Tác giả: Tổ Văn hóa The Epoch Times

[ChanhKien.org]

Lòng kính trọng và sự cổ vũ văn hóa Hoa Hạ của Hoàng đế Khang Hy không chỉ ảnh hưởng sâu sắc đến các đại thần bên cạnh, mà còn lan tỏa ra toàn thiên hạ. Thông qua việc thực thi chính sách, trọng dụng và hậu đãi người tài, miệt mài sáng tác, v.v., ông đã tạo dựng nên một hoàn cảnh văn đàn sôi nổi, cởi mở vào đầu thời Thanh. Trong hình là Khang Hy Đại đế, người đã khai sáng thời kỳ Khang – Ung – Càn thịnh thế. (Ảnh: The Epoch Times chế tác)

Triều Thanh, với vai trò là vương triều truyền thống cuối cùng của Trung Hoa, mang đặc điểm tập đại thành (gom góp, thu thập) trong lịch sử văn học, là sự tổng kết hoàn mỹ nền văn học cổ đại. Vào lúc triều Khang Hy đạt tới đỉnh cao, quốc lực hùng mạnh, kinh tế phồn vinh, đồng thời cũng mang đến một nền văn hóa rực rỡ huy hoàng. Hoàng đế Khang Hy, người yêu chuộng Nho học cùng thơ văn, giống như người mở đường, mở ra cục diện cho văn đàn đầu thời Thanh, đồng thời đặt nền móng cho sự phồn thịnh của toàn bộ nền văn học thời Thanh.

Giống như Chu Thiên tử khi xưa muốn quan sát phong tục và dân tình, nên có Kinh Thi 300 bài ca dao được lưu danh hậu thế; Hán Vũ Đế muốn làm rạng rỡ cơ nghiệp của đế vương, nên thể loại từ phú phát triển rực rỡ; Ngụy Vũ Đế khảng khái thi ca, khiến văn học Kiến An hưng thịnh; Đường Thái Tông đặc biệt yêu thích thơ văn, đưa thơ Đường trở thành thể loại văn học tiêu biểu của cả một thời đại; sự kính ngưỡng và cổ xướng văn hóa Hoa Hạ của Hoàng đế Khang Hy không chỉ ảnh hưởng đến các đại thần bên cạnh ông, mà còn lan tỏa ra toàn thiên hạ. Ông còn thông qua việc thực thi chính sách, trọng đãi hiền tài, miệt mài sáng tác, v.v., đã tạo dựng nên một hoàn cảnh văn đàn sôi nổi, cởi mở vào đầu thời Thanh.

Bác học hồng từ

“Tự cổ chí kim, mỗi khi một triều đại hưng khởi, ắt có những bậc đại uyên bác thông tuệ, chấn hưng vận thế văn đàn, giảng giải và phát huy kinh sử điển tịch, sáng tác những áng thơ văn trau chuốt, để làm nguồn nhân tài dự bị cho các vị trí cố vấn, học sĩ.” — Hoàng đế Khang Hy.

(Nguồn: Tự cổ nhất đại chi hưng, tất hữu bác học hồng nho, chấn khởi văn vận, xiển phát kinh sử, nhuận sắc từ chương, dĩ bị cố vấn trứ tác chi tuyển. — “Khang Hy triều thực lục”).

Vào đầu thời nhà Thanh, nhiều bậc đại Nho học vấn uyên bác, với thân phận là di dân nhà Minh, kiên thủ khí tiết dân tộc, đoạn tuyệt con đường quan lộ để ẩn dật chốn dân gian. Trong hình là một phần bức “Lưu Tùng Niên đọc sách tại sơn quán” trong “Danh lưu tập tảo sách” thời Tống. (Ảnh: Tư liệu công cộng)

Vào đầu thời Thanh, nhiều bậc đại Nho học vấn uyên bác, với thân phận là di dân nhà Minh, đã giữ vững khí tiết dân tộc, đoạn tuyệt con đường quan lộ để ẩn dật chốn dân gian. Hoàng đế Khang Hy vốn luôn ngưỡng mộ văn hóa Hoa Hạ, ngay từ khi bắt đầu tự thân nắm việc triều chính đã nỗ lực chiêu mời những bậc hiền tài còn sót lại trong thiên hạ, thể hiện sự trọng đãi và tôn kính với các văn nhân người Hán, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ của văn hóa triều Thanh.

Năm Khang Hy thứ 9 (năm 1670), Hoàng đế Khang Hy đã ban chiếu khắp thiên hạ, lệnh cho quan lại các địa phương tìm kiếm những văn nhân vừa có tài học vừa có đức hạnh, tiến cử làm những bậc sĩ phu “ẩn dật nơi núi rừng”, rồi mời về kinh thành lưu lại sử dụng.

Năm Khang Hy thứ 17 (năm 1678), loạn Tam Phiên được dẹp yên, vận nước ổn định. Để chiêu nạp thêm nhiều hiền tài, Hoàng đế Khang Hy lại ban một đạo chiếu thư, bày tỏ tâm nguyện khao khát cầu hiền tài, lệnh cho các quan từ tam phẩm trở lên ở kinh thành cùng các vị Đốc phủ địa phương tìm kiếm khắp nơi những người “học vấn, phẩm hạnh đều ưu tú, văn chương xuất chúng”. Bất kể người đó đã làm quan hay chưa, đều phải tiến cử lên triều đình để Hoàng đế đích thân khảo hạch và tuyển dụng. Đây chính là việc Hoàng đế Khang Hy mở khoa “Bác học hồng từ” (tạm hiểu là học rộng, thi từ mênh mang, phong phú), trở thành một sự kiện trọng đại của văn đàn đầu thời Thanh.

Khoa thi Bác học hồng bắt đầu từ niên hiệu Khai Nguyên đời Đường Huyền Tông, hai thời Nam – Bắc Tống vẫn tiếp tục duy trì, chú trọng tuyển chọn những người có văn tài xuất chúng để bổ nhiệm làm quan. Dưới sự đề xướng của Hoàng đế Khang Hy, các quan lại lần lượt tiến cử văn nhân danh sĩ vào kinh. Khi ấy đang giữa mùa đông, Hoàng đế Khang Hy đặc biệt ưu đãi những tinh anh của văn đàn này. Ông cho rằng ngày mùa đông ngắn, bất lợi cho việc làm bài, nên hạ chỉ hoãn kỳ thi, đợi đến mùa xuân năm sau khi tiết trời ấm áp mới sắp xếp tổ chức. Đồng thời, ông còn lệnh cho quan viên Bộ Lễ chăm lo việc ăn ở cho tất cả những người này, cấp phát tiền lương thực, sắp xếp chu đáo nơi ăn chốn ở cho họ.

Ngày mồng 1 tháng 3 năm Khang Hy thứ 18 (năm 1679), gió xuân ấm áp thổi qua Tử Cấm Thành, tiếng lễ nhạc du dương, một kỳ đại khảo nhằm chiêu hiền nạp sĩ sắp được tiến hành. 143 danh gia đại Nho tề tựu tại điện Thái Hòa. Sau một loạt nghi lễ, họ lần lượt đến các chỗ ngồi tại Thể Nhân Các, chuẩn bị tham dự kỳ thi Bác học hồng từ. Đề thi gồm hai bài thơ văn: “Toàn Cơ Ngọc Hành phú” và “Tỉnh canh thi, ngũ ngôn bài luật, nhị thập vận”. Trước khi chính thức bắt đầu kỳ thi, Hoàng đế Khang Hy còn đặc biệt ban yến tiệc, thể hiện sự trọng đãi và coi trọng hết mực.

Sau hơn 10 ngày chấm bài, Hoàng đế Khang Hy tuyển lấy 50 người, trong đó 20 người hạng nhất, 30 người hạng nhì, lần lượt được bổ nhiệm các chức quan như Hàn lâm viện Thị độc, Thị giảng, Biên tu, Kiểm thảo. Những danh sĩ nổi tiếng đầu thời Thanh như Trần Duy Tùng, Chu Di Tôn, Thang Bân, Uông Uyển, Thi Nhuận Chương đều là những nhân tài kiệt xuất trong đó.

Ngoài việc tổ chức khoa cử, khi tuần du các nơi, Hoàng đế Khang Hy cũng đặc biệt coi trọng việc tìm kiếm những danh sĩ địa phương. Đối với một số ít bậc túc Nho không chịu ra làm quan như Tôn Kỳ Phùng, Lý Ngung, Hoàng Tông Hy, Hoàng đế Khang Hy cảm phục chí hướng của họ, than thở tiếc nuối không ngớt, lại sai người sao chép các trước tác của họ và lưu trữ tại kinh thành.

Tuy nhiên, dưới sự cảm hóa của Hoàng đế Khang Hy, ngày càng có nhiều hiền sĩ thể hiện sự công nhận với triều đại mới, sẵn lòng ra sức phụng sự Thiên tử. Họ không chỉ có thể vào triều làm quan, mà còn được tham gia nhiều công trình biên soạn sách quy mô lớn, chẳng hạn như “Khang Hy tự điển”, “Bội Văn vận phủ”, “Toàn Đường thi”, “Cổ kim đồ thư tập thành”, v.v., đây đều là những tài nguyên quan trọng trong kho tàng văn minh Trung Hoa.

Trong tất cả các bộ sách văn hóa, nổi tiếng nhất phải kể đến việc biên soạn “Minh sử”. Hoàng đế Khang Hy cho mở “Minh sử quán”, mời những người thuộc khoa Bác học hồng từ học vấn uyên bác đến biên soạn quốc sử tiền triều. Những văn nhân người Hán này, trong quá trình biên soạn sử sách, cũng gửi gắm vào từng câu chữ nỗi nhớ cố quốc cùng tấm lòng trung nghĩa của mình. Vì vậy, “Minh sử” có chất lượng thuộc hàng thượng thừa trong Nhị thập tứ sử, đặc biệt có thể nói là bộ sử xuất sắc nhất trong số các bộ sử của những triều đại về sau. Học giả nhà Thanh Triệu Dực đánh giá rằng: “Trong các bộ sử cận đại, ngoài “Ngũ đại sử” của Âu Dương Công, thì “Liêu sử” giản lược, “Tống sử” rườm rà, “Nguyên sử” cẩu thả; chỉ có “Kim sử” văn phong tao nhã, trong sáng, tường thuật ngắn gọn súc tích, có một chút đáng xem, nhưng chưa có bộ nào hoàn thiện được như “Minh sử”.

Ủng hộ thơ văn

“Nhìn quanh các khanh, đều là những bậc trọng thần đang giữ chức cao vị trọng, gánh vác trách nhiệm phò tá triều chính, thẳng thắn dâng sớ can gián, trông coi điển tịch. Các khanh nên cùng nhau sáng tác thi ca, kế thừa truyền thống thơ ca Nhã, Tụng.” — Hoàng đế Khang Hy, “Thăng bình gia yến thi tự”.

(Nguồn: Cố chiêm chư thần, hoặc vị cư hài bật, hoặc chức nhâm khanh doãn, hoặc điển văn hàn, hoặc ty hiến nạp, nghi cộng thành thiên thậm, dĩ thiệu Nhã Tụng chi âm. — “Khang Hy triều thực lục”).

Trong quan hệ quân thần, sử sách cũng nhiều lần ghi chép những lần Hoàng đế Khang Hy cùng các đại thần xướng họa thơ ca. Trong hình là một phần bức tranh “Tử Quang Các tứ yến đồ quyển” của Diêu Văn Hãn thời Thanh. (Ảnh: Tư liệu công cộng)

Thiên tử ở ngôi cao, chính sách đối với văn hóa thường có ảnh hưởng dẫn dắt khuynh hướng văn học của cả một triều đại. Hoàng đế Khang Hy tôn sùng văn hóa Hán, ưu đãi và cất nhắc những nhân tài văn học, đồng thời ra sức đề xướng việc sáng tác thơ, văn, từ, phú. Ông từng nói với các học sĩ Hàn lâm viện rằng, trong việc trị quốc, điều trước tiên phải tôn sùng nho nhã; nay bốn phương đã được bình yên, chính là thời cơ tốt để chấn hưng văn giáo. Còn trong số các quan lại thuộc Hàn lâm viện, những người sở trường về từ phú và thư pháp đều phải lần lượt dâng trình tác phẩm của mình lên Hoàng đế.

Hoàng đế Khang Hy không chỉ dùng thơ văn để tuyển nhân tài trong khoa thi Bác học hồng từ, mà còn đưa việc đề xướng thơ văn vào nhiều chính sách khác. Chẳng hạn, ông yêu cầu những người theo học tại Quốc Tử Giám, trường giáo dục đại học đương thời, ngoài việc học tập bộ sách “Tứ thư”, còn phải sáng tác thơ, phú, văn; mỗi năm vào hai mùa xuân thu đều tổ chức các kỳ khảo thí thơ ca. Trong chuyến Nam tuần lần thứ 5 vào năm Khang Hy thứ 44 (năm 1705), Hoàng đế Khang Hy còn yêu cầu quan lại triệu tập các thư sinh địa phương, tiến hành khảo thí thơ văn, ghi danh và ban thưởng cho những người xuất sắc để đưa vào danh sách dự bị tuyển dụng làm quan.

Trong quan hệ giữa quân thần, sử sách cũng nhiều lần ghi chép những lần Hoàng đế Khang Hy cùng các đại thần xướng họa thơ ca. Vào ngày Thượng Nguyên năm Khang Hy thứ 21 (năm 1682), để mừng việc bình định Tam Phiên, Hoàng đế Khang Hy tổ chức đại yến tại Càn Thanh Môn, thiết đãi gần 100 vị quần thần, trong đó có các quan văn như Hàn lâm học sĩ. Trong tiệc, quân thần cùng vui vẻ uống rượu, chuyện trò cười nói sôi nổi. Ngày hôm sau, Hoàng đế Khang Hy sáng tác “Thăng bình gia yến thi tự” (Tựa bài thơ Yến tiệc mừng thái bình), đồng thời khởi xướng câu thơ đầu: “Lệ nhật hòa phong bị vạn phương” (Ngày đẹp gió mát phủ khắp muôn phương). Quần thần lại tề tựu tại điện Thái Hòa, theo thể luật “Bách Lương thể” để liên cú làm thơ. Quân thần Hán Vũ Đế từng cùng nhau lên Đài Bách Lương liên cú làm thơ, mỗi câu đều gồm bảy chữ và gieo vần, từ đó hình thành thể thơ “Bách Lương”.

Năm Khang Hy thứ 42 (năm 1703), nhân dịp Hoàng đế Khang Hy mừng thọ 50 tuổi, quần thần xin vào triều chúc mừng và dâng tặng châu báu. Hoàng đế Khang Hy lại nói: “Các khanh dâng lễ như vậy, các vị Đốc phủ ở địa phương nhất định sẽ noi theo, vì thế Trẫm tuyệt đối không nhận. Trẫm vốn yêu thích văn học, nếu chư vị đại thần có thơ văn dâng lên thì hãy để lại để Trẫm thưởng lãm.” Sau đó, các đại thần làm một bức bình phong “Vạn thọ”, rồi sao chép những dòng chữ trên bình phong thành một tập sách, cùng dâng lên Hoàng đế Khang Hy để chúc thọ. Hoàng đế Khang Hy cũng chỉ giữ lại tập sách, còn trả lại bức bình phong.

Tới lúc cuối đời, tức tháng Giêng năm Khang Hy thứ 61 (năm 1722), Hoàng đế Khang Hy tổ chức yến tiệc ban thưởng cho các đại thần văn võ trước Càn Thanh Cung, đồng thời còn mời những quan viên đã về hưu hoặc bị bãi chức từ 65 tuổi trở lên. Trước tiên, ông tự sáng tác một bài thất ngôn luật thi, sau đó lại yêu cầu những người tham dự mỗi người làm một bài thơ để ghi lại sự kiện trọng đại này, cuối cùng biên thành “Thiên Tẩu Yến thi”.

Ngoài ra, khi Hoàng đế Khang Hy đến Nam Uyển săn bắn, hoặc khi nhận được các sản vật quý hiếm như sư tử, voi do nước ngoài tiến cống, ông cũng thường sai các đại thần tức cảnh làm thơ ngay lúc đó.

Bản thân Hoàng đế Khang Hy có trình độ tu dưỡng văn học rất cao, cũng thường ban thơ cho các quan văn võ có công trạng để biểu thị sự khen thưởng đặc biệt, đồng thời thông qua phương thức này để thắt chặt mối liên hệ với các vị văn thần. Trong “Ngự chế văn tập” của Hoàng đế Khang Hy, những tác phẩm được ghi rõ là thơ ban tặng có tới 60 bài. Còn tại các địa phương, hoạt động ban tặng của Hoàng đế Khang Hy càng thường xuyên hơn. Riêng tỉnh Sơn Tây, theo thống kê trong “Sơn Tây thông chí”, những người quê Sơn Tây hoặc làm quan tại Sơn Tây đã được ban tổng cộng 32 bài thơ do chính vua sáng tác (ngự chế) và 36 bài thơ của các bậc tiền hiền do chính tay vua ngự bút.

Những biện pháp khởi xướng thơ văn này không chỉ lưu truyền một số lượng lớn những vần thơ tao nhã của văn nhân, mà còn có ý nghĩa trọng đại với văn đàn đầu thời Thanh. Trong các hoạt động quy mô lớn như ban yến, lễ mừng, gần như quy tụ tất cả những tài tử đương triều tinh thông thơ văn thời bấy giờ. Họ vừa là trọng thần phò tá quân vương, vừa là những nhân vật dẫn đầu văn đàn. Những sáng tác và địa vị xã hội của họ có tác dụng khích lệ và dẫn dắt các văn nhân trong thiên hạ. Đồng thời, Hoàng đế Khang Hy dùng tấm lòng chân thành nhất để kết giao với các văn nhân người Hán, đạt đến cảnh giới lý tưởng quân thần đồng tâm, đồng đức. Điều này cũng hóa giải tâm trạng bi thương của họ với cố quốc, khiến phong khí văn đàn theo đó chuyển biến, cất lên những thanh âm ca tụng thời kỳ thịnh thế.

Tác phẩm phong phú

“Phàm người ta muốn tu dưỡng đức hạnh, gây dựng sự nghiệp, mọi việc đều bắt đầu từ việc đọc sách. Đọc sách nhiều thì lòng ham muốn cá nhân sẽ nhạt bớt; ham muốn nhạt bớt thì chi tiêu, tốn kém sẽ giảm đi; chi tiêu giảm đi thì bớt phải bươn chải, cầu cạnh; bớt bươn chải, cầu cạnh thì phẩm giá tự khắc nâng cao.” — Hoàng đế Khang Hy.

(Nguồn: “Đình huấn cách ngôn”)

Thư pháp hành thư của Hoàng đế Khang Hy. (Ảnh: Tư liệu công cộng)

Hoàng đế Khang Hy là một vị hoàng đế nổi tiếng trong lịch sử với tinh thần hiếu học không biết mệt mỏi. Sử sách ghi chép rằng, năm lên năm tuổi, Hoàng đế Khang Hy bắt đầu đọc sách, thường đọc đến nửa đêm mà vẫn say mê không biết mệt; khi 17-18 tuổi, vì đọc sách quá sức, đến mức ho ra máu nhưng vẫn không chịu nghỉ ngơi; đến khi tuổi cao, trên tay ông vẫn không rời quyển sách, luôn giữ thái độ khiêm tốn, hiếu học.

Chính vì vậy, bên cạnh những chiến công hiển hách và sự nghiệp trị quốc chói lọi trong sử sách, Hoàng đế Khang Hy còn khiến người đời thán phục về học vấn và tài năng nghệ thuật vượt trội. Tăng Quốc Phiên từng ca ngợi Hoàng đế Khang Hy: “Từ thiên văn, địa lý, lịch pháp, âm nhạc, khảo cứu lễ nghi, binh pháp, hình luật, nông chính ở trên, cho đến cưỡi ngựa bắn cung, y dược, kỳ môn, nhâm độn ở dưới; văn thư, chữ viết của Mãn, Mông, Tây Vực và các nước hải ngoại, gần như không có lĩnh vực nào không thông hiểu.”

Hoàng đế Khang Hy tài cao nghệ tuyệt, có sở thích văn học rất rộng. Lúc nhàn rỗi sau công việc triều chính, ông lại vung bút múa mực, miệt mài sáng tác và để lại vô số tác phẩm văn chương. Ông tôn sùng Nho học, đồng thời trong sáng tác văn học cũng kế thừa tinh thần “văn dĩ tải Đạo” của Nho gia. Những tư tưởng văn học của ông được ghi rải rác trong sử sách. Trước hết, Hoàng đế Khang Hy khởi xướng thống nhất giữa văn chương và đạo đức. Ông từng nói: “Xưa nay, đạo đức và văn chương vốn không phải hai việc khác nhau; người có tài văn chương ắt phải hiểu rõ đạo lý, còn người học đạo cũng quý ở chỗ có thể làm văn.”

Nho gia nhấn mạnh “văn chất bân bân”, tức văn chương và phẩm chất phải hài hòa, người quân tử cũng như vậy. Hoàng đế Khang Hy cho rằng làm văn nên lấy nội dung làm trọng, phản đối lối văn phù phiếm, hoa mỹ mà không thiết thực, tức “lấy việc làm sáng tỏ đạo lý làm chủ, không chuộng từ ngữ hoa mỹ”. Tuy nhiên, điều ông đề cao nhất vẫn là những tác phẩm “văn chất xán nhiên”, vừa có nội dung vừa có văn tài, khiến người đọc “thần giải ý thích”, trong quá trình đọc và cảm nhận được sự thư thái, vui vẻ.

Về phương diện “chất”, Hoàng đế Khang Hy nỗ lực học tập văn hóa Hoa Hạ; còn về phương diện “văn”, ông cũng không ngừng trau dồi kỹ nghệ, khiêm tốn thỉnh giáo các văn thần bên cạnh. Trong lời tựa bài thơ “Tĩnh tọa độc thư tự dụ”, Hoàng đế Khang Hy đề cập rằng, nếu các đại thần chỉ ra trong tác phẩm của ông những khuyết điểm như vần điệu chưa hợp lý, thanh bằng trắc chưa hài hòa, điển cố chưa chuẩn xác, nối câu chưa tao nhã, ông liền lập tức sửa lại.

Trong “Tứ khố toàn thư”, “Thánh Tổ Nhân Hoàng đế Ngự chế văn tập” của Hoàng đế Khang Hy gồm 4 tập, 176 quyển, bao gồm các thể loại văn học chính thống như thơ, từ, văn, phú, cùng những bài bình luận văn nghệ. Trong đó, tản văn và thơ ca là những thể loại chủ đạo. Tản văn của ông có lối tự sự giản dị, sinh động, văn phong mộc mạc, trong sáng, rất có phong cách quý phái; còn số lượng lớn thơ ca lại tập trung phản ánh rõ hơn những thành tựu nghệ thuật của Hoàng đế Khang Hy. Trong suốt cuộc đời, Hoàng đế Khang Hy để lại hơn 1.000 bài thơ ngự chế, về số lượng có thể sánh với các thi nhân thời thịnh Đường. Qua đó đủ thấy ông yêu thích thơ ca đến mức nào, cũng như tâm huyết đã bỏ ra cho việc đề xướng thơ văn.

Nội dung thơ ca của ông vô cùng phong phú, từ cảnh sắc đất trời, núi sông đến những sự tích trị loạn từ xưa đến nay, không gì không được thể hiện trong thơ. Hoàng đế Khang Hy tuân theo giá trị truyền thống “thi ngôn chí” (thơ để tỏ chí), với vị thế cửu ngũ chí tôn, quan tâm đến triều đại do mình cai trị; qua từng câu chữ được gọt giũa, thể hiện lý tưởng trị quốc an bang cùng hoài bão tích cực dụng thế.

Sau đây, chúng ta hãy cùng thưởng thức hai bài thơ của Hoàng đế Khang Hy, qua đó tìm hiểu đôi nét về văn học mà ông dày công tu dưỡng và thế giới nội tâm của ông.

Bài thơ “Cổ Bắc Khẩu tuyệt cú”:

“Đoạn sơn du cổ bắc, thạch bích khai tuấn viễn, hình thắng cố nan bằng, tại đức bất tại hiểm.”

Tạm dịch:

Vượt qua Cổ Bắc núi chông chênh,
Vách đá giăng hàng trải thẳm xa.
Địa thế xưa nay khôn cậy tựa,
Cốt ở đức dày, há ở hiểm.

Bài thơ “Đăng thành”:

“Thành cao thiên nhận vệ sơn xuyên, hổ cứ long bàn vương khí toàn, xa mã vãng lai vân vụ lí, dân sinh hưu thích tại đương tiền.”

Tạm dịch:

Thành cao ngàn nhận gác sông hồ,
Rồng cuộn hổ ngồi trọn vóc cơ.
Xe ngựa xuôi ngược trong mây xám,
Nỗi niềm bách tính trăn trở đây.

Hoàng đế Khang Hy lên núi làm thơ, phóng tầm mắt nhìn dãy núi đứt đoạn, hiểm trở, hùng vĩ và tường thành cao ngàn nhận (nhận là đơn vị đo chiều dài thời nhà Chu), hợp thành một hệ thống phòng ngự kiên cố, phô diễn khí tượng thịnh thế của cả một triều đại. Thế nhưng, vượt lên trên hình ảnh trước mắt, ông lại liên tưởng đến một tầng ý nghĩa sâu xa hơn: chống giặc ngoại xâm không phải dựa vào cửa ải hiểm trở, mà cốt ở việc thi hành đức chính và giáo hóa bốn phương; sự hưng thịnh của một quốc gia cũng không nằm ở vẻ phồn hoa xe ngựa tấp nập, mà ở chỗ luôn xem sinh kế của muôn dân là việc hệ trọng nhất trước mắt.

Hai bài thơ này có bút pháp hào hùng, biến hóa linh hoạt và có chiều sâu, trong thơ lời răn sâu sắc lay động lòng người, nêu bật cốt lõi của đạo trị quốc an bang. Quả xứng là thơ của bậc đế vương.

Văn học dân tộc Mãn

“Nạp Lan Tính Đức sở trường sáng tác thơ, đặc biệt tinh thông nghệ thuật điền từ (từ là một thể loại văn học thời Đường, Tống). Ông học tập phong cách của các từ gia thời Nam Đường và Bắc Tống, các tác phẩm từ của ông giàu vẻ đẹp nghệ thuật tinh tế, sâu lắng và vi diệu.”

(Nguồn: Tính Đức thiện thi, vưu trưởng ỷ thanh. Biến thiệp Nam Đường, Bắc Tống chư gia, cùng cực yếu miễu. — “Thanh sử cảo”).

Chân dung Nạp Lan Tính Đức trong bộ “Thanh đại học giả tượng truyện” của Diệp Diễn Lan đời Thanh. (Ảnh: Tư liệu công cộng)

Các dân tộc thiểu số ở Hoa Hạ luôn để lại ấn tượng là võ dũng có thừa nhưng văn tài chưa đủ. Tuy nhiên, khi họ lên ngôi ở Trung Nguyên, thống nhất Hoa Hạ, họ cũng dần chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Hán, từ những dũng sĩ trên lưng ngựa trở thành những bậc quân tử văn võ toàn tài. Đặc biệt vào thời Khang Hy, Hoàng đế Khang Hy xem Mãn và Hán là một thể thống nhất, hết sức đề cao Nho học cùng thơ văn của người Hán, đồng thời cũng nỗ lực nâng cao trình độ văn học của con em Bát Kỳ.

Dưới ảnh hưởng của Hoàng đế Khang Hy, nhiều người Mãn nhiệt tình kết giao với sĩ nhân người Hán, học tập văn hóa Hán, đồng thời giống như người Hán, đọc sách, hiểu Lễ, tham gia khoa cử và ra làm quan. Từ đó, văn học dân tộc Mãn dần hưng thịnh, xuất hiện một lượng lớn các nhà văn học tài danh.

Trong số đó, nổi tiếng nhất phải kể đến Nạp Lan Tính Đức, được mệnh danh là “Đệ nhất tài tử Mãn Thanh”. Ông sinh ra trong một gia đình quyền quý, thuộc Chính Hoàng Kỳ Mãn Châu, cha là Nạp Lan Minh Châu, trọng thần trong Nội các. Năm 17 tuổi, ông vào Thái học; năm 18 tuổi đỗ cử nhân; năm 19 tuổi đỗ Hội thí; đến năm 22 tuổi bổ sung dự thi Điện thí và đỗ Tiến sĩ. Hoàng đế Khang Hy hết sức sủng ái Nạp Lan Tính Đức, giữ ông bên cạnh làm Ngự tiền thị vệ, quan hệ quân thần rất thân thiết.

Công tử quyền quý Nạp Lan Tính Đức là người văn võ toàn tài, giỏi cưỡi ngựa bắn cung, tinh thông thơ từ. Ông có phong thái siêu phàm thoát tục, tình cảm phong phú và tinh tế, thành tựu cao nhất là ở thể từ. Thơ từ của ông phần nhiều viết về tình cảm, chốn biên thùy, Giang Nam, cũng như vịnh vật, vịnh sử, v.v.; câu chữ thanh tân, tuấn tú, tình cảnh ai uyển, triền miên, bi sảng trầm hùng, phảng phất phong vị của Lý Dục và Yến Kỷ Đạo.

Mặc dù chỉ có hơn 300 bài từ được lưu truyền đến nay, nhưng trong các tác phẩm của Nạp Lan Tính Đức liên tục xuất hiện những kiệt tác. Nạp Lan Tính Đức biên soạn hai tập từ là “Trắc mạo tập” và “Ẩm thủy từ”. Các tác phẩm từ của ông vừa ra đời đã tạo nên tiếng vang lớn, được nhà nhà tranh nhau ngâm xướng. Nạp Lan Tính Đức còn được xếp cùng Chu Di Tôn và Trần Duy Tùng người Hán thành “Tam đại gia từ Thanh triều”, thậm chí còn được ca ngợi là “Đệ nhất từ gia thời đầu triều Thanh”.

Một người khác cũng đạt thành tựu cao là Nhạc Đoan. Ông là con trai của Thân vương Nhạc Lạc, tinh thông cả thơ và hội họa, trong hoàng thất nổi tiếng là người phong nhã. “Tây lĩnh sinh vân tương tác vũ, đông phong vô lực bất phi hoa” là câu thơ nổi tiếng của ông, đương thời được gọi là “Đông Phong cư sĩ”. Vốn là Quận vương, nhưng ông nhiều lần gặp thất bại, là thành viên hoàng tộc nhưng không được trọng dụng, ôm nỗi niềm bất đắc chí; vì thế, trong thơ thường bộc lộ những lời lẽ phóng khoáng mà bi phẫn. Ông có các tập thơ như “Ngọc Trì Sinh cảo”, đồng thời sáng tác hý khúc “Dương Châu mộng truyền kỳ”, trở thành người đầu tiên trong giới người Mãn sáng tác lời cho hý kịch.

Chịu trách nhiệm biên tập bản tiếng Trung: Vương Du Duyệt

(Còn tiếp)

(The Epoch Times)

Dịch từ: https://www.epochtimes.com/gb/20/6/4/n12161729.htm