài, lễ nghĩa mời gọi tới 5 lần mà ngài nhất quyết không khuất phục. Nay sứ giả của Tào Công chỉ mới đến một lần mà ngài đã vội vã đón tiếp như sợ không kịp, là cớ làm sao?”. Điền Trù cười đáp: “Đây không phải điều mà các ngươi hiểu được đâu”.

Bấy giờ đang lúc mưa lớn xối xả, vùng ven biển lại trũng thấp, bùn lầy tắc nghẽn không thể đi thông, quân sĩ Ô Hoàn lại canh giữ nghiêm ngặt các yếu đạo, đại quân của Tào Tháo không thể tiến lên. Tào Tháo lấy làm lo lắng, bèn hỏi ý Điền Trù. Trù thưa rằng: “Con đường này cứ hễ mùa hạ thu là lại có nước, nông thì xe ngựa không đi được, sâu thì thuyền bè không chở nổi, là nỗi khó khăn từ lâu rồi. Xưa kia trụ sở của quận Bắc Bình nằm ở Bình Cương, đường đi qua Lư Long để dẫn đến Liễu Thành. Từ năm Kiến Vũ (thời Đông Hán) đến nay, đường ấy đã hư hại đứt đoạn gần 200 năm, nhưng vẫn còn những lối mòn nhỏ có thể đi theo. Nay quân giặc đinh ninh đại quân ta từ Vô Chung tiến tới, thấy không tiến được tất sẽ rút lui, nên chúng sẽ lơi lỏng không phòng bị. Nếu ta rút quân, đi từ cửa Lư Long vượt qua sự hiểm trở của Bạch Đàn, tiến ra vùng đất trống trải của chúng, đường vừa gần vừa tiện, lại đánh lúc chúng không ngờ tới, thì Đạp Đột có thể chẳng cần đánh mà bắt sống được vậy”. Tào Tháo khen: “Hay lắm!”. Đoạn ông dẫn quân lui về, lại cho dựng một tấm bảng gỗ lớn bên đường cạnh nước mà viết rằng: “Nay đang mùa hạ nóng nực, đường sá không thông, tạm đợi đến mùa thu đông mới lại tiến quân”. Quân do thám của Ô Hoàn trông thấy bảng ấy, quả nhiên tin chắc rằng đại quân Tào Tháo đã rút đi thật.

Điền Trù dẫn quân ra khỏi cửa ải Lư Long, nhưng đường xá ngoài biên ải đã bị đứt đoạn không thể đi thông, bèn cho xẻ núi lấp thung lũng suốt hơn 500 dặm, đi qua Bạch Đàn, vượt Bình Cương, băng qua đất của người Tiên Ty rồi chỉ hướng đông tiến thẳng về Liễu Thành. Viên Thượng, Viên Hy cùng Đạp Đột, Thiền vu Liêu Tây là Lâu Ban, Thiền vu Hữu Bắc Bình là Năng Thần Đê Chi dẫn theo hàng vạn kỵ binh để chống lại quân Tào. Tháng tám, quân Tào leo lên núi Bạch Lang, bất ngờ chạm trán với quân địch, lúc này lực lượng đối phương đang rất đông đảo. Trong khi đó, đoàn xe nặng của Tào Tháo còn ở phía sau, số người mặc giáp ít, khiến quân sĩ tả hữu đều lo sợ. Tào Tháo leo lên cao, quan sát thấy trận thế của quân giặc không chỉnh tề, bèn hạ lệnh tung quân tiến đánh, sai Trương Liêu làm tiên phong. Quân Ô Hoàn tan rã hoàn toàn, quân Tào chém Đạp Đột cùng các danh vương trở xuống; số người Hồ, người Hán đầu hàng lên đến hơn 20 vạn người.

Viên Thượng và Viên Hy dẫn theo vài nghìn kỵ binh tháo chạy sang Liêu Đông. Ban đầu, Thái thú Liêu Đông là Công Tôn Khang cậy ở nơi xa xôi nên không phục tùng. Khi Tào Tháo đánh bại Ô Hoàn, thuộc hạ khuyên ông nên thừa thắng tiến đánh Liêu Đông để bắt anh em họ Viên. Tào Tháo nói: “Ta sẽ khiến Công Tôn Khang chém đầu Thượng, Hy rồi đem nộp, chẳng cần phiền đến binh đao đâu”. Tháng chín, Tào Tháo dẫn binh từ Liễu Thành trở về, Công Tôn Khang lập tức chém đầu anh em Thượng, Hy cùng Tốc Phụ Hoàn, đem thủ cấp đến nộp cho Tào Tháo. Các tướng có người hỏi: “Ngài vừa rút quân về mà Công Tôn Khang đã chém nộp đầu Thượng, Hy, là tại sao?”. Tào Tháo đáp: “Hắn vốn dĩ sợ bọn Thượng chiếm quyền, nếu ta đánh gấp thì chúng sẽ hợp lực chống lại, nếu ta nới lỏng thì chúng sẽ tự mưu hại lẫn nhau, đó là lẽ tất nhiên của thời thế”. Điều này càng cho thấy Tào Tháo liệu địch như thần, chỉ huy bình tĩnh, thể hiện khí phách uy phong lẫm liệt của một nhà quân sự đại tài nơi thế gian.

Quách Gia thọ 38 tuổi. Khi từ Liễu Thành trở về, ông lâm bệnh nặng, Tào Tháo liên tục cử người tới thăm hỏi, sứ giả đi lại không ngớt. Đến khi Quách Gia qua đời, Tào Tháo đến dự tang lễ, đau buồn vô hạn. Ông nói với bọn Tuân Du rằng: “Chư vị đều là người cùng lứa với ta, duy chỉ có Phụng Hiếu (tên tự của Quách Gia) là trẻ nhất. Ta định sau khi thiên hạ định xong, sẽ giao đại sự sau này cho ông ấy, vậy mà giữa đường chết yểu, quả là mệnh trời vậy!” Tào Tháo đau xót vì mất đi người tri kỷ, nỗi lòng thương tiếc hiện rõ qua lời nói: “Vả lại Phụng Hiếu là người hiểu ta nhất, người trong thiên hạ hiểu được nhau vốn ít, vì thế mà ta càng thêm đau xót. Biết làm sao đây, biết làm sao đây!”, “Đau thay Phụng Hiếu! Xót thay Phụng Hiếu! Tiếc thay Phụng Hiếu!”

Sau khi trở về, Tào Tháo cho dò hỏi lại những người đã từng can ngăn việc chinh phạt Ô Hoàn trước đây. Mọi người không hiểu nguyên do, ai nấy đều run sợ. Chẳng ngờ, Tháo lại ban thưởng hậu hĩnh cho tất cả bọn họ và nói rằng: “Chuyến đi vừa rồi của ta là mạo hiểm để cầu may. Tuy thắng lợi nhưng đó là nhờ trời giúp, vì vậy không thể coi đó là lẽ thường được. Lời can ngăn của chư vị mới là kế sách vạn toàn, vì thế ta khen thưởng, sau này mong chớ ngại nói thẳng”.

Khi đoàn quân khải hoàn, Tào Tháo luận công ban thưởng, phong cho Điền Trù làm Đình hầu với thái ấp 500 hộ. Điền Trù nói: “Ban đầu tôi vì muốn báo thù cho Lưu Công (Lưu Ngu) mà dẫn mọi người lánh đi, nay chí nghĩa chưa thành, ngược lại còn lấy đó làm lợi cho mình thì không phải bản nguyện của tôi”. Ông nhất quyết từ chối không nhận. Tào Tháo biết đó là tâm ý chân thành của ông nên đã chấp thuận mà không ép buộc.

Chân dung Điền Trù, trích từ cuốn Cổ thánh hiền tượng truyền lược do Cố Nguyên (thời Thanh) biên soạn, bản khắc gỗ năm Đạo Quang thứ mười (1830). (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)

Tào Tháo dẫn quân khải hoàn trở về. Tháng mười một, bên bờ sông Dịch Thủy, Thiền vu Ô Hoàn vùng Đại Quận là Phổ Phú Lư cùng Thiền vu Ô Hoàn vùng Thượng Quận là Na Lâu đến yết kiến Tào Tháo, bày tỏ sự quy thuận. Bộ tộc Ô Hoàn ở Tam Quận được di dời tập thể vào sâu trong nội địa. Bài thơ nổi tiếng “Quy tuy thọ” của Tào Tháo chính là được sáng tác vào thời điểm này.

Quy tuy thọ

Thần quy tuy thọ, Do hữu cánh thì.

Đằng xà thừa vụ, Chung vi thổ hôi.

Lão ký phục lịch, Chí tại thiên lý.

Liệt sĩ mộ niên, Tráng tâm bất dĩ.

Doanh súc chi kỳ, Bất đãn tại thiên.

Dưỡng di chi phúc, Khả đắc vĩnh niên.

Hạnh thậm chí tai, Ca dĩ vịnh chí.

Dịch nghĩa:

Rùa thần tuy sống lâu, rồi cũng đến giờ phút cuối cùng.

Rắn thần vọt lên trên màn sương mù, cuối cùng cũng thành nắm tro tàn.

Ngựa thiên lý nằm trong chuồng, mà chí ở xa ngàn dặm.

Người có chí đến tuổi xế chiều, lòng hào hùng vẫn không dứt.

Cuộc đời ngắn dài, đâu phải chỉ do trời.

Phúc lành nhờ dụng tâm nuôi dưỡng mà được, có thể giữ được bền lâu.

Ôi, may mắn, lành thay, hát lên để biểu đạt chí hướng mình vậy.

Thần rùa thọ nghìn năm, hay rồng rắn cưỡi mây lướt gió, cuối cùng cũng khó tránh khỏi quy luật sinh tử. Ngựa già tuy nằm trong máng, vẫn ôm hoài bão sải bước ngàn dặm; anh hùng dù lúc xế chiều, sự kiếm tìm ý nghĩa sinh mệnh vẫn chưa bao giờ ngưng nghỉ. Chu kỳ của sinh mệnh không chỉ do trời định, nếu biết tu thân dưỡng đức, quay về với bản chân (phản bổn quy chân), thì sinh mệnh có thể đắc được sự vĩnh hằng. Bài thơ “Quy tuy thọ” đã bộc lộ hết tâm chí “lão đương ích tráng” (càng già càng dẻo dai) của Tào Tháo, được công nhận là bản tuyệt xướng thiên cổ. Ông liên tiếp dùng các hình ảnh “thần quy” (rùa thần), “đằng xà” (rắn thần) và “lão ký” (ngựa già) để dẫn dắt đến chủ đề: “Liệt sĩ mộ niên, tráng tâm bất dĩ” (Người có chí đến tuổi xế chiều, lòng hào hùng vẫn không dứt), khiến tình cảm trở nên hào sảng, khí chân thực vang vọng. Trong cuốn Thi bình, Ngao Khí Chi thời Tống nhận xét rằng: “Ngụy Vũ Đế như vị lão tướng vùng U Yên, khí vận trầm hùng”.

Trên đường thắng trận trở về, Tào Tháo đi về phía đông, đến núi Yết Thạch Sơn, ngắm biển và hoài cổ. Núi Yết Thạch (nay ở phía bắc Xương Lê, Hà Bắc) nằm bên vịnh Bột Hải. Xưa Tần Thủy Hoàng từng đi tuần, khắc đá ghi công: “Hoàng đế phát uy, đức sánh chư hầu, thiên hạ mới được thái bình” (trích Yết Thạch môn từ). Hán Vũ Đế cũng từng lên đây ngắm biển. Trải qua nhiều năm chinh chiến, phương Bắc cuối cùng đã hoàn toàn bình định, Tào Tháo cảm khái muôn vàn, để lại thiên cổ danh tác “Bộ xuất Hạ môn hành – Quan thương hải”. Bài Quan thương hải chỉ vài nét chấm phá mà đã vẽ nên cảnh biển – trời – nhật nguyệt hòa làm một, lại hiện ra dải ngân hà rực rỡ điểm xuyết giữa vũ trụ bao la, qua đó bộc lộ trọn vẹn tấm lòng rộng lớn như nuốt trọn vũ trụ của thi nhân.

Quan thương hải

Đông lâm Kiệt Thạch, Dĩ quan thương hải.

Thuỷ hà đạm đạm, Sơn đảo tủng trì.

Thụ mộc tùng sinh, Bách thảo phong mậu.

Thu phong tiêu sắt, Hồng ba dũng khởi.

Nhật nguyệt chi hành, Nhược xuất kỳ trung

Tinh hán xán lạn, Nhược xuất kỳ lý.

Hạnh thậm chí tai, Ca dĩ vịnh chí.

Dịch nghĩa:

Lên đỉnh núi Kiệt Thạch cao cao mé phía Đông, ngắm nhìn biển xanh mênh mông bao la.

Chỉ thấy sóng nước dập dờn mênh mang, bao nhiêu núi đảo nhấp nhô sừng sững giữa biển trời.

Cây cối trên núi đảo xanh rì tươi tốt, trăm loài hoa cỏ um tùm đua chen.

Nơi bờ biển gió thu thổi nghe vi vút, biển động từng từng lớp lớp sóng dồn tung bọt vây quanh

Vầng nhật nguyệt ngày đêm vận hành, đều như xuống lên từ biển cả

Tinh hán ngân hà xán lạn hằng đêm, cũng như mọc ra từ lòng biển cả.

Mừng vui, may mắn thay khi đứng trước cảnh quan hùng vĩ tráng lệ, bởi thế ca ngâm mà tỏ chí này.

(Còn tiếp)

Dịch từ:

https://www.epochtimes.com/gb/16/4/24/n7662459.htm