Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật thiên cổ anh hùng của Văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm

[ChanhKien.org]

Chương 4: Kháng chiến chống Nhật, bảo vệ Trung Hoa

1. Kháng chiến toàn diện

“Chúng ta phải dùng thời gian lâu dài để cố thủ không gian rộng lớn, phải lấy không gian rộng lớn để kéo dài thời gian kháng chiến, tiêu hao thực lực của kẻ địch, giành lấy thắng lợi cuối cùng”. (Tưởng Giới Thạch)

Lấy yếu thắng mạnh

Ngày 07/07/1937, Nhật Bản phát động sự kiện cầu Lư Câu, chiến tranh xâm lược Trung Quốc bùng nổ toàn diện. Quân Nhật điều động mười vạn đại quân, máy bay, xe tăng, xâm lược vùng Hoa Bắc trên quy mô lớn, tham vọng thực hiện “Ba tháng chiếm [Trung] Hoa”. Bắc Bình, Thiên Tân lần lượt thất thủ chỉ trong vài ngày. Ngày thứ hai sau sự kiện, Tưởng Giới Thạch viết trong nhật ký ở dòng cuối rằng “Chiến sự bùng nổ, đất không phân Đông Nam Tây Bắc, người không phân già trẻ nam nữ, đều phải quyết tâm chiến đấu bảo vệ tổ quốc, quyết tử với kẻ thù. Nếu ai giữa chừng thỏa hiệp hoặc nhượng bộ một tấc đất, thì kẻ đó sẽ trở thành tội nhân trong lịch sử dân tộc Trung Hoa. Quân nhân có trách nhiệm giữ đất, cho dù chỉ còn một người một súng, thì cũng phải chiến đấu với địch đến cùng.” (“Nhật ký Tưởng Giới Thạch”, ngày 08/07/1937)

Cuồng vọng của Nhật Bản hoàn toàn không phải để phô trương thanh thế. Nhật Bản khi đó là nước có nền kinh tế lớn thứ sáu trên thế giới, sức mạnh hải quân đứng thứ ba thế giới. Sau thời Minh Trị Duy Tân, Nhật Bản dùng tinh thần Võ sĩ Đạo để tạo ra một cỗ máy chiến tranh dũng mãnh, xưng hùng xưng bá ở Châu Á và khu vực Thái Bình Dương. Sau khi đánh bại Trung Quốc và Liên Xô trong cuộc chiến Trung-Nhật (năm Giáp Ngọ 1894) và chiến tranh Nga-Nhật, Nhật Bản càng trở nên ngông cuồng tự đại. Thời đó, Mỹ, Anh, Pháp và các cường quốc khác cũng không muốn động vào Nhật Bản, Liên Xô cũng luôn dè chừng sự uy hiếp của Nhật với vùng viễn Đông Liên Xô. Sau sự kiện “918” (Chiến tranh Trung-Nhật lần đầu tại Đông Bắc Trung Quốc ngày 18/09/1931), Nhật Bản chiếm ba tỉnh miền Đông, thành lập chính phủ bù nhìn Mãn Châu. Sĩ khí lên rất cao, vênh vênh váo váo. Còn Trung Quốc lại dân nghèo nước yếu, nội loạn liên miên, nhân tâm hoảng loạn. Chỉ dựa vào sức mạnh vật chất, Nhật Bản đã chiếm ưu thế áp đảo. Đối diện với sức mạnh như lang sói của Nhật, Trung Quốc gần như không thể chống cự. Các nước như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Liên Xô đều khoanh tay đứng nhìn. Tưởng Giới Thạch vô cùng thanh tỉnh, ông phải tìm đường cứu sống dân tộc mình trong nguy nan.

Đầu năm 1934, khi Tưởng Giới Thạch diễn thuyết cho Đoàn huấn luyện sĩ quan Lư Sơn với chủ đề “Bí quyết để cuộc chiến dân tộc giành thắng lợi” đã chỉ rõ: “Nếu nhìn kết quả của cuộc chiến trên phương diện chiến trường, tuy được quyết định bởi sự chiến đấu của quân đội, nhưng trên chiến đấu còn có chiến thuật; trên chiến thuật còn có chiến lược, trên chiến lược còn có sách lược chính trị. Nếu không thể chiến thắng kẻ địch trong chiến đấu, thì phải dùng chiến thuật, nếu chiến thuật không thể thắng, thì phải dùng chiến lược, nếu chiến lược không thể thắng, thì chúng ta nhất định phải dùng đến sách lược chính trị để giành thắng lợi”. Ông đã giảng ra pháp bảo để Trung Quốc có thể lấy yếu thắng mạnh.

Nhật Bản xâm lược là bất nghĩa; Trung Quốc tự vệ là chính nghĩa, “Ai binh tất thắng” (quân đội bi phẫn nhất định sẽ thắng). Nhật Bản muốn thắng nhanh, không chuẩn bị cho cuộc chiến lâu dài; còn Trung Quốc lại cần duy trì cuộc chiến lâu dài, từ sự kiện Tế Nam năm 1928 Tưởng Công đã bắt đầu chuẩn bị cho cuộc chiến. Nhật Bản tứ phía thọ địch; Trung Quốc từ đầu đến cuối chỉ có một kẻ địch là Nhật Bản. Nhật Bản thực hiện “Chế độ thống soái và Quốc vụ cùng tồn tại”, thực chất là sự phân tách quyền lực của Quân đội và Chính phủ, quân nhân hiếu chiến cướp quyền của Chính phủ, thậm chí giữa Lục quân và Hải quân cũng không tôn trọng lẫn nhau; còn Trung Quốc lại thành lập “Ủy ban Quốc phòng tối cao”, Tưởng ủy viên trưởng nắm toàn quyền lực của Quốc Dân Đảng, Chính phủ và Quân đội. Ngoại trừ quân đội của ĐCSTQ, các đội quân khác xuất phát từ đại nghĩa dân tộc, phần lớn đều tuân theo sự chỉ huy tối cao của Tưởng ủy viên trưởng. Tưởng Giới Thạch biết cách làm sao để phát huy những ưu thế “sách lược chính trị” của mình, còn quân phiệt Nhật Bản lại không có được những kiến thức ấy.

Ngày 13/07, Tưởng Giới Thạch gửi điện chỉ thị thủ trưởng hành chính Bắc Bình Tống Triết Nguyên: “Trung ương đã quyết tâm dùng tất cả nguồn lực để kháng chiến, thà làm ngọc vỡ chứ không giữ ngói lành, để bảo tồn nhân cách của đất nước chúng ta.”

Ngày 07/07, trong một buổi phát biểu nổi tiếng tại Lư Sơn, Tưởng Giới Thạch đã tuyên bố với thế giới: “Chúng tôi hiểu cục diện sau khi toàn quốc ứng chiến, chính là hy sinh đến cùng, hoàn toàn không có tâm lý cầu nhờ may rủi. Một khi chiến tranh nổ ra, ắt sẽ đất không phân biệt Nam Bắc, tuổi không phân biệt già trẻ, bất kể là ai thì đều có trách nhiệm chiến đấu giữ đất, đều phải quyết tâm hy sinh tất cả.” (Tuyên bố nghiêm chỉnh về sự kiện cầu Lư Câu, 1937).

Biến “Từ Bắc xuống Nam” thành “Từ Đông sang Tây”

“Phụ thân quả thực đã phân tích tỉ mỉ địa chiến lược của Trung Quốc đại lục, cho nên mới quyết định, muốn đối đầu với cường địch Nhật Bản, trước tiên phải tạo cho Nhật Bản một quan niệm sẽ thắng Trung Quốc. Ông phát hiện, nếu Nhật Bản muốn xâm lược Trung Quốc, thì phải đặt căn cứ tấn công ở phía Bắc, từ phía Bắc đánh xuống phía Nam, đẩy quân Quốc Dân Đảng xuống vùng duyên hải Đông Nam, nếu làm như vậy, là có thể đạt được giấc mộng đẹp “Ba tháng chiếm [Trung] Hoa”. Đối sách của chúng ta là khiến quân Nhật phải đổi hướng tấn công từ Bắc xuống Nam thành từ Đông sang Tây, đặt căn cứ tấn công của chúng ta tại hậu phương lớn (Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên), chỉ cần cửa phía sau căn cứ luôn mở thì chúng ta sẽ có cơ hội, cho nên chúng ta đã bỏ rất nhiều công sức để khai phá tuyến đường Tây Nam, Miến Điện và Ledo (Trung Ấn). Nếu phụ thân không thông thuộc lịch sử chiến tranh cổ đại của Trung Quốc, thì e rằng sẽ không dễ mà thể hội được địa lý Trung Quốc.” (Tự truyện theo lời kể của Tưởng Vĩ Quốc)

“Sau khi kháng chiến bùng nổ, chỉ đạo chiến tranh của phụ thân là phá vỡ tuyến tấn công từ Bắc xuống Nam của quân Nhật, giảm nhẹ áp lực tuyến từ Bắc xuống Nam, đồng thời khiến quân Nhật đổi hướng tấn công từ Đông sang Tây, chỉ có như vậy chúng ta mới có thể lợi dụng địa thế của khu vực Tây Nam (vốn là hậu phương lớn)”. (Tự truyện theo lời kể của Tưởng Vĩ Quốc)

Sau khi Trung Quốc mời Cố vấn Quân sự Đức, Tướng quân Alexander von Falkenhausen khảo sát Quốc phòng Trung Quốc, trong văn kiện bí mật năm 1935 “Kiến nghị về đối sách ứng phó thời cuộc” đã chỉ ra rằng, “Một khi xảy ra xung đột quân sự, Hoa Bắc ngay lập tức bị đe dọa. Nếu bỏ Hà Bắc mà không chiến đấu, thì đường Lũng Hải và các thành phố lớn sẽ bị mắc kẹt trong khu tiền tuyến.” Tướng Falkenhausen gợi ý rằng Trung Quốc nên tăng cường binh lực ở những nơi như Từ Châu, Trịnh Châu, Vũ Hán, Nam Kinh.”

Tưởng Giới Thạch cho rằng: “Quân đội Quốc Dân không nên tìm kiếm cơ hội quyết chiến ở đồng bằng phía Nam Bình Tân, vì với loại địa hình đó, người Nhật sẽ dễ dàng tiếp ứng quân đội, đồng thời phát huy được ưu thế về tính cơ động và hỏa lực.” (“Tưởng ủy viên trưởng chỉ thị cho Tham mưu trưởng Quân ủy Trình Tiềm sửa đổi mệnh lệnh về trình tự chiến đấu”, ngày 03/08/1937)

Lấy “Không gian” đổi “Thời gian”

Ngày 13/08, “Chiến dịch Tùng Hộ” bùng nổ tại Thượng Hải, quân Quốc Dân hai mặt đều có kẻ địch. Tưởng Giới Thạch tương kế tựu kế, quyết định mở rộng chiến sự ở Thượng Hải, dụ quân chủ lực của Nhật “(từ) Bắc đánh xuống Nam, biến thành từ Đông đánh sang Tây. Chúng ta dựa vào căn cứ của mình, vừa đánh vừa lùi,…. như vậy việc dùng không gian để đổi lấy thời gian mới khởi tác dụng” (Tưởng Vĩ Quốc – Bộ phim tài liệu “Một tấc núi sông một tấc máu”).

Nhật Bản không có kịch bản đánh trận quy mô lớn ở phía Nam Trung Quốc. Bộ tổng tham mưu quân Nhật sau sự kiện cầu Lư Câu đã xây dựng “Yếu lĩnh xử lý tình hình hiện nay tại Bắc Trung Quốc”, trong đó viết: “Cho dù hành vi kháng Nhật có lan rộng xuống miền Trung và miền Nam Trung Quốc, thì cũng lấy ‘không điều động binh lực lục quân’ làm nguyên tắc.” Bộ tổng tham mưu Nhật Bản lấy “đề phòng Liên Xô” làm chiến lược trọng điểm, vì họ cho rằng các thế lực cát cứ, phe phái ở miền Hoa Bắc của Trung Quốc đang độc bá một phương, họ đều có bản sắc riêng rất mạnh, nên Trung Quốc sẽ không thể phát động chiến tranh toàn diện.

Ngày 29/07, Tổng Bộ tham mưu Nhật Bản lập ra “Đề cương kế hoạch Tác chiến chống Trung Quốc”: “1. Dựa vào hành động tác chiến của quân đồn trú Trung Quốc, tại chiến khu Bình Tân (Bắc Kinh – Thiên Tân) cố gắng hết sức tiến đánh quân Trung Quốc càng mạnh càng tốt. 2. Trong tình huống bất đắc dĩ mới tác chiến tại Thanh Đảo và khu vực gần Thượng Hải.”

Tưởng Giới Thạch bố trí quân chủ lực “không ngại bất kể hy sinh, chấp nhận kiên cường tác chiến”. Khi tình huống chiến sự bất lợi, Tưởng tự mình đảm nhận vị trí chỉ huy chiến tuyến thứ 3, ra tiền tuyến chỉ huy. Trong một lần ra tiền tuyến Thượng Hải, đoàn tàu của Tưởng Giới Thạch bị máy bay Nhật tấn công và thoát hiểm trong gang tấc. Tưởng phu nhân bị máy bay Nhật Bản làm bị thương trên đường đến Thượng Hải. Lục quân, hải quân và không quân Nhật Bản phối hợp, hỏa lực ác liệt, khiến phía Trung Quốc thương vong hơn 100.000 người, cuối cùng chiếm được Thượng Hải. Quân đội quốc gia Quốc Dân Đảng dù ở thế bất lợi vẫn kiên cường chống trả, tiêu diệt hơn 60 ngàn quân địch, mài mòn nhuệ khí của quân Nhật. Chiến dịch Tùng Hộ, Thượng Hải đã phá vỡ kế hoạch “Ba tháng chiếm [Trung] Hoa”, và giấc mộng “Ép Tưởng cầu hòa” của Nhật Bản.

(Còn tiếp)

Dịch từ: https://www.epochtimes.com/gb/17/1/3/n8661132.htm