[ChanhKien.org]
Bấy giờ, Tào Tháo đã dẹp yên phương Bắc, Trung Nguyên về cơ bản đã thống nhất, các chư hầu vùng Quan Trung cũng đã quy thuận. Việc chinh phạt Kinh Châu, đánh lấy Giang Đông bắt đầu được đưa vào chương trình nghị sự, Tào Tháo bèn triệu tập các võ tướng để thảo luận việc Nam chinh.
Hạ Hầu Đôn nêu ý kiến rằng: “Gần đây nghe tin Lưu Bị ở Tân Dã ngày ngày luyện tập binh sĩ, ắt sẽ là mối họa về sau, tốt nhất nên sớm tìm cách giải quyết”.
Tào Tháo bèn mệnh cho Hạ Hầu Đôn làm Đô đốc, Vu Cấm, Lý Điển, Hạ Hầu Lan, Hàn Hạo làm Phó tướng, dẫn 10 vạn quân tiến thẳng đến thành Bác Vọng để thăm dò Tân Dã.
Công trạng đầu tiên sau khi rời lều tranh
Lại nói về Lưu Bị, từ sau khi có được Gia Cát Khổng Minh, ông luôn đối đãi với Khổng Minh theo lễ của bậc thầy. Thấy binh lực của Lưu Bị chỉ có vài nghìn người, Gia Cát Lượng bèn chiêu mộ 3.000 dân chúng ở Tân Dã làm dân binh, rồi đích thân ngày đêm huấn luyện họ về binh pháp và trận pháp.
Đúng lúc ấy, Tào Tháo sai Hạ Hầu Đôn thống lĩnh 10 vạn quân tiến đánh Tân Dã.
Lưu Bị liền mời Gia Cát Lượng đến bàn kế đối địch. Gia Cát Lượng bắt đầu triệu tập các tướng lĩnh để phân công và giao nhiệm vụ.
Gia Cát Lượng lệnh cho Quan Vũ dẫn 1.000 quân mai phục ở núi Dự. Bảo ông hãy để cánh quân tiên phong của địch đi qua, khi thấy lửa bốc lên thì lập tức xuất kích. Trương Phi dẫn 1.000 quân mai phục trong thung lũng, đợi khi lửa nổi lên thì đánh thẳng về phía dốc Bác Vọng. Quan Bình và Lưu Phong mỗi người dẫn 500 quân, chia làm hai cánh mai phục phía sau dốc Bác Vọng; hễ quân địch vừa đến thì lập tức phóng hỏa. Gia Cát Lượng còn điều Triệu Vân từ Phàn Thành đến làm tiên phong, chỉ được phép thua, không được phép thắng, nhằm nhử quân địch tiến sâu vào dốc Bác Vọng. Lưu Bị dẫn 1.000 nhân mã làm tiếp ứng.
Các tướng đều làm theo sự sắp đặt của Gia Cát Lượng, đánh cho quân Tào thua tan tác, bỏ mũ giáp mà tháo chạy. Đây là lần đầu tiên Gia Cát Lượng cầm quân, nhưng nhờ mưu lược thần diệu, liệu việc như thần nên đã giành được thắng lợi vang dội. Quan Vũ, Trương Phi và các tướng khác đều khâm phục đến mức ngũ thể đầu địa (phục sát đất).
Trong nền văn minh Hoa Hạ 5000 năm, nhân tài xuất hiện lớp lớp. Trong số đó, Gia Cát Lượng thời Tam Quốc có thể nói là một trong những nhân vật tiêu biểu xuất sắc nhất về trí tuệ và tài thao lược. (Ảnh: The Epoch Times)
Tào Tháo xuất binh tấn công Kinh Châu
Tháng Bảy năm Kiến An thứ mười ba (năm 208), Tào Tháo đích thân chỉ huy khoảng 15-16 vạn đại quân từ Nghiệp Thành tiến xuống phía Nam đánh Kinh Châu. Quân đội của Lưu Biểu tổng cộng chưa đến 10 vạn người, hơn nữa dưới sự chỉ huy của Lưu Biểu vốn không am hiểu quân sự, họ đã nhiều năm không trải qua thực chiến. Trong khi đó, quân Tào phần lớn là những tinh binh dày dạn trận mạc, nên chiếm ưu thế tuyệt đối. Tào Tháo áp dụng chiến lược tấn công thần tốc. Đại quân đi qua huyện Diệp (nay là huyện Diệp, tỉnh Hà Nam) và Uyển Thành, rồi tiến thẳng đến Phàn Thành và Tương Dương, nhằm đánh úp bất ngờ khi đối phương không kịp phòng bị, cố gắng một đòn đánh tan chủ lực của quân Kinh Châu hoặc buộc Lưu Biểu phải đầu hàng.
Tháng Tám, Lưu Biểu lâm bệnh qua đời. Lưu Biểu có hai người con trai: con trưởng là Lưu Kỳ, con thứ là Lưu Tông. Trước đó, Lưu Biểu đã bổ nhiệm Lưu Kỳ làm Thái thú Giang Hạ, còn sau khi ông mất thì Lưu Tông được lập làm người kế vị, thay cha thống lĩnh quân đội. Khi Lưu Biểu lâm bệnh nặng, con trưởng Lưu Kỳ từ Giang Hạ trở về thăm cha, nhưng bị ngăn ở ngoài cửa, không được vào gặp mặt Lưu Biểu. Sau khi Lưu Biểu qua đời, Lưu Kỳ định nhân dịp về chịu tang sẽ phát binh tấn công Lưu Tông. Thế nhưng đúng lúc ấy, đại quân của Tào Tháo đã áp sát biên giới.
Ngay từ thời điểm diễn ra trận Quan Độ, các đại thần dưới quyền Lưu Biểu như Hàn Tung, Lưu Tiên, Khoái Việt… đã từng khuyên Lưu Biểu quy phục Tào Tháo, nhưng Lưu Biểu không đồng ý. Lần này, khi đại quân của Tào Tháo đã áp sát, Khoái Việt, Phó Tốn cùng Vương Xán và các đại tộc từ nơi khác đến cư trú ở Kinh Châu đều khuyên Lưu Tông đầu hàng. Họ cho rằng Tào Tháo lấy cờ hiệu Thiên tử mà xuất quân, nếu chống cự thì trái với đạo làm bề tôi, không hợp đạo lý; hơn nữa, chỉ dựa vào một châu Kinh Sở để chống lại đại quân hùng mạnh của Tào Tháo thì không có hy vọng chiến thắng. Dù có dựa vào Lưu Bị để chống Tào Tháo thì thực lực đôi bên cũng quá chênh lệch, cơ hội thắng lợi vô cùng mong manh. Ngay cả nếu Lưu Bị đánh lui được Tào Tháo, ông cũng sẽ không chịu ở dưới quyền người khác. Thà sớm nghênh đón và đầu hàng Tào Tháo còn hơn để sau này bị Lưu Bị khống chế. Vì thế, Lưu Tông quyết định ra hàng. Khi Tào Tháo đến Tân Dã, ông tiếp nhận sự đầu hàng của Lưu Tông.
Lúc này, Lưu Bị đang đóng quân ở Phàn Thành, vẫn chưa nhận được tin đại quân Tào Tháo tiến xuống phía Nam, cũng không hề biết việc Lưu Tông chuẩn bị đầu hàng. Mãi đến khi đại quân Tào Tháo kéo đến Uyển Thành, Lưu Bị mới hay tin Lưu Tông đã đầu hàng. Nhưng khi ấy ông đã không còn đủ sức chống cự quân Tào, đành vội vã rút lui về Giang Lăng. Giang Lăng vốn là trị sở của Kinh Châu, nơi cất giữ nhiều quân nhu và vật tư quân sự.
Ngoài việc lệnh cho Quan Vũ chỉ huy một đạo thủy quân với hàng trăm chiến thuyền xuôi theo sông Hán tiến về phía Nam, toàn bộ chủ lực còn lại do chính Lưu Bị cùng Gia Cát Lượng, Trương Phi, Triệu Vân và các tướng lĩnh khác dẫn theo đường bộ rút lui. Rất nhiều thuộc hạ của Lưu Tông cùng người dân Kinh Châu đi theo Lưu Bị chạy về phương Nam. Khi đoàn người đến Đương Dương (nay ở phía Đông thành phố Đương Dương, tỉnh Hồ Bắc), quân dân đã tăng lên hơn 10 vạn người, xe chở lương thảo và quân nhu cũng có đến mấy nghìn cỗ. Vì vậy, tốc độ hành quân rất chậm, mỗi ngày chỉ đi được hơn 10 dặm.
Có người khuyên Lưu Bị nên bỏ lại đoàn dân chúng để nhanh chóng đến giữ Giang Lăng. Lưu Bị đáp: “Muốn làm nên đại nghiệp thì phải lấy con người làm gốc. Nay mọi người đã tin tưởng tìm đến theo ta, sao ta nỡ lòng bỏ rơi họ!”
Một trong những lý do khiến Tào Tháo gấp rút tấn công Kinh Châu là vì ông không muốn để Lưu Bị đứng vững tại đây. Lưu Bị đã ở Kinh Châu nhiều năm, rất được người dân Kinh Châu kính trọng và ủng hộ. Một khi Lưu Bị thay thế Lưu Biểu, chiếm giữ Kinh Châu, thì đó sẽ là một mối đe dọa lớn với Tào Tháo. Tào Tháo biết ở Giang Lăng có cất giữ rất nhiều quân nhu và vật tư quân sự, sợ rằng Lưu Bị sẽ đến chiếm trước nên lập tức thúc quân tiến gấp đến Tương Dương. Nhưng lúc ấy Lưu Bị đã đi qua Tương Dương và đang hướng về Giang Lăng. Trên đường đi, Lưu Bị vừa rút lui vừa bảo vệ khoảng 10 vạn dân chúng, nên tốc độ hành quân rất chậm. Sau khi biết được tình hình này, Tào Tháo liền phái 5.000 kỵ binh tinh nhuệ truy kích gấp. Chỉ trong một ngày một đêm, họ hành quân hơn 300 dặm và đuổi kịp Lưu Bị tại Trường Bản, huyện Đương Dương.
Lưu Bị không địch nổi quân Tào, đành phải dẫn theo quân sĩ và dân chúng rút lui, giao cho Trương Phi đoạn hậu, cuối cùng mới thoát được sự truy kích của quân Tào. Tuy nhiên, Lưu Bị không thể đến được Giang Lăng nữa, đành chuyển hướng đến Hán Tân để hội quân với đạo thủy quân do Quan Vũ chỉ huy. Sau đó, ông lại gặp Lưu Kỳ, con trưởng của Lưu Biểu và là Thái thú Giang Hạ, người đã đến nghênh đón mình. Hai bên cùng kéo đến Hạ Khẩu (nay là Hán Khẩu) để tạm thời đóng quân.
Trận Xích Bích
Trận Xích Bích, tranh minh họa trong bản in “Tam Quốc Chí” của nhà in Châu Viết Hiệu thời Minh, năm Tân Mão niên hiệu Vạn Lịch (năm thứ 19). (Ảnh: Tư liệu công cộng)
Sau khi tin Tào Tháo chinh phạt Kinh Châu và Lưu Biểu qua đời truyền đến Giang Đông, Lỗ Túc xin Tôn Quyền cử mình lấy danh nghĩa đi viếng tang để đến Kinh Châu dò xét tình hình quân sự. Khi Lỗ Túc đến Kinh Châu, Tào Tháo đã thúc quân tiến xuống phía Nam. Lỗ Túc gặp Lưu Bị tại Đương Dương rồi cùng đến Hạ Khẩu. Sau đó, Lưu Bị cử Gia Cát Lượng theo Lỗ Túc sang nước Ngô để bàn việc liên minh chống Tào Tháo, đồng thời từ Hạ Khẩu dời đến đóng quân ở Phàn Khẩu (nay ở phía Tây Bắc huyện Ngạc Thành, tỉnh Hồ Bắc).
Lúc bấy giờ, Tôn Quyền đang ở Sài Tang (nay là thành phố Cửu Giang, tỉnh Giang Tây). Gia Cát Lượng đến yết kiến Tôn Quyền và trình bày kế sách liên minh giữa Tôn – Lưu để đánh phá quân Tào: “Dự Châu quân tuy bại vu Trường Bản, kim chiến sĩ hoàn giả cập Quan Vũ thủy quân tinh giáp vạn nhân, Lưu Kỳ hợp Giang Hạ chiến sĩ diệc bất hạ vạn nhân. Tào Tháo chi chúng, viễn lai bì tệ, văn truy Dự Châu, khinh kỵ nhất nhật nhất dạ hành tam bách dư lý, thử sở vị ‘Cường nỗ chi mạt, thế bất năng xuyên lỗ cảo’ giả dã. Cố binh pháp kỵ chi, viết ‘Tất quyết thượng tương quân’. Thả Bắc phương chi nhân, bất tập thủy chiến, hựu Kinh Châu chi dân phụ Tháo giả, bức binh thế nhĩ, phi tâm phục dã. Kim tương quân thành năng mệnh mãnh tương thống binh sổ vạn, dữ Dự Châu hiệp quy đồng lực, phá Tháo quân tất hĩ. Tháo quân phá, tất Bắc hoàn, như thử tắc kinh, Ngô chi thế cường, đỉnh túc chi hình thành hĩ. Thành bại chi ky, tại vu kim nhật”.
Đại ý là, Gia Cát Lượng chỉ rõ rằng tuy Lưu Bị thất bại trước quân Tào ở dốc Trường Bản, nhưng vẫn còn giữ được khoảng một vạn thủy quân và quân tinh nhuệ. Bên cạnh đó, quân của Lưu Kỳ và binh mã Giang Hạ hợp lại cũng không dưới một vạn người. Quân Tào sau chặng đường hành quân dài đã bộc lộ sự mệt mỏi; hơn nữa, binh sĩ phương Bắc vốn không quen thủy chiến. Người dân Kinh Châu đầu hàng Tào Tháo chỉ vì bị uy hiếp bởi thế mạnh quân sự, chứ lòng người chưa thật sự quy phục. Trong khi đó, Tôn Quyền đang thống lĩnh hàng vạn tinh binh mãnh tướng của Đông Ngô. Chỉ cần liên minh với Lưu Bị thì nhất định có thể đánh bại quân Tào. Khi ấy, thế lực của Kinh Châu và Đông Ngô sẽ ngày càng lớn mạnh, hình thành cục diện thiên hạ chia ba, cùng tồn tại với Tào Tháo.
Sau khi nghe những lời của Gia Cát Lượng, Tôn Quyền cũng phần nào yên lòng. Khi Tào Tháo đến Giang Lăng, ông liền gửi thư cho Tôn Quyền, trong thư viết: “Cận giả phụng từ phạt tội, tinh huy nam chỉ, Lưu Tông thúc thủ. Kim trì thủy quân bát thập vạn chúng, phương dữ tương quân hội liệp vu Ngô”.
Lần Nam chinh Lưu Biểu này của Tào Tháo không chỉ nhằm tranh đoạt Kinh Châu mà còn muốn thôn tính cả Giang Đông. Trong bức thư gửi Tôn Quyền, Tào Tháo bộc lộ rõ ý uy hiếp. Ông nói mình phụng mệnh Hoàng đế đi chinh phạt kẻ có tội, đại quân đã tiến xuống phía Nam, Lưu Tông đã bó tay đầu hàng. Hiện nay, ông đã huấn luyện xong 80 vạn thủy quân và sắp cùng Tôn Quyền hội săn trên đất Đông Ngô.
Đối mặt với đại quân hùng mạnh của Tào Tháo, phần lớn các văn thần, võ tướng và danh sĩ của Đông Ngô, đứng đầu là Trưởng sử Trương Chiêu, đều dao động, khuyên Tôn Quyền đầu hàng Tào Tháo. Chỉ có Lỗ Túc là không tán thành. Trước những lời khuyên đầu hàng từ khắp mọi người, Tôn Quyền chỉ cúi đầu im lặng, do dự chưa thể quyết định.
Lúc ấy, Tôn Quyền đứng dậy đi ra ngoài. Lỗ Túc nhân cơ hội bước theo. Tôn Quyền hiểu ý của Lỗ Túc, bèn nắm tay ông và hỏi có điều gì muốn nói.
Lỗ Túc nói rằng những lời bàn về việc đầu hàng trong đại sảnh lúc nãy thật sự khiến người ta thất vọng, đặc biệt là rất bất lợi cho Tôn Quyền. Vì sao ư? Bởi vì ở Đông Ngô, bất kỳ ai cũng có thể đầu hàng Tào Tháo, nhưng riêng Tôn Quyền thì tuyệt đối không thể. Người khác nếu đầu hàng Tào Tháo vẫn có thể trở về quê hương, tiếp tục ra làm quan, hưởng vinh hoa phú quý. Nhưng nếu Tôn Quyền đầu hàng Tào Tháo thì kết cục sẽ hoàn toàn khác: tuy thiên hạ rộng lớn, nhưng sẽ không còn nơi nào để Tôn Quyền dung thân. Vì vậy, ông mong Tôn Quyền sớm hạ quyết tâm, không nên chấp nhận chủ trương đầu hàng.
Lúc ấy, Chu Du đang đi Bà Dương. Lỗ Túc khuyên Tôn Quyền triệu Chu Du về để cùng bàn bạc, bởi trước khi qua đời, anh trai của Tôn Quyền là Tiểu Bá Vương Tôn Sách từng dặn rằng: khi gặp biến cố, nếu việc trong nhà không thể quyết định thì hãy hỏi Trương Chiêu; còn nếu việc đối ngoại không thể quyết định thì hãy hỏi Chu Du.
Bấy giờ, Chu Du cũng đã quyết tâm chống lại Tào Tháo. Ông nói với Tôn Quyền rằng quân số 80 vạn mà Tào Tháo tự xưng rất có thể chỉ là phô trương thanh thế, thực tế nhiều nhất chỉ khoảng 15 vạn quân. Còn 7-8 vạn quân của Lưu Biểu vừa mới đầu hàng thì lòng trung chưa vững, không thể hết lòng vì Tào Tháo. Chỉ cần trong tay ông có năm vạn quân, nhất định sẽ đánh thắng được quân Tào.
Nghe xong, Tôn Quyền vô cùng phấn khởi, nói rằng những lời của Chu Du đã nói đúng điều ông đang nghĩ trong lòng.
Những phân tích của Chu Du, Lỗ Túc và Gia Cát Lượng đều đánh trúng suy nghĩ của Tôn Quyền. Để thể hiện quyết tâm chống Tào, Tôn Quyền rút gươm chém đứt một góc chiếc bàn dài rồi nói: “Kẻ nào trong hàng tướng lĩnh, quan lại còn dám nhắc đến việc nghênh Tào, sẽ có kết cục như chiếc bàn này”.
Từ đó, thỏa thuận liên minh giữa Tôn Quyền và Lưu Bị cùng chống Tào Tháo chính thức được xác lập. Tào Tháo từ Giang Lăng tiến quân theo cả đường thủy lẫn đường bộ về phía Đông, còn liên quân Tôn – Lưu từ Phàn Khẩu và Hạ Khẩu ngược dòng tiến lên. Hai bên gặp nhau tại Xích Bích (nay ở phía Tây Bắc thành phố Bồ Kỳ, tỉnh Hồ Bắc).
Phần lớn binh sĩ của quân Tào là người phương Bắc, không quen với khí hậu và thổ nhưỡng phương Nam. Trước khi giao chiến, trong quân đã bùng phát dịch bệnh. Vừa mới giao tranh, quân Tào thất thế nên phải rút về bờ Bắc sông. Tướng Hoàng Cái dưới quyền Chu Du nhận thấy quân Tào không quen thủy chiến và các chiến thuyền của họ được nối liền với nhau, nên đề xuất dùng hỏa công. Chu Du chấp nhận kế hỏa công, đồng thời kết hợp với giả hàng.
Hoàng Cái gửi thư xin hàng đến Tào Tháo và hẹn ngày ra hàng. Đến đúng ngày đã hẹn, vừa lúc gió Đông Nam nổi lên. Hoàng Cái dẫn đầu trên đại chiến hạm, các thuyền khác nối theo phía sau, tiến về bờ Bắc sông. Quân Tào tưởng Hoàng Cái thật sự đến đầu hàng nên đều kéo ra doanh trại đứng xem. Khi đoàn thuyền còn cách quân Tào khoảng hai dặm, tất cả các thuyền đồng loạt châm lửa. Lửa cháy dữ dội, gió thổi mạnh, thuyền lao đi nhanh như tên bắn, đâm thẳng vào đội chiến thuyền của quân Tào. Lửa thiêu rụi chiến thuyền của Tào Tháo rồi lan sang cả doanh trại trên bờ. Quân Tào bị thiêu chết và chết đuối nhiều vô kể. Ngay sau đó, Chu Du dẫn quân tiến công. Quân Tào đại bại.
Tào Tháo thua trận, tháo chạy qua đường Hoa Dung. Tranh minh họa trong bản in “Tam Quốc Chí” đầu thời nhà Thanh (bản Đại Khôi Đường lưu giữ). (Ảnh: Tư liệu công cộng)
Tào Tháo dẫn tàn quân rút lui theo đường Hoa Dung (nay ở phía Nam thành phố Tiềm Giang, tỉnh Hồ Bắc). Trên đường rút quân, gió lớn thổi liên hồi, thời tiết giá rét, đường sá trong vùng lại lầy lội. Bộ binh phải vác cỏ lót đường để quân đội đi qua, cuối cùng mới giữ được tính mạng mà thoát khỏi chiến trường.
Mặc dù thất bại trong trận Xích Bích, Tào Tháo vẫn hy vọng giữ được Kinh Châu. Ông để Chinh Nam tướng quân Tào Nhân và Hoành Dã tướng quân Từ Hoảng trấn giữ Giang Lăng, còn Chiết Xung tướng quân Nhạc Tiến trấn giữ Tương Dương, rồi tự mình rút quân về phương Bắc.
Liên quân Tôn – Lưu thừa thắng truy kích. Tào Nhân cố thủ Giang Lăng suốt một thời gian dài, nhưng do quân thế cô độc, đóng ở nơi xa hậu phương, việc tiếp tế và chi viện ngày càng khó khăn nên cuối cùng phải rút quân về Bắc. Tuy nhiên, Tào Tháo vẫn giữ được Tương Dương, kiểm soát một vùng rộng lớn phía Bắc Kinh Châu lấy Tương Dương làm trung tâm. Tôn Quyền chiếm giữ Giang Lăng, Hạ Khẩu và Lục Khẩu (nay ở phía Tây Nam huyện Gia Ngư, tỉnh Hồ Bắc), làm chủ nửa phía đông Kinh Châu. Lưu Bị chiếm 4 quận phía nam Kinh Châu là Linh Lăng, Quế Dương, Vũ Lăng và Trường Sa (nay thuộc Hồ Nam và phía tây Hồ Bắc), lấy Dầu Khẩu (nơi sông Dầu đổ vào Trường Giang, nay là thành phố Công An, tỉnh Hồ Bắc) làm căn cứ và đổi tên thành Công An. Về sau, Tôn Quyền còn nhường Giang Lăng cho Lưu Bị. Như vậy, Tào Tháo, Lưu Bị và Tôn Quyền đã chia nhau Kinh Châu.
Sau trận Xích Bích, thế lực của Lưu Bị được củng cố và sức mạnh tăng lên đáng kể. Trong khoảng 10 năm tiếp theo, ông mở rộng phạm vi thế lực từ Kinh Châu sang Tây Xuyên (Ích Châu), cuối cùng thành lập chính quyền Thục Hán, đặt nền móng ban đầu cho cục diện Tam Quốc phân tranh.
Trận Xích Bích là một sự kiện lịch sử nổi tiếng với chiến thắng lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Không chỉ được các văn nhân qua nhiều triều đại ca ngợi trong thơ văn, mà còn được lưu truyền rộng rãi trong các vở hí khúc dân gian. Suốt hàng nghìn năm, trận chiến này đã in sâu vào tâm thức của người Trung Quốc. Trong số những câu chuyện về trận Xích Bích, được người đời yêu thích và nhắc đến nhiều nhất chính là những giai thoại thể hiện trí tuệ siêu việt của Gia Cát Lượng.
Khi đại quân của Tào Tháo áp sát, lòng người ở Đông Ngô dao động, phần lớn đều mong muốn giảng hòa với Tào Tháo. Điều này trở thành trở ngại rất lớn với phía Lưu Bị, vốn cần liên minh với Tôn Quyền để chống Tào. Muốn thuyết phục Tôn Quyền quyết tâm kháng Tào, trước hết phải dùng lý lẽ để tranh biện, khiến các văn thần và võ tướng chủ hòa của Đông Ngô hoàn toàn tâm phục khẩu phục. Vì thế mới có màn Gia Cát Lượng khẩu chiến quần nho. Trên sông lớn, cung tên là vũ khí quan trọng hàng đầu trong cả tấn công lẫn phòng thủ. Chu Du đang lo lắng vì nhu cầu 10 vạn mũi tên cho quân đội, Gia Cát Lượng liền lập quân lệnh trạng (giấy đảm bảo thực hiện quân lệnh), hứa sẽ giao đủ 10 vạn mũi tên trong vòng ba ngày, từ đó lưu truyền giai thoại nổi tiếng “Thuyền cỏ mượn tên”. Trong kế hỏa công đánh doanh trại quân Tào, gió Đông là yếu tố quyết định. Người xưa gọi đó là “Vạn sự đã sẵn sàng, chỉ còn thiếu gió Đông”. Đây cũng là tình tiết hấp dẫn nhất của trận Xích Bích. Có thể nói rằng, nếu không có việc Gia Cát Lượng mượn gió Đông thì sẽ không có chiến thắng lẫy lừng của liên quân Tôn – Lưu trong trận Xích Bích.
Những câu chuyện về Gia Cát Lượng trong “Tam Quốc Diễn Nghĩa” đã khắc họa ông là một người sở hữu tài học kinh thiên động địa, khiến hậu thế vô cùng ngưỡng mộ.
(Còn tiếp)


