Tác giả: Tổ Văn hóa The Epoch Times

[ChanhKien.org]

Thuận theo năm tháng trưởng thành của Hoàng đế Khang Hy, ông lần lượt dẹp yên từng cuộc binh biến, lập nên võ công hiển hách, khiến biên thùy kiên cố, bốn phương quy phục. Hình minh họa Hoàng đế Khang Hy, bậc minh quân khai sáng thời kỳ Khang – Ung – Càn thịnh thế. (The Epoch Times chế tác)

Ở vùng Đông Bắc của đại địa Hoa Hạ, giữa miền Bạch Sơn Hắc Thủy ấy (ý chỉ vùng núi Trường Bạch và sông Hắc Long), có một miền phúc địa mang tên Mãn Châu. Nơi ấy đồng ruộng phì nhiêu trải ngàn dặm, sản vật dồi dào, trù phú. Đó là nơi tổ tiên người Mãn sinh sôi, gây dựng cơ nghiệp; cũng là nơi cơ nghiệp của hai triều đại Kim và Thanh được thai nghén, khai mở từ đây. Trong tâm khảm người Mãn, Mãn Châu không chỉ mang ý nghĩa cát tường, bình an, mà còn là thánh địa phát tích của đế nghiệp, nơi khởi nguồn của vương triều (đất long hưng).

Thế nhưng, vào buổi đầu triều Thanh, Mãn Châu lại không được thái bình, yên hòa như người ta hằng mong đợi. Nhân lúc nhà Thanh tiến vào Trung Nguyên tranh đoạt thiên hạ, thì ở phương bắc xa xôi, nước Nga – trong các thư tịch thời Minh, Thanh được phiên dịch là “La Sát quốc” – đã phái quân viễn chinh xâm nhập lưu vực Hắc Long Giang thuộc Mãn Châu, tiến hành những cuộc đốt phá, tàn sát và cướp bóc vô cùng tàn bạo.

Cơ nghiệp mà Hoàng đế Khang Hy kế thừa thực chất là giang sơn đang chao đảo giữa phong ba, bốn bề hiểm họa rình rập: phía nam có Tam Phiên cát cứ, ngoài biển có họ Trịnh kháng Thanh, phía bắc có quân Nga xâm lấn, cướp phá, phía tây lại có Cát Nhĩ Đan dòm ngó, chực chờ thời cơ. Thuận theo năm tháng trưởng thành của Hoàng đế Khang Hy, ông lần lượt dẹp yên từng cuộc binh biến, lập nên võ công hiển hách, khiến biên cương vững bền, bốn phương quy phục. Vậy ông đã làm cách nào để đánh đuổi quân xâm lược Nga ra khỏi bờ cõi?

Gia cố biên phòng

“Người các bộ tộc như Ngõa Nhĩ Khách, Hồ Nhĩ Cáp đều hung bạo, xảo trá. Khanh là Ba Hải giữ chức Tướng quân Ninh Cổ Tháp, phải khéo thi hành giáo hóa, phù hợp với ý chỉ của Trẫm là an định và cảm hóa dân chúng nơi xa xôi.” — Hoàng đế Khang Hy

(Nguồn: Ngõa Nhĩ Ca, Hồ Nhĩ Cáp, nhân giai bạo lệ gian quỷ, nhĩ kỳ thiện bố giáo hóa, dĩ phó trẫm tuy viễn chí ý. — “Khang Hy triều thực lục”)

Bản đồ Trung Hoa dưới thời Hoàng đế Ung Chính triều Thanh. (Phạm vi công cộng)

Kể từ khi đăng cơ, Hoàng đế Khang Hy luôn sống trong cảnh lo trước cái lo của thiên hạ, không ngừng đối mặt và xử lý các vấn đề cùng những nguy cơ hết sức nan giải. Từ việc trừ Ngao Bái, bãi bỏ Tam Phiên đến thu phục Đài Loan, từ triều đình đến địa phương, từ nội địa đến biên cương biển, những thử thách ông phải đối mặt ngày càng cam go. Cũng chính nhờ đó đã tôi luyện ông trở nên ngày một mạnh mẽ và trưởng thành hơn. Lúc này, Hoàng đế Khang Hy đã ngoài 30 tuổi, trở thành một bậc đế vương chân chính, thế nhưng ông đồng thời cũng phải đối diện với một thách thức chưa từng có đến từ một đế quốc khác.

Vào thời Thuận Trị, người Nga xâm lược. Sau nhiều cuộc giao tranh, quân Thanh cùng nhân dân địa phương đã hợp sức đánh đuổi quân Nga ra khỏi khu vực trung và hạ lưu sông Hắc Long Giang. Tuy nhiên, do nhà Thanh khi ấy phải đối phó với nhiều nội loạn nên không thể dồn sức cho phương bắc, khiến quân xâm lược Nga chẳng bao lâu sau lại quay trở lại. Đến năm Khang Hy thứ 4 (1665), quân Nga đã chiếm giữ Nibuchu, tức thành phố Nerchinsk thuộc Nga ngày nay, rồi tiếp tục mở rộng thế lực về phía đông và phía nam.

Sau đó, tại khu vực biên giới Trung – Nga, người Nga đã thiết lập 3 cứ điểm xâm lược lớn: Nibuchu, Yaksa (tức Albazin) ở phía đông Nibuchu và Chukuboxing (tức Selenginsk) ở phía nam. Ngoài ra, họ còn dựng nhiều đồn nhỏ rải rác tại khu vực trung và hạ lưu sông Hắc Long Giang. Lợi dụng các cứ điểm này, quân Nga liên tục quấy nhiễu, cướp bóc các dân tộc địa phương, đến mức “con cái, nhân sâm và da chồn đều bị cướp sạch gần như không còn gì”.

Cũng trong thời gian này xảy ra vụ thủ lĩnh bộ lạc đào tẩu, khiến mâu thuẫn giữa nhà Thanh và nước Nga càng thêm gay gắt. Tù trưởng dân tộc Đạt Oát Nhĩ là Căn Đặc Mộc Nhĩ, để tránh sự quấy phá của quân Nga, đã dẫn tộc nhân rời vùng Nibuchu – nơi họ sinh sống qua nhiều thế hệ – di cư về phía nam quy thuận nhà Thanh và trở thành thành viên của Bát Kỳ. Tuy nhiên, đến năm Khang Hy thứ 6 (1667), ông ta bất ngờ phản Thanh theo Nga, bí mật trốn sang Nibuchu. Đến các năm Khang Hy thứ 12 và 13 (1673–1674), lại liên tiếp xảy ra những vụ đào tẩu sang Nga.

Đối mặt với hàng loạt hành động xâm lược của người Nga, Hoàng đế Khang Hy dứt khoát không dung thứ việc họ mặc sức hoành hành trên vùng đất long hưng đế nghiệp. Trong khi dốc sức dẹp yên nội loạn, ông vẫn luôn chú trọng củng cố tuyến phòng thủ phương bắc, chuẩn bị cho trận quyết chiến nhằm đánh đuổi quân Nga. Về mặt phòng ngự, biện pháp quan trọng nhất là tổ chức lực lượng “Tân Mãn Châu” và “Bố Đặc Cáp Bát Kỳ”.

“Tân Mãn Châu” là tên gọi dành cho những binh sĩ được biên chế vào Bát Kỳ sau khi nhà Thanh tiến vào Trung Nguyên. Ngay từ năm Khang Hy thứ nhất (1662), triều đình đã ban thưởng theo quân công cho những người có công trong việc tổ chức lực lượng Tân Mãn Châu. Đến năm Khang Hy thứ 10 (1671), sau khi tế bái tổ lăng, Hoàng đế Khang Hy thân chinh đến Thịnh Kinh (nay là Thẩm Dương), rồi tiếp tục lên phía bắc đến Diệp Hách (nay thuộc quận Thiết Đông, thành phố Tứ Bình, tỉnh Cát Lâm), triệu kiến Tướng quân Ninh Cổ Tháp là Ba Hải để tìm hiểu phong tục, dân tình tại Ninh Cổ Tháp cũng như tình hình các dân tộc địa phương. Ông còn chỉ dụ tướng Ba Hải khéo thi hành giáo hóa, an định dân chúng nơi biên viễn, đồng thời chú trọng thao luyện binh mã, củng cố phòng tuyến biên cương, đề phòng quân Nga xâm phạm.

Đến năm Khang Hy thứ 12 (1673), người Hách Triết, vốn nhiều đời sinh sống ngoài Sơn Hải Quan và thường xuyên triều cống nhà Thanh, đã xin được triều đình bảo hộ và tự nguyện dời vào nội địa. Theo chỉ dụ của Hoàng đế Khang Hy, Ba Hải sắp xếp cho họ định cư ở vùng phụ cận Ninh Cổ Tháp, đồng thời căn cứ theo số nhân khẩu để tổ chức thành 40 Tá lĩnh. Tá lĩnh là đơn vị tổ chức cơ bản của Bát Kỳ; tùy từng thời kỳ, mỗi Tá lĩnh quản từ hơn 100 đến khoảng 300 người. Kể từ đó, người Hách Triết trở thành một bộ phận của lực lượng Tân Mãn Châu. Ngoài ra, người Khố Nhã Lạp cũng được bố trí vào lực lượng này. Cuối cùng, Tân Mãn Châu được phân bố tại Cát Lâm, Ninh Cổ Tháp, Thịnh Kinh, Cẩm Châu và nhiều nơi khác, với tổng cộng 85 Tá lĩnh, quân số vượt quá một vạn người.

Còn Bố Đặc Cáp Bát Kỳ là lực lượng được tổ chức từ các dân tộc Ngạc Ôn Khắc, Đạt Oát Nhĩ và Ngạc Luân Xuân sinh sống ở khu vực trung và thượng lưu sông Hắc Long Giang. Các dân tộc này được gọi chung là “bộ Sách Luân”. Do nổi tiếng với tài săn bắn, họ được đặt tên theo tiếng Mãn là “Bố Đặc Cáp”, có nghĩa là “săn bắn”. Trước khi nhà Thanh tiến vào Trung Nguyên, để tránh sự quấy phá của quân Nga, bộ Sách Luân đã di cư đến vùng phụ cận sông Nen (Nộn Giang). Ngay sau khi lên ngôi, Hoàng đế Khang Hy đã tổ chức lại họ thành các Tá lĩnh, bổ nhiệm các thủ lĩnh, đồng thời lập chức Phó Đô thống Sách Luân để thống nhất quản lý. Đó chính là nguồn gốc của Bố Đặc Cáp Bát Kỳ.

Những bộ tộc quy thuận nhà Thanh này được triều đình ban cấp nhà cửa, ruộng đất và nhiều tài sản khác, nhờ đó có thể an cư lạc nghiệp qua nhiều thế hệ nơi vùng Quan Ngoại khắc nghiệt vì giá rét. Họ vừa là thần dân góp phần làm hưng thịnh kinh tế, vừa là nguồn binh lực quan trọng để củng cố phòng tuyến biên cương, trở thành lực lượng chủ yếu trấn giữ biên ải và đánh đuổi quân Nga xâm lược.

Muôn đời trấn giữ Đông Bắc

“Sau khi thân chính năm 13 tuổi, Trẫm đã luôn lưu tâm đến tình hình vùng lưu vực sông Hắc Long Giang, tường tận tìm hiểu địa thế núi sông, khoảng cách đường sá cùng phong tục và tính tình của người dân nơi ấy.” — Hoàng đế Khang Hy

(Nguồn: Trẫm thân chính chi hậu, tức lưu ý vu thử, tế phỏng kỳ thổ địa hình thắng, đạo lộ viễn cận, cập nhân vật tính tình. — “Khang Hy triều thực lục”)

Sau khi quân Thanh tiến đến thành Ái Hồn, họ lập tức bố trí quân đồn trú và bắt tay xây dựng thành mới Hắc Long Giang với quy mô lớn hơn và hệ thống phòng thủ kiên cố hơn. Trong hình là bức “A Ngọc Tích cầm giáo diệt giặc” do họa sĩ Lang Thế Ninh thời Thanh vẽ. (Ảnh: Phạm vi công cộng)

Lấy nhân chính làm nền tảng trị quốc, Hoàng đế Khang Hy cũng áp dụng sách lược lấy hòa làm quý, trước lễ sau binh đối với quân Nga xâm lược. Từ khi đích thân chấp chính, ông đã tiến hành ít nhất 6 lần giao thiệp hoặc đàm phán với phía Nga. Một là yêu cầu quân Nga chấm dứt các hành động gây hấn nơi biên giới và trả lại lãnh thổ của nhà Thanh; hai là đòi phía Nga trao trả kẻ đào tẩu Căn Đặc Mộc Nhĩ, nhằm giữ gìn pháp luật và uy nghiêm của Đại Thanh. Đồng thời, ông cũng bày tỏ mong muốn hai nước tiến hành thương mại bình đẳng và thiết lập quan hệ ngoại giao hữu hảo, thể hiện phong thái của một bậc minh quân.

Thế nhưng, phái bộ Nga vì lòng tham đã phớt lờ khí độ và thiện chí của Hoàng đế Khang Hy, liên tiếp kéo dài việc thương thuyết. Trong khi đó, quân Nga vẫn lấy Nibuchu và Yaksa làm căn cứ, tiếp tục mở rộng thế lực đến vùng sông Tinh Kỳ Lý và sông Ngạch Nhĩ Cổ Nạp. Trước tình hình ấy, Hoàng đế Khang Hy nghiêm chính tuyên bố: “Nếu các ngươi không rút khỏi biên giới, chiến tranh giữa Thanh và Nga tất sẽ nổ ra nơi biên cương. Trẫm nhất định điều động đại quân đánh đuổi các ngươi; đến lúc ấy hối hận cũng đã muộn”. Sau nhiều lần giao thiệp, đàm phán, thậm chí cảnh cáo mà đều không đem lại kết quả, Hoàng đế Khang Hy quyết định không tiếp tục nhân nhượng. Một cuộc đại chiến để bảo vệ non sông bờ cõi sắp sửa bắt đầu.

Năm Khang Hy thứ 20 (1681), cuộc nổi loạn Tam Phiên được dẹp yên. Hoàng đế Khang Hy bắt đầu dồn thêm sức mạnh chính trị và quân sự về vùng đông bắc của nhà Thanh, thực hiện chiến lược kết hợp giữa tác chiến quân sự với đàm phán ngoại giao và xây dựng công trình phòng ngự, đồng thời tiến hành những bước chuẩn bị hết sức chu đáo. Nửa đầu năm Khang Hy thứ 21 (1682), ông một lần nữa tuần du phương đông. Sau khi tế bái tổ tiên tại Thịnh Kinh, ông tiếp tục đi về phía bắc để đích thân thị sát việc bố trí phòng thủ biên cương. Đến tháng 9, ông sai Phó Đô thống Lang Đàm và Bành Xuân lấy danh nghĩa đi săn hươu, dẫn vài trăm người đến Yaksa để trinh sát địa hình và đường sá.

Chẳng bao lâu sau, Lang Đàm cùng các thuộc hạ trở về kinh báo cáo: “Đánh chiếm La Sát vô cùng dễ dàng, chỉ cần 3000 quân là đủ”. Đồng thời, họ kiến nghị nhanh chóng xuất binh. Tuy nhiên, Hoàng đế Khang Hy cho rằng việc chuẩn bị chu đáo về phòng thủ còn quan trọng hơn việc vội vàng phát động chiến tranh. Vì vậy, ông đưa ra những bố trí sau: giao Tướng quân Ninh Cổ Tháp Ba Hải ở lại trấn giữ; bổ nhiệm Tát Bố Tố và Ngõa Lễ Hỗ làm Phó Đô thống Ninh Cổ Tháp, điều động 1.500 quân, đóng chiến thuyền, trang bị đại bác Hồng Y, súng điểu thương cùng nhiều loại vũ khí khác để phòng thủ hai thành Hắc Long Giang (thành Ái Hồn cũ) và Hô Mã Nhĩ. Quân Ninh Cổ Tháp còn được lệnh xây dựng thành gỗ, khai khẩn ruộng đất, vừa sản xuất vừa đối đầu với quân Nga, tùy thời cơ mà hành động.

Đến năm Khang Hy thứ 22 (1683), tướng sĩ Ninh Cổ Tháp cùng gia quyến lần lượt chuyển đến định cư tại hai thành này (Hô Mã Nhĩ sau đổi tên thành Ngạch Tô Lý, nay thuộc lãnh thổ Nga), với quy mô cuối cùng là mỗi thành có 1000 người. Hoàng đế Khang Hy kỳ vọng quân Thanh sẽ xây thành và trấn giữ lâu dài tại Hắc Long Giang, thực hiện mục tiêu lâu dài “đánh thì tất thắng, thắng rồi thì giữ vững” bằng phương thức kết hợp phòng thủ biên cương với khai khẩn đồn điền.

Sau khi quân Thanh đến thành Ái Hồn, họ lập tức bố trí quân đồn trú và bắt tay mở rộng thành mới Hắc Long Giang với quy mô lớn hơn, hệ thống phòng thủ kiên cố hơn. Tát Bố Tố được thăng chức Tướng quân Hắc Long Giang. Chức vụ mới này, cùng với Tướng quân Thịnh Kinh và Tướng quân Ninh Cổ Tháp (sau đổi thành Tướng quân Cát Lâm), đã đặt nền móng cho cục diện ba tỉnh Đông Bắc về sau. Tát Bố Tố còn chỉ huy binh sĩ khai khẩn đồn điền, tích trữ lương thực, quản lý việc canh tác tại địa phương, bảo đảm nguồn lương thảo dồi dào. Để chuẩn bị cho đại chiến, triều đình cũng tích cực xây dựng xưởng đóng thuyền, tăng lập các trạm dịch và mở các tuyến vận chuyển vật tư, khiến mọi điều kiện cho cuộc chiến ngày càng hoàn thiện.

Việc Hoàng đế Khang Hy điều binh trấn giữ biên cương đã ngăn chặn hữu hiệu đà bành trướng của quân Nga xuống khu vực trung và hạ lưu sông Hắc Long Giang. Song song với đó là một chiến dịch ngoại giao mạnh mẽ. Hoàng đế Khang Hy gửi thư cho nước Nga, khẳng định quyết tâm của nhà Thanh trong việc trấn giữ biên cương và thu hồi lãnh thổ đã mất. Nằm tại vị trí đầu mối và chiến lược trên thượng nguồn sông Hắc Long Giang, Yaksa trở thành thành trì đầu tiên mà quân Thanh quyết tâm đánh chiếm.

Quyết chiến tại Yaksa

“Quân ta binh hùng tướng mạnh, chiến thuyền kiên cố, hỏa pháo lợi hại; nước Nga ắt không thể chống nổi, tất sẽ trả lại đất đai và quy thuận. Đến lúc ấy, các khanh không được giết một người nào, hãy để họ trở về cố quốc, hầu bày tỏ tấm lòng của Trẫm là lấy đức nhu viễn, an phủ người phương xa.” — Hoàng đế Khang Hy

(Nguồn: Dĩ ngã binh mã tinh tráng, khí giới kiên lợi. La sát thế bất năng địch, tất hiến địa quy thành. Nhĩ thì vật sát nhất nhân, tỉ hoàn cố thổ, tuyên trẫm nhu viễn chí ý. — “Khang Hy triều thực lục”)

Quân đội triều Thanh tấn công thành Yaksa. (Phạm vi công cộng)

Ngay cả khi buộc phải dùng đến vũ lực để chinh phạt quân Nga, Hoàng đế Khang Hy vẫn giữ trọn tấm lòng nhân nghĩa và từ bi. ông đối đãi tử tế với các tù binh Nga, đồng thời cử họ mang chỉ dụ về cho chính phủ Nga, mong phía Nga tự nguyện rút khỏi vùng Đông Bắc của Trung Quốc để tránh cảnh binh đao. Tháng giêng năm Khang Hy thứ 24 (1685), Hoàng đế Khang Hy ban chiếu, quyết định chính thức phát binh đánh Yaksa. Trong chiếu thư, ông liệt kê hàng loạt hành vi tàn bạo của quân Nga như xâm phạm biên giới, chứa chấp kẻ đào tẩu, đốt phá, giết chóc và cướp bóc. Nếu quân Nga kịp thời rút quân, trao trả những người đào tẩu, thì hai nước có thể lấy Yakutsk (nay thuộc Nga) làm ranh giới để giảng hòa và thông thương; bằng không, quân Thanh sẽ tùy cơ hành động.

Tháng 4, 3000 quân Thanh do Bành Xuân chỉ huy phụng mệnh tiến đến Yaksa. Trên đường đi, triều đình sắp xếp cho 6 tù binh Nga trở về nước, mang theo lời khuyên chân thành của Hoàng đế Khang Hy: nếu quân Nga nhanh chóng rút lui, ông sẽ lập tức hạ lệnh cho quân Thanh dừng tiến quân, để biên giới hai nước tránh khỏi chiến họa và nhân dân cùng được hưởng cảnh thái bình. Khoảng một tháng sau, quân Thanh áp sát dưới chân thành Yaksa, trước tiên cử các tù binh vào thành trao hai thư dụ, gửi lời cảnh cáo cuối cùng đến quân Nga. Tin vào thành lũy kiên cố, quân Nga vẫn ngạo mạn, cự tuyệt rút quân, khiến quân Thanh quyết định phát động tấn công.

Ngày 23/5, quân Thanh chia làm hai cánh thủy quân và lục quân dựng doanh trại; đêm 24, bố trí các loại hỏa khí trước trận. Rạng sáng ngày 25, đại bác đồng loạt khai hỏa, quân Thanh mở cuộc công thành dữ dội. Trong thành Yaksa, khói thuốc súng cuồn cuộn, lửa cháy ngút trời, khắp nơi rơi vào hỗn loạn. Quân Nga kinh hoàng, nhanh chóng bị đánh đến đường cùng, buộc phải ra khỏi thành đầu hàng xin tha chết.

Có lẽ nhờ sự chuẩn bị chu đáo từ trước, trận thu hồi Yaksa lần thứ nhất diễn ra vô cùng thuận lợi. Viên thống đốc Nga thậm chí còn thề rằng suốt đời sẽ không bao giờ quay lại Yaksa nữa. Bành Xuân nghiêm cẩn tuân theo dụ chỉ của Hoàng đế Khang Hy: “không được giết một người nào, để họ trở về cố quốc”. Ông phóng thích hơn 700 tù binh Nga, cho phép họ mang theo vũ khí và tài sản của mình, đồng thời thu xếp ổn thỏa cho hơn 40 người không muốn hồi hương. Ngoài ra, Bành Xuân còn giải cứu những người dân bị quân Nga bắt giữ trong thành và sắp xếp để họ trở về quê hương. Những nghĩa cử sau chiến thắng ấy đều được Hoàng đế Khang Hy khen ngợi.

Tháng 6, Hoàng đế Khang Hy luôn lo trước nỗi lo của thiên hạ trong lúc đất nước đang thái bình, căn dặn các tướng sĩ tiền tuyến tuyệt đối không được lơ là việc phòng thủ Yaksa. Bởi nếu quân Thanh tiến thì quân Nga lui, còn quân Thanh rút thì quân Nga lại tiến, chiến sự sẽ dây dưa bất tận. Đến tháng 9, ông hạ lệnh cho quân Thanh xây thành, lập trạm dịch, thiết lập tuyến thông tin thông suốt giữa vùng Đông Bắc và kinh thành. Không ngờ, Bành Xuân cùng các tướng lĩnh lại không tuân chỉ, sau khi đốt phá Yaksa đã tự ý rút quân. Nắm được tin này, quân Nga lập tức lợi dụng thời cơ; chỉ hai tháng sau, hơn 800 quân Nga lại quay về chiếm đóng Yaksa.

Tháng 2 năm Khang Hy thứ 25 (1686), Hoàng đế Khang Hy mới nhận được tin quân Nga tái chiếm Yaksa. Ông lập tức triển khai kế hoạch thu hồi Yaksa lần thứ hai, cử Tướng quân Hắc Long Giang Tát Bố Tố thống lĩnh chiến dịch. Tháng Năm, Tát Bố Tố dẫn 2000 quân thẳng tiến Yaksa, chia quân đánh mạnh từ cả hai hướng nam và bắc, tiêu diệt hơn 100 quân địch, buộc quân Nga phải rút vào cố thủ trong thành.

Hai bên rơi vào thế giằng co. Để tránh thương vong quá lớn, Tát Bố Tố quyết định chuyển sang chiến thuật vây hãm. Quân Thanh đắp lũy, đào hào bao quanh Yaksa, biến nơi đây thành một cô thành bị cô lập hoàn toàn. Quân Nga bị vây chặt, theo thời gian lâm vào cảnh cạn kiệt đạn dược và lương thực. Hơn 800 người bị vây cuối cùng chỉ còn lại 66 người, thành trì nguy ngập, thất thủ chỉ còn tính từng ngày.

Đến lúc ấy, chính phủ Nga mới nhận ra tình thế, lập tức vào tháng 9 phái sứ đoàn ngày đêm lên đường tới Bắc Kinh, bày tỏ đồng ý đàm phán về vấn đề biên giới Trung – Nga, đồng thời mong quân Thanh ngừng bao vây Yaksa để chờ sứ đoàn của Bá tước Golovin đến kinh đô. Hoàng đế Khang Hy tiếp đón sứ thần theo đúng lễ nghi, đồng thời lập tức hạ lệnh dỡ bỏ vòng vây, cho phép người Nga trong thành được tự do ra vào, qua đó một lần nữa thể hiện phong thái của một bậc nhân quân. Đến đây, cuộc chiến Yaksa lần thứ hai khép lại, và quan hệ giữa nhà Thanh với nước Nga chuyển sang giai đoạn hòa đàm.

Hiệp ước Nerchinsk

“Trẫm cho rằng Nibuchu (Nerchinsk), Yaksa, toàn bộ lưu vực thượng và hạ nguồn sông Hắc Long Giang, cùng mọi con sông, khe suối thông với dòng sông ấy, đều là lãnh thổ của Đại Thanh. Không thể để người Nga chiếm lấy dù chỉ một tấc đất.” Hoàng đế Khang Hy

(Nguồn: Trẫm dĩ vi ni bố triều, nhã khắc tát, hắc long giang thượng hạ, cập thông thử giang chi nhất hà nhất khê, giai ngã sở thuộc chi địa, bất khả thiểu khí chi vu ngạc la tư. — “Khang Hy triều thực lục”)

Bản tiếng Latinh của Hiệp ước Nerchinsk. (Phạm vi công cộng)

Quá trình đàm phán cũng trải qua nhiều khúc quanh trắc trở. Dưới sự thúc giục liên tục của triều Thanh, mãi đến năm Khang Hy thứ 27 (1688), sứ đoàn của Bá tước Golovin mới đến kinh thành. Ban đầu, địa điểm đàm phán được ấn định tại Sắc Lăng Ngạch. Tháng 5, sứ đoàn đại diện triều Thanh lên đường, nhưng khi đi qua vùng Khách Nhĩ Khách Mông Cổ thì gặp binh biến do Cát Nhĩ Đan gây ra, buộc phải quay về và chọn địa điểm hội đàm khác.

Tháng 4 năm Khang Hy thứ 28 (1689), sứ thần Nga một lần nữa đến Bắc Kinh. Đại thần Tác Ngạch Đồ ra mặt tiếp đón và quyết định chuyển địa điểm đàm phán đến Nibuchu (Nerchinsk). Lần này, phái đoàn của triều Thanh quy tụ nhiều danh thần, danh tướng như Tác Ngạch Đồ, Đồng Quốc Cương, Lang Đàm, Tát Bố Tố… Cuối tháng, sứ đoàn Thanh lại lên đường. Kết quả lý tưởng nhất của cuộc đàm phán là toàn bộ vùng Mãn Châu, cùng những nơi bị chiếm đóng như Nibuchu và Yaksa, đều phải thuộc về Đại Thanh, không thể nhượng bỏ dù chỉ một phần. Tuy nhiên, Hoàng đế Khang Hy cũng dự liệu mối uy hiếp tiềm tàng từ Cát Nhĩ Đan. Để tránh việc hòa đàm đổ vỡ, khiến nhà Thanh rơi vào thế phải đối đầu trên hai mặt trận, ông căn dặn các sứ thần: “Khi bắt đầu đàm phán, hãy lấy Nibuchu làm ranh giới; nếu phía Nga khẩn thiết xin giữ Nibuchu, thì lấy sông Ngạch Nhĩ Cổ Nạp làm ranh giới”.

Trong khi đó, phía Nga với tham vọng lớn muốn chiếm trọn bờ bắc sông Hắc Long Giang. Phái đoàn triều Thanh tuân theo chỉ dụ của Hoàng đế Khang Hy, kiên trì đấu lý trên cơ sở chính nghĩa. Cuối cùng, vào ngày 24/7 năm Khang Hy thứ 28 (1689), hai bên đạt được thỏa thuận và ký kết Hiệp ước Nerchinsk giữa Trung Quốc và Nga, xác định đường biên giới ở đoạn phía đông giữa hai nước, đồng thời giải quyết vấn đề thương mại giữa hai bên.

Theo Hiệp ước Nerchinsk, đường biên giới giữa hai nước được xác định dọc theo sông Gorbitsa, dãy Ngoại Hưng An (dãy Stanovoy) và sông Ngạch Nhĩ Cổ Nạp (Erguna). Vì vậy, quân Nga phải rút khỏi Yaksa và các vùng lãnh thổ khác thuộc nhà Thanh, còn Nibuchu thuộc về nước Nga. Sau đó, Hoàng đế Khang Hy cho dựng bia mốc tại khu vực biên giới, khắc nội dung hiệp ước bằng ba thứ tiếng: Mãn, Nga và Latinh, đồng thời định kỳ cử người tuần tra. Ông cũng tăng cường các đồn canh dọc lưu vực sông Hắc Long Giang, thường xuyên tuần sát biên giới để ngăn chặn quân Nga vượt biên quấy nhiễu.

Hiệp ước Nerchinsk có thể được xem là hiệp ước đầu tiên được ký kết giữa Trung Quốc với Nga, cũng như giữa Trung Quốc với quốc gia nước ngoài; đồng thời là một trong những điều ước quốc tế sớm nhất trong lịch sử thế giới. Văn bản chính thức của hiệp ước được soạn bằng tiếng Latinh, ngoài ra còn có các bản bằng tiếng Hán và tiếng Nga. Đối với nhà Thanh, hiệp ước này mang ý nghĩa vô cùng trọng đại. Trong hơn 170 năm sau đó, quan hệ giữa Trung Quốc và Nga nhìn chung duy trì hữu hảo; vùng Đông Bắc cũng khôi phục sự ổn định và hòa bình lâu dài, trở thành hậu phương giàu mạnh và vững chắc của triều Thanh. Sự hưng thịnh của vương triều Thanh và sự xuất hiện của thời kỳ Khang – Càn thịnh thế về sau đều có sự đóng góp quan trọng của hiệp ước này.

Hoàng đế Khang Hy từng nói: “Trẫm lấy nhân nghĩa để trị thiên hạ, vốn không thích giết chóc”. Từ ngàn xưa, dân tộc Trung Hoa luôn đề cao các giá trị Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Trong quá trình chống lại cuộc xâm lược của nước Nga, Hoàng đế Khang Hy cũng thể hiện trọn vẹn những mỹ đức truyền thống ấy:

Mang lòng từ bi, nhiều lần khuyên dụ quân Nga, tận lực hóa giải chiến tranh giữa hai nước, ấy là Nhân. Đối đãi tử tế với tù binh, giữ tình hữu hảo với nước láng giềng, cứu giúp những quân sĩ còn sót lại trong tòa thành bị vây hãm, ấy là Nghĩa. Nhiều lần gửi thư ngoại giao, chỉ dùng binh sau khi mọi nỗ lực đàm phán đều thất bại, thể hiện trọn vẹn thành ý hòa đàm, ấy là Lễ. Bày mưu tính kế, nhìn xa trông rộng, từ tiến công đến phòng thủ đều kín kẽ, không có sơ hở, ấy là Trí. Lời đã nói ắt giữ trọn, nghiêm túc tuân thủ điều ước, kiên quyết bảo vệ lãnh thổ và làm rạng danh quốc uy Trung Hoa, ấy là Tín.

Ngoài ra, Hiệp ước Nerchinsk còn đem đến một ý nghĩa mới cho danh xưng “Trung Quốc”, dùng để chỉ nhà Thanh, bao gồm cả vùng Đông Bắc và Mông Cổ. Đây cũng là văn kiện quốc tế đầu tiên sử dụng khái niệm “Trung Quốc” để chỉ triều Thanh. Từ đó, khái niệm “Trung Quốc” đã chuyển biến từ ý niệm mơ hồ về “Trung Nguyên” hoặc triều đại chính thống của người Hoa trước đây, trở thành một danh xưng mang ý nghĩa chủ quyền quốc gia – cũng chính là cách hiểu về Trung Quốc ngày nay.

Chịu trách nhiệm biên tập bản tiếng Trung: Vương Du Duyệt

(Còn tiếp)

(The Epoch Times)

Dịch từ: https://www.epochtimes.com/gb/20/5/26/n12138633.htm