Tác giả: Tổ Văn hóa The Epoch Times

[ChanhKien.org]

Đối mặt với kỵ binh tinh nhuệ nơi Tây Bắc, Hoàng đế Khang Hy dù ngày đêm trăm việc, vẫn kiên quyết ngự giá thân chinh, thống lĩnh đại quân tiến công thảo phạt. Hình minh họa Hoàng đế Khang Hy, bậc minh quân khai sáng thời kỳ Khang – Ung – Càn thịnh thế. (The Epoch Times chế tác)

Biên giới phía Đông Bắc của triều Thanh vừa mới yên ổn thì khói lửa chiến tranh lại bùng lên nơi đại mạc Tây Bắc. Một triều đại nhất thống đang trong thời kỳ cực thịnh vẫn phải đối mặt với thử thách chiến tranh lớn cuối cùng. Từ các bộ tộc Mông Cổ — vốn có truyền thống kết thân thông gia và trung thành với nhà Thanh qua nhiều thế hệ — bỗng xuất hiện một kẻ có tham vọng bá chủ tên là Cát Nhĩ Đan. Hắn mưu đồ xưng bá ở vùng Tây Bắc để chia đôi bờ cõi, đối đầu trực tiếp với nhà Thanh, trở thành kẻ đại địch của Hoàng đế Khang Hy.

Từ khi dẹp loạn Tam Phiên vào năm Khang Hy thứ 12 đến trận chiến Yaksa vào năm Khang Hy thứ 25, trong hơn 10 năm ấy, chiến sự trong ngoài liên miên không dứt. Trước sức mạnh của đội kỵ binh tinh nhuệ vùng Tây Bắc, giữa lúc ngày đêm xử lý trăm công nghìn việc triều chính, Hoàng đế Khang Hy vẫn đích thân thống lĩnh đại quân chinh phạt. Việc ngự giá thân chinh đã cổ vũ mạnh mẽ sĩ khí của các tướng sĩ nơi tiền tuyến, tiếp nối hào khí của người Mãn Châu gây dựng thiên hạ trên lưng ngựa, đồng thời viết thêm một chương truyền kỳ về chiến công quân sự hiển hách của Thánh Tổ Hoàng đế.

Bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ làm loạn

“Trẫm đọc kinh sử, thấy các bộ tộc Mông Cổ ngoài biên ải từ lâu vẫn thường đối kháng với Trung Nguyên. Từ thời Hán, Đường, Tống cho đến Minh, các triều đại đều chịu nhiều tổn hại vì họ. Chỉ có triều Đại Thanh của Trẫm mới có thể gây dựng uy danh nơi Mông Cổ và khiến họ một lòng quy phục. Trong lịch sử, từ trước đến nay chưa từng có triều đại nào làm được như vậy.” — Hoàng đế Khang Hy

(Nguồn: Trẫm duyệt kinh sử, Tái ngoại Mông Cổ đa dữ Trung Quốc kháng hành, tự Hán, Đường, Tống chí Minh, lịch đại câu bị kỳ hại. Nhi khắc tuyên uy Mông Cổ, tịnh lệnh quy tâm như ngã triều giả, vị chi hữu dã. — “Khang Hy triều thực lục”)

Cát Nhĩ Đan tự ý xưng Hãn, ngang nhiên cướp bóc, tàn sát, khiến đại mạc rơi vào cảnh hỗn loạn, cũng khiến triều đình vô cùng phẫn nộ. Trong hình là bức tranh “Trận A Nhĩ Sở Nhĩ” trong bộ tranh “Bình định Chuẩn bộ Hồi bộ đắc thắng đồ” do họa sĩ Đinh Quan Bằng cùng các họa sĩ triều Thanh thực hiện. (Ảnh: Tư liệu công cộng)

Vào cuối triều Minh, các bộ tộc Mông Cổ ở phương Bắc được chia thành 3 khu vực lớn: Mạc Nam (Nội Mông Cổ ngày nay), Mạc Bắc (Ngoại Mông Cổ Khách Nhĩ Khách) và Mạc Tây (Ngạch Lỗ Đặc Mông Cổ); trong đó vùng Mạc Bắc và Mạc Tây mỗi nơi đều có 4 bộ tộc lớn nắm quyền. Từ thời Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực, vùng Mạc Nam đã được sáp nhập vào lãnh thổ nhà Thanh, còn các bộ tộc lớn ở Mạc Bắc và Mạc Tây tuy chưa sáp nhập nhưng quanh năm đều cử sứ giả đến triều cống cho nhà Thanh, dâng một con lạc đà trắng và tám con ngựa trắng, gọi là “Cửu Bạch chi cống” – là quy cách triều cống có nghi lễ cực cao.

Ban đầu các bộ tộc Mông Cổ chung sống hòa thuận dưới sự cai trị và bảo hộ của triều Thanh, nhưng sự trỗi dậy của bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ ở vùng Mạc Tây đã phá vỡ thế cân bằng giữa các bộ tộc Mông Cổ. Thủ lĩnh Ba Đồ Nhĩ Hồn Đài Cát không ngừng bành trướng thế lực, thôn tính 3 bộ lạc còn lại, hợp nhất thành một, xưng bá vùng Mạc Tây Mông Cổ. Năm Khang Hy thứ 4 (1665), Ba Đồ Nhĩ Hồn Đài Cát qua đời, nội bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ xảy ra tranh giành quyền lực. Con trai ông ta là Cát Nhĩ Đan tức tốc từ Tây Tạng trở về, thẳng tay dẹp loạn, kẻ làm loạn thì bắt giam, kẻ thì xử tử, rồi chính thức trở thành Hồn Đài Cát (thủ lĩnh) mới của bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ.

Cát Nhĩ Đan cũng là nhân vật truyền kỳ với nhiều trải nghiệm phong phú. Hắn được Hoàng giáo Tây Tạng xác nhận là hóa thân chuyển thế của vị “Hoạt Phật” (Phật sống) đời thứ ba. Từ nhỏ, hắn đã xuất gia tu học Phật pháp tại Tây Tạng, ban đầu bái Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 4 làm thầy, sau đó đi theo Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 5 và rất được coi trọng. Thế nhưng, bản thân hắn không hứng thú với kinh Phật, mà chỉ đam mê võ nghệ, đồng thời thường xuyên quan tâm đến các công việc quân sự và chính trị của bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ. Đến khi bộ tộc xảy ra biến loạn, hắn nhanh chóng dẹp yên nội loạn bằng những biện pháp cứng rắn, rồi thuận lợi bước lên ngôi thủ lĩnh.

Sau đó, Cát Nhĩ Đan thừa thắng tiếp tục bành trướng thế lực. Năm Khang Hy thứ 16 (năm 1677), hắn đem quân tấn công bộ tộc Hòa Thạc Đặc khi ấy đã di cư đi nơi khác, thậm chí nhẫn tâm sát hại chính nhạc phụ của mình là Ngạc Tề Nhĩ Đồ Hãn, thủ lĩnh bộ tộc Hòa Thạc Đặc. Cát Nhĩ Đan tự ý xưng Hãn, ép buộc các bộ tộc phải tuân theo hiệu lệnh của mình. Việc hắn ngang nhiên chém giết, cướp bóc khắp nơi đã khiến cho vùng sa mạc rơi vào cảnh loạn lạc bất ổn, cũng khiến triều đình vô cùng phẫn nộ.

Hoàng đế Khang Hy luôn hậu đãi người Mông Cổ, kiên trì thực thi chính sách thân thiện và hữu hảo để giải quyết các mâu thuẫn giữa các bộ tộc Mông Cổ. Vì vậy, ông nhiều lần hạ chiếu khuyên dụ Cát Nhĩ Đan, đồng thời đứng ra che chở, trấn an những bộ tộc bị Cát Nhĩ Đan đánh bại, tái biên chế, ban danh hiệu, cũng như tiếp tế lương thực và gia súc để họ ổn định cuộc sống. Thế nhưng, Cát Nhĩ Đan bề ngoài tỏ ra kính cẩn nghe theo, nhưng bên trong lại nuôi dã tâm lớn. Trong khi xưng thần và triều cống triều đình, hắn không chỉ yêu cầu Hoàng đế Khang Hy công nhận tước vị Hãn của mình, mà còn liên tục đem quân đi gây chiến khắp nơi, ngầm mưu tính nuốt trọn cả vùng Mạc Bắc Khách Nhĩ Khách.

Năm Khang Hy thứ 26 (1687), lợi dụng mâu thuẫn giữa hai cánh tả hữu của Khách Nhĩ Khách là bộ Thổ Tạ Đồ Hãn và bộ Trát Tát Khắc Đồ Hãn, Cát Nhĩ Đan thống lĩnh 30.000 quân tấn công bộ Thổ Tạ Đồ Hãn, rồi tiếp tục tiến về phía đông đánh chiếm và vơ vét các đồng cỏ của bộ Xa Thần Hãn. Người Khách Nhĩ Khách tập hợp binh lực của 3 bộ tộc để giao chiến suốt 3 ngày đêm với Cát Nhĩ Đan, nhưng cuối cùng vẫn đại bại. Người dân du mục phải bỏ lại cả lều trại, tài sản cùng trâu bò, cừu ngựa để tháo chạy, dòng người trốn chạy đông nghịt, ngày đêm không ngớt nghỉ.

Các bộ tộc thuộc hai cánh tả hữu Khách Nhĩ Khách bèn quay sang xin sáp nhập vào bờ cõi, xin quy thuận vị “Đại Hoàng đế” của triều Thanh. Vì sự ổn định lâu dài của vùng Mông Cổ, sau khi ban cấp lương thực và của cải cho họ, Hoàng đế Khang Hy lại tiếp tục đứng ra tổ chức một buổi hội thề vô cùng long trọng giữa các thủ lĩnh bộ tộc mới quy thuận này với các vương công thuộc bộ tộc Khoa Nhĩ Thấm ở Nội Mông Cổ.

Đồng thời, Hoàng đế Khang Hy hạ chiếu truyền dụ Cát Nhĩ Đan, bày tỏ mong muốn người Mông Cổ cùng hưởng thái bình, tránh xa nỗi khổ của chiến tranh loạn lạc, cũng nghiêm giọng yêu cầu hắn phải sống hòa thuận với các bộ tộc Khách Nhĩ Khách, trả lại đất đai đồng cỏ và rút quân về bản doanh của mình. Thế nhưng, Cát Nhĩ Đan đã đáp lại như thế nào?

Quyết chiến Đà thành

“Bản triều từ khi lập quốc đến nay, hễ ra quân là bách chiến bách thắng, đánh đâu thắng đó, sở dĩ vô địch thiên hạ là nhờ vào việc thưởng phạt phân minh, kỷ luật nghiêm minh, tướng sĩ dũng mãnh, vũ khí hoàn hảo, cùng với việc người người đều đồng lòng muốn báo quốc, thế nên khi ra trận ai nấy đều xả thân quên mình, anh dũng xông pha lên trước.” — Hoàng đế Khang Hy

(Nguồn: Bản triều tự liệt thánh dĩ lai, chiến tất thắng, công tất khắc, sở hướng vô địch giả, giai dĩ thưởng phạt minh, pháp chế nghiêm, binh tốt tinh nhuệ, khí giới kiên lợi, nhân tư báo quốc, đàn tâm phấn dũng chi sở trí dã. — “Khang Hy triều thực lục”)

Trong hình là bức “Trận chiến Hoắc Tư Khố Lỗ Khắc” trong bộ tranh “Bình định Chuẩn bộ Hồi bộ đắc thắng đồ” do Đinh Quan Bằng cùng các họa sĩ triều Thanh thực hiện. (Ảnh: Tư liệu công cộng)

Mặc dù Cát Nhĩ Đan đã đánh tan các bộ tộc Mông Cổ Khách Nhĩ Khách, nhưng do người Khách Nhĩ Khách đã di cư vào nội địa nên hắn không thu được nhiều nhân khẩu và gia súc, tức là không cướp được lợi ích thực tế đáng kể nào. Do đó, hắn chưa bao giờ ngừng cuộc chiến với người Khách Nhĩ Khách.

Ban đầu, Cát Nhĩ Đan còn cử sứ giả vào kinh, tỏ ra trung thành, thuần phục. Nhưng vì tự cho mình có trong tay hàng trăm nghìn kỵ binh thiện chiến, lại chiếm giữ vùng đất rộng lớn của Hồi Bộ, Thanh Hải và Mạc Bắc, nên hắn ngày càng trở nên kiêu căng, ngang ngược, công nhiên chống lại chính sách hòa giải của Hoàng đế Khang Hy. Đồng thời, hầu như năm nào hắn cũng ngầm thông đồng với nước Nga, tìm kiếm sự liên minh cùng viện trợ về quân đội và pháo hỏa từ phía Nga.

Ở phía bên kia, Hoàng đế Khang Hy cũng luôn theo dõi sát mọi động thái của Cát Nhĩ Đan. Từ năm Khang Hy thứ 27 (1688), ông lệnh cho các vương công và đại thần thống lĩnh tướng sĩ đến trấn thủ vùng biên, đề phòng Cát Nhĩ Đan xâm chiếm xuống phía Nam. Tháng 5 năm Khang Hy thứ 29 (1690), Cát Nhĩ Đan dẫn 30.000 quân vượt sông Ô Nhĩ Trát tiến xuống phía Nam, ngang nhiên tuyên bố sẽ “mượn binh của nước Nga để cùng tấn công Khách Nhĩ Khách”. Hoàng đế Khang Hy lập tức triển khai đối sách: một mặt điều quân chi viện tiền tuyến, mặt khác cảnh cáo sứ thần nước Nga đang lưu lại kinh thành, yêu cầu quân Nga tuân thủ “Hiệp ước Nerchinsk”, không được can dự vào cuộc biến loạn của quân Cát Nhĩ Đan, nhằm cắt đứt nguồn viện trợ dành cho hắn.

Một tháng sau, Cát Nhĩ Đan đóng quân tại sông Ô Nhĩ Hội. Hoàng đế Khang Hy căn dặn tướng lĩnh nơi tiền tuyến là A Lạt Ni rằng, trước khi viện binh đến, chỉ được theo dõi mọi động tĩnh của quân Cát Nhĩ Đan, tuyệt đối không được giao chiến. Thế nhưng A Lạt Ni đã trái lệnh vua, tự ý phát động tấn công, phái 200 quân đánh đội tiên phong của đối phương, rồi lại điều 500 quân tập kích đoàn xe quân nhu. Kết quả, quân Thanh mải mê cướp đoạt tài sản của địch, tự làm loạn trận, ngược lại còn bị Cát Nhĩ Đan đánh cho đại bại. A Lạt Ni cũng bị xử lý cách chức.

Tháng 7, Cát Nhĩ Đan đã tiến sâu vào khu vực Ô Châu Mục Thấm. Trước tình thế đó, Hoàng đế Khang Hy đưa ra một quyết định táo bạo và cổ vũ lòng người: ngự giá thân chinh. Ông bố trí đại quân thành 3 lộ: lộ quân phía Tây do Dụ Thân vương Phúc Toàn và Hoàng tử Dận Đề chỉ huy, xuất phát từ Cổ Bắc Khẩu trên Vạn Lý Trường Thành; lộ quân phía Đông do Giản Thân vương Nhã Bố và Đa La Tín Quận vương Ngạc Trát thống lĩnh, xuất phát từ Hỷ Phong Khẩu; lộ quân trung tâm do đích thân hoàng đế chỉ huy.

Đáng tiếc, sau khi xuất chinh, Hoàng đế Khang Hy lâm bệnh, buộc phải dừng chân tại Ba La Hà Đồn (nay thuộc Long Hóa, tỉnh Hà Bắc). Dù đang mắc bệnh, ông vẫn kiên trì trực tiếp chỉ huy mọi công việc quân sự của các đạo quân.

Cuối tháng 7, Cát Nhĩ Đan tiến đến Ô Lan Bố Thông, một thị trấn chỉ cách Bắc Kinh khoảng 700 dặm. Phủ Viễn Đại tướng quân, tức Dụ Thân vương Phúc Toàn, bày binh bố trận ở bên kia sông, chuẩn bị nghênh chiến. Cát Nhĩ Đan sử dụng một chiến thuật đặc biệt gọi là “Đà thành” (thành lạc đà) kỳ lạ, tức là dùng 10.000 con lạc đà xếp thành một vòng phòng ngự, buộc chân để chúng quỳ rạp xuống đất, trên lưng chất đầy hòm gỗ rồi phủ thêm một lớp nỉ ướt. Quân địch ẩn nấp phía dưới các hòm gỗ, lợi dụng những khe hở để bắn pháo hỏa, đồng thời dùng câu mâu tấn công đối phương.

Thế trận này vừa thủ vừa công được, nhưng quân Thanh không hề nao núng. Quân tiên phong dùng hỏa pháo tập trung đánh mạnh vào một đoạn của trận Đà thành. Từ buổi chiều cho đến đêm, tiếng pháo rung chuyển trời đất, khói thuốc súng mù mịt khắp chiến trường. Cuối cùng, quân Thanh phá tan trận Đà thành, chia cắt nó thành hai phần. Bộ binh và kỵ binh lập tức thừa thắng xông vào, đánh tan quân địch, còn Cát Nhĩ Đan lợi dụng màn đêm để trốn thoát. Đây là một trận chiến vô cùng ác liệt. Cậu của Hoàng đế Khang Hy là Đồng Quốc Cương đã tử trận nơi sa trường, quân Thanh cũng chịu tổn thất rất nặng nề.

Nào ngờ, Cát Nhĩ Đan xảo quyệt lại phái người đến doanh trại quân Thanh, giả vờ hạ mình cầu hòa. Dụ Thân vương vì tin lời nên ra lệnh cho toàn quân ngừng truy kích, bỏ lỡ thời cơ tốt nhất để bắt sống Cát Nhĩ Đan. Sau đó, Cát Nhĩ Đan men theo tuyến Thịnh Kinh, Ô Lạp và Khoa Nhĩ Thấm để đào thoát, suốt dọc đường hầu như không gặp sự ngăn cản nào. Khi biết được việc này, Hoàng đế Khang Hy đã giáng chức và cắt bổng lộc của Dụ Thân vương cùng những người liên quan để răn đe. Đồng thời, ông truyền dụ cho Cát Nhĩ Đan rằng từ nay về sau không được làm hại dù chỉ một người hay một gia súc nào của bộ tộc Khách Nhĩ Khách; nếu không, triều đình sẽ “truy quét đến cùng, quyết không dừng lại”.

Tiến sâu vào đại mạc

“Trước đây, khi Trẫm quyết định thân chinh đánh Cát Nhĩ Đan, quần thần đều hết sức can ngăn. Chỉ có Phí Dương Cổ tán thành, cho rằng nhất định phải chinh phạt. Hai lần xuất binh sau đó cũng đều do một mình Trẫm đưa ra quyết định.” — Hoàng đế Khang Hy

(Nguồn: Tích Trẫm dục thân chinh Cát Nhĩ Đan, chúng giai khuyến trở. Duy Bá Phí Dương Cổ, ngôn kỳ đương thảo. Hậu lưỡng thứ xuất sư, giai Trẫm độc đoạn. — “Khang Hy triều thực lục”)

Bức Mã thuật đồ do Lang Thế Ninh thời Thanh vẽ. (Ảnh: Tư liệu công cộng)

Sau khi bị trọng thương trong trận Ô Lan Bố Thông, Cát Nhĩ Đan từng “sám hối” với sứ giả triều Thanh, thề sẽ không còn xâm phạm thần dân của Đế quốc Trung Hoa nữa. Thế nhưng, ngay khi thoát khỏi vòng vây, hắn ta lại bộc lộ bản chất gian xảo của một kẻ kiêu hùng, tập hợp lại những tàn quân sống sót, mưu đồ Đông Sơn tái khởi. Song, trên thực tế, tình cảnh của hắn ta lúc ấy vô cùng nguy cấp: trong quân không còn gia súc, binh lính lại nhiễm dịch bệnh, lần lượt lâm bệnh rồi qua đời. Để sinh tồn, hắn ta không chỉ cầu viện Đạt Lai Lạt Ma ở Tây Tạng mà còn xin triều Thanh ban cho bạc trắng nhằm giải quyết cơn nguy cấp trước mắt.

Hoàng đế Khang Hy rộng lượng ban cho hắn ta một nghìn lượng bạc, đồng thời nhiều lần cử sứ giả đến chiêu hàng, hứa hẹn sẽ hậu đãi và khoan hồng nếu quy thuận. Thế nhưng Cát Nhĩ Đan vẫn chẳng hề hối cải, tiếp tục yêu cầu triều Thanh giao nộp người Khách Nhĩ Khách, đồng thời còn cử quan viên đến doanh trại quân Thanh để dò la tình báo. Hoàng đế Khang Hy từng nghiêm khắc quở trách rằng, nếu hắn ta vẫn ngoan cố không chịu hối cải, coi thường thánh chỉ, triều Thanh sẽ vĩnh viễn chấm dứt mọi quan hệ ngoại giao và thương mại với hắn ta. Nhưng Cát Nhĩ Đan vẫn bỏ ngoài tai, tiếp tục gây hấn khắp nơi. Có điều, hắn ta cũng không dám xâm phạm Mạc Nam, mà chỉ lớn tiếng tuyên bố sẽ mượn 60.000 quân của nước Nga để xâm phạm phía Nam quy mô lớn.

7 năm sau trận đại chiến trước, tức năm Khang Hy thứ 34 (1695), Hoàng đế Khang Hy quyết không tiếp tục dung thứ nữa, chuẩn bị điều động đại quân tiêu diệt dứt điểm Cát Nhĩ Đan, nhằm vĩnh viễn trừ bỏ hậu họa. Bằng không, triều đình sẽ còn phải tiếp tục duy trì quân đồn trú nơi biên giới, vừa nhọc dân tốn của, vừa khiến tướng sĩ và dân chúng phải chịu nhiều khổ cực.

Để bảo đảm thắng lợi cho trận đại chiến này, Hoàng đế Khang Hy hạ chiếu một lần nữa ngự giá thân chinh. Mặc dù quần thần hết lòng can gián, ông vẫn không thay đổi quyết tâm. Kỳ thực, nhiều cuộc chiến lớn của triều Thanh đều do chính Hoàng đế Khang Hy trực tiếp hoạch định và chỉ huy, đủ thấy tài thao lược kiệt xuất và tầm nhìn hơn người của ông. Hơn nữa, lúc ấy Hoàng đế Khang Hy đang độ tráng niên, khí phách hiên ngang; đích thân chinh phạt Cát Nhĩ Đan không chỉ giúp chỉ huy đại quân hiệu quả hơn mà còn cổ vũ mạnh mẽ sĩ khí toàn quân, quả thực là một quyết định sáng suốt.

Trong lần xuất chinh này, Hoàng đế Khang Hy bố trí 100.000 đại quân, vẫn chia thành ba lộ Đông, Tây và Trung. Lộ quân phía Đông do Tướng quân Hắc Long Giang Tát Bố Tố thống lĩnh, chỉ huy quân Đông Bắc xuất phát từ sông Khắc Lỗ Luân, đảm nhiệm tấn công từ bên sườn quân Cát Nhĩ Đan; lộ quân phía Tây do Phủ Viễn Đại tướng quân Phí Dương Cổ chỉ huy, dẫn quân Thiểm Tây và Cam Túc vượt qua phía bắc Quy Hóa rồi băng qua sa mạc, có nhiệm vụ cắt đứt đường rút lui của đối phương; còn Hoàng đế Khang Hy trực tiếp trấn thủ trung lộ, tiến lên phía bắc dọc theo thượng nguồn sông Khắc Lỗ Luân, hẹn hội quân với lộ quân phía Tây tại Thổ Lạt (nay thuộc Mông Cổ), chuẩn bị hình thành thế gọng kìm đánh úp quân địch.

Tháng 2 năm Khang Hy thứ 35 (1696), quân Thanh chỉnh tề tiến bước không ngừng trên thảo nguyên hoang mạc mênh mông vô tận. Hoàng đế Khang Hy luôn quan tâm đến nỗi vất vả của binh sĩ; mọi việc lớn nhỏ trong quân doanh, không kể chi tiết nào, ông đều đích thân hỏi han và xử lý. Chứng kiến điều kiện khắc nghiệt nơi biên thùy cùng tinh thần không quản gian khổ của các tướng sĩ, ông xúc động làm bài thơ Hãn Hải:

“Tứ nguyệt Thiên Sơn lộ,

Kim triêu Hãn Hải hành

Tích sa lưu tuyệt tái,

Lạc nhật độ liên doanh.”

Tạm dịch

“Tháng Tư đường Thiên Sơn,

Hôm nay vượt Hãn Hải.

Cát bồi khắp biên ải,

Chiều buông qua liên doanh.”

Quân Thanh dần áp sát nơi đóng quân của Cát Nhĩ Đan thì một khó khăn mới lại xuất hiện. Do lộ quân phía Tây phải vượt qua đại mạc, dọc đường thiếu nguồn nước và lương thảo tiếp tế nên không thể đến Thổ Lạt đúng thời hạn. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, Hoàng đế Khang Hy nhanh chóng đề ra đối sách. Một mặt, ông lệnh cho lộ quân phía Tây gấp rút hành quân đến Thổ Lạt; mặt khác, ông sai sứ giả đến giả vờ mời Cát Nhĩ Đan gặp mặt để liên minh. Ông nhận định rằng, khi nghe tin Hoàng đế Khang Hy thân chinh, Cát Nhĩ Đan nhất định sẽ hoảng sợ bỏ chạy ngay trong đêm; lúc ấy phát binh truy kích rất có khả năng sẽ gặp lộ quân phía Tây đang kéo đến, tạo thành thế hai mặt giáp công.

Quả nhiên, khi biết Hoàng đế Khang Hy đã đích thân đến chiến trường, Cát Nhĩ Đan vô cùng kinh hãi, tự mình lên núi quan sát doanh trại quân Thanh. Chỉ thấy trong đại doanh cờ rồng phấp phới, xa giá uy nghi, bốn phía dựng màn trướng bao quanh thành một hoàng thành, bên ngoài lại thiết lập lưới phòng vệ. Quân dung hùng tráng, uy nghiêm ấy khiến Cát Nhĩ Đan kinh ngạc thốt lên: “Là thiên binh từ trên trời giáng xuống sao!”[3]

Quyết chiến tại Chiêu Mạc Đa

“Điều Trẫm hằng mong mỏi là khắp thiên hạ, mọi bách tính đều được sống trong cảnh thái bình, hòa thuận và an lạc. Trẫm tuyệt đối không dung thứ bất kỳ kẻ nào gieo rắc chia rẽ, hủy hoại gia đình và quốc gia của người khác.” — Hoàng đế Khang Hy

(Nguồn: Trẫm chi tố hoài, duy nguyện suất thổ chi nhân, hàm tễ ung hòa, cộng dụng an lạc. Đoán bất dung trích phát ẩn tư, khuynh nhân gia quốc. — “Khang Hy triều thực lục”)

Trong hình là bức “Bình định Hồi bộ hiến phu” trong bộ tranh Bình định Chuẩn bộ Hồi bộ đắc thắng đồ do Đinh Quan Bằng cùng các họa sĩ triều Thanh thực hiện. (Ảnh: Tư liệu công cộng)

Mọi diễn biến đều nằm trong lòng bàn tay của Hoàng đế Khang Hy. Cát Nhĩ Đan không dám giao chiến với quân Thanh, vội bỏ lại doanh trại và khí giới, rồi nhân đêm tối tháo chạy. Hoàng đế Khang Hy lệnh cho Nội đại thần Mã Tư Cáp giữ chức Bình Bắc Đại tướng quân, thống lĩnh quân đội ráo riết truy kích. 5 ngày sau, lộ quân phía Tây do Phí Dương Cổ chỉ huy tiến đến Chiêu Mạc Đa (nay thuộc Mông Cổ), hạ trại ở nơi cách quân địch khoảng 30 dặm, dựa lưng vào núi và kề bên sông.

Chiêu Mạc Đa trong tiếng Mông Cổ có nghĩa là “Rừng Lớn”. Từ xa xưa, nơi đây đã là một chiến trường nổi tiếng ở Mạc Bắc; Minh Thành Tổ từng đại phá A Lỗ Đài tại đây. Tướng quân Phí Dương Cổ trước tiên cử 400 quân tiên phong vừa đánh vừa lui, dụ Cát Nhĩ Đan lọt vào trận địa mai phục tại Chiêu Mạc Đa. Sau đó, ông chia đại quân thành hai cánh tả hữu mai phục trên các ngọn đồi nhỏ; đồng thời điều một lộ quân Hán cấp tốc chiếm lĩnh đỉnh đồi, số quân còn lại dàn trận dọc theo bờ tây sông Thổ Lạp.

Đúng lúc ấy, Cát Nhĩ Đan dẫn một vạn quân kéo đến, định chiếm lấy đỉnh đồi. Quân Thanh dựa vào địa thế hiểm yếu, đồng loạt bắn tên, nỏ và khai hỏa đại bác từ trên cao. Cát Nhĩ Đan cùng vợ con và toàn bộ binh sĩ đều xuống ngựa, bất chấp hỏa lực dữ dội mà xông lên. Hai bên giao chiến ác liệt, đều có thương vong, từ sáng đến tối không một ai lùi bước.

Đến thời khắc quyết định, Phí Dương Cổ nhìn thấy đoàn xe quân nhu ở phía sau quân địch, lập tức hạ lệnh cho toàn quân bất ngờ tập kích hậu phương. Quân Thanh thừa thế ào ạt xông lên, tiếng hò reo vang động đất trời. Quân Cát Nhĩ Đan hoảng loạn tháo chạy; số người rơi xuống vực nhiều không đếm xuể, xác người chất đầy khe suối và lòng sông. Trận Chiêu Mạc Đa đã đánh bại lực lượng tinh nhuệ của Cát Nhĩ Đan, trở thành trận đại chiến mang tính quyết định. Khi nhận được tin thắng trận, Hoàng đế Khang Hy vô cùng vui mừng, đích thân khao thưởng lộ quân phía Tây, rồi cho khắc bia đá ghi công tại Chiêu Mạc Đa trước khi trở về.

Sau 2 thất bại nặng nề ở Ô Lan Bố Thông và Chiêu Mạc Đa, Cát Nhĩ Đan tổn thất nguyên khí nghiêm trọng, không còn cơ hội vực dậy. Bên cạnh hắn ta chỉ còn vài nghìn người, lại thiếu gia súc và lương thực; rất nhiều người chết vì đói rét, những người sống sót lần lượt tan rã rồi chạy sang quy thuận triều Thanh. Thế nhưng, ngay trong cơn nguy khốn sinh tử tồn vong, Cát Nhĩ Đan vẫn không hề có ý định đầu hàng.

Hoàng đế Khang Hy cũng hết sức thận trọng trong việc xử lý Cát Nhĩ Đan. Một mặt, ông lệnh cho các tướng sĩ trấn thủ biên cương nhân cơ hội này nhanh chóng tiêu diệt Cát Nhĩ Đan, không được chậm trễ; mặt khác, với tấm lòng nhân hậu, ông vẫn tiếp tục khuyên hàng. Ông sai sứ giả mang chiếu thư đến, cho Cát Nhĩ Đan thời hạn 70 ngày; nếu vẫn không chịu quy thuận thì triều đình sẽ tiếp tục phát binh chinh phạt.

Đồng thời, Hoàng đế Khang Hy cũng đãi ngộ tốt và vỗ về những người đến đầu hàng. Chẳng hạn, ông đặc biệt cử đại thần mang quần áo và lương thực đến giúp những người quy thuận ổn định cuộc sống; nếu có người thân từng bị bắt giữ, triều đình đều cho tra xét từng trường hợp để đoàn tụ gia đình. Một thân tín của Cát Nhĩ Đan cảm kích nói: “Triều Thanh quốc phú binh cường, Hoàng đế Trung Hoa thật xứng danh là ‘Phật sống’. Để cha mẹ và con cái của quân địch được đoàn tụ, xưa nay có ai từng nghe nói đến chứ?”

Năm Khang Hy thứ 35 (1696), Hoàng đế Khang Hy tiến lên phía bắc đến thành Ngạc Nhĩ Đa Tư, triệu kiến Phí Dương Cổ để mật bàn việc mở cuộc chinh phạt Cát Nhĩ Đan lần thứ ba. Năm sau, Hoàng đế Khang Hy đến Ninh Hạ, lệnh cho Phí Dương Cổ và Mã Tư Cáp mỗi người thống lĩnh một đạo quân, trấn giữ các tuyến đường mà Cát Nhĩ Đan buộc phải đi qua khi chạy trốn, khiến hắn ta bị dồn vào thế cô lập. Hoàng đế Khang Hy tin rằng Cát Nhĩ Đan không còn đường sống: hoặc đầu hàng, hoặc bị bắt, hoặc tự vẫn; kết cục nào cũng chỉ là thất bại hoàn toàn.

Do số người quy hàng ngày càng nhiều, Cát Nhĩ Đan rơi vào tình cảnh tuyệt vọng vương thân phản bội, thuộc hạ quay lưng, cô lập tứ bề. Đúng như Hoàng đế Khang Hy dự liệu, Cát Nhĩ Đan đã uống thuốc độc tự vẫn, khép lại cuộc đời hung hăng hiếu chiến của mình. Đến đây, Hoàng đế Khang Hy cuối cùng đã dẹp yên thế lực phản loạn của Cát Nhĩ Đan, đưa thảo nguyên Mông Cổ trở lại cảnh hòa thuận và phồn thịnh.

Chịu trách nhiệm biên tập bản tiếng Trung: Vương Du Duyệt

(Còn tiếp)

(Theo The Epoch Times)

Dịch từ: https://www.epochtimes.com/gb/20/5/27/n12141489.htm