Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật thiên cổ anh hùng của Văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm
[ChanhKien.org]
Việc may mắn nhất trong đời
Tháng 4/1942, Tưởng Giới Thạch gợi ý phu nhân Tống Mỹ Linh đăng bài “Như điều tôi thấy” trên tờ “The New York Times”, yêu cầu Anh-Mỹ huỷ bỏ những hiệp ước bất bình đẳng với Trung Hoa: “Ba tháng vừa qua, nhân dân Trung Quốc chúng tôi ngạc nhiên không tin vào mắt mình, khi nhìn thấy quân đội phương Tây ở khắp mọi nơi đều đầu hàng quân địch … Còn chúng tôi lại cầm vũ khí lên chống lại quân địch. Đến hôm nay, đã sắp tròn 5 năm rồi”. “Sức mạnh tinh thần của Trung Quốc sẽ giúp chúng tôi vượt qua cửa ải khó khăn nhất, gian khổ nhất, hy vọng người phương Tây có thể hiểu được giá trị của sức mạnh tinh thần này”. Tưởng phu nhân nói rõ với thế giới phương Tây: Đừng xem thường người Trung Quốc.
Bài viết của Tưởng phu nhân đã gợi lên được sự đồng cảm của người dân nước Mỹ. Tổng thống Roosevelt nhận thức được rằng, Trung Quốc cũng như Anh và Hoa Kỳ, đều là trụ cột của lực lượng đồng minh. Ông đã thuyết phục được Thủ tướng Churchill, ngày 9/10/1942, Hoa Kỳ và Anh tuyên bố từ bỏ đặc quyền và lợi ích của họ tại Trung Quốc. Tưởng Giới Thạch xúc động không nguôi, đã viết trong nhật ký của ngày hôm đó rằng: “Từ khi thủ tướng làm cách mạng đến nay, đây chính là mục tiêu phấn đấu lớn nhất, vậy mà bây giờ tôi đã tự mình đạt được, trái tim đã được an ủi, đúng là một việc may mắn nhất trong đời”.
Dưới sự dẫn dắt của Mỹ và Anh, các nước Pháp, Canada, Bỉ, Na Uy, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Hà Lan cũng đã nhanh chóng hủy bỏ các hiệp ước bất bình đẳng với Trung Hoa.
Nhân cách của Tưởng Giới Thạch nhận được sự tôn trọng của các nước đồng minh quốc tế. Tháng 3/1943, Tổng thống Roosevelt đã viết thư cho tướng George Marshall, nói rằng: “Chúng ta nhất định phải nhớ kỹ, Ủy viên trưởng (Tưởng) phải trải qua hành trình gian khó mới trở thành người lãnh đạo không thể bàn cãi của 400 triệu người dân”. (Hoàng Nhân Vũ, “Đọc nhật ký của Tưởng Giới Thạch từ góc độ rộng lớn của lịch sử”)
Tháng 11/1943, nguyên thủ ba nước Trung – Mỹ – Anh đã gặp mặt tại Cairo, thương thảo chiến lược kháng Nhật và bố cục thế giới sau chiến tranh. Tưởng Công đề xuất: “Tất cả đất đai mà Nhật Bản chiếm đoạt của Trung Quốc, như Mãn Châu, Đài Loan, Bành Hồ, đều nên trả về cho Trung Hoa dân quốc”. Tưởng Công còn đưa ra hai chủ trương: “Thể chế chính trị tại Nhật Bản sau chiến tranh sẽ do người Nhật tự quyết định” và “Trợ giúp Triều Tiên và An Nam độc lập”. Tưởng Giới Thạch đã chỉ rõ: “Đối với các quốc gia như Thái Lan, Miến Điện, Việt Nam, Trung Quốc không có dã tâm xâm chiếm lãnh thổ”. Ông bày tỏ: “Sau chiến tranh, Trung Quốc không đưa quân chiếm đóng lãnh thổ Nhật Bản, mà do một mình Hoa Kỳ chiếm đóng”; Không cho Liên Xô có cơ hội xuất binh đánh Nhật, tránh việc Nhật Bản bị chia cắt. Tổng thống Roosevelt và Thủ tướng Churchill đều ủng hộ lập trường của Tưởng Công, đồng thời chính thức ghi vào “Tuyên bố Cairo”.
Tướng Albert Coady Wedemeyer là tham mưu trưởng của lực lượng đồng minh tại chiến khu Trung Quốc, đã bày tỏ sự khâm phục từ đáy lòng với cuộc kháng chiến của Trung Quốc, ông đã viết trong hồi ký rằng: “Tôi bắt đầu lĩnh hội được sự kiên nhẫn cùng sức nhẫn nại đáng kinh ngạc của chính phủ Quốc dân trong chiến tranh kháng Nhật, tuyệt không phải như Joseph Stilwell và những người bạn ký giả của ông ta đã miêu tả là không muốn tác chiến. Nước Pháp đã nhanh chóng khuất phục chỉ sau 6 tuần kể từ khi nước Đức phát động lệnh tấn công, còn từ khi Nhật Bản phát động chiến tranh xâm lược đến nay đã 7 năm trôi qua, Trung Quốc năm 1944 vẫn còn đang gian khổ chống đỡ”. (“Báo cáo của Wedemeyer”, 1958)
Năm 1944, “Flying Tigers” (Phi hổ đội) do Hoa Kỳ viện trợ đã hợp tác cùng không quân Trung Quốc triển khai tấn công mạnh mẽ quân Nhật tại không phận Trung Quốc. Đầu năm 1945, máy bay ném bom của Mỹ bắt đầu tấn công trên quy mô lớn vào các thành phố trọng yếu của Nhật. Tokyo cũng bị tập kích trên không. Lục quân Trung Quốc vây quét quân Nhật đóng tại Trung Quốc cũng dần tăng cấp.
Năm 1945 là một năm xoay chuyển tình thế. Ngày 28/4, Benito Mussolini đột ngột qua đời, ngày 30/4, Hitler tự sát. Đầu tháng 5/1945, Ý, Đức lần lượt đầu hàng, trục phát xít tan rã, chiến tranh Châu Âu kết thúc. Nhưng Nhật Bản vẫn quyết không đầu hàng, tích cực chuẩn bị cho một trận chiến quyết định cuối cùng trên mảnh đất nước mình với tên gọi “100 triệu viên ngọc nát” (ngọc nát ý chỉ sự hy sinh). Ngày 26/7, ba nước Mỹ, Anh và Trung Quốc đã đưa ra “Tuyên bố Potsdam”, “Thông báo cho chính phủ Nhật Bản ngay lập tức tuyên bố tất cả các lực lượng vũ trang Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện”. “Ngoại trừ con đường này, Nhật Bản sẽ nhanh chóng bị hủy diệt hoàn toàn”. Nhật Bản nào có biết, 10 ngày trước Hoa Kỳ vừa thí nghiệm một loại vũ khí đáng sợ: Bom nguyên tử. Nhật Hoàng cùng các tướng lĩnh của ông không thể hiểu được ý tứ của câu “nhanh chóng bị hủy diệt hoàn toàn”, nên chọn cách dựa vào địa thế hiểm yếu để chống lại.
Để tránh đổ máu nhiều hơn nữa, Tổng thống Truman quyết định sử dụng bom nguyên tử làm đòn sát thủ, giáng cho Nhật Bản một đòn cuối cùng. Ngày 6 và 9/8/1945, máy bay Mỹ lần lượt thả 2 quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Ánh chớp lóe sáng, từng đợt sóng xung kích quét ngang mặt đất, đám mây hình nấm bao phủ bầu trời, 2 thành phố lập tức trở thành đống đổ nát, 140,000 người Nhật Bản thiệt mạng. Ngày 15/8/1945, Thiên hoàng Nhật Bản Hirohito đã phát đi “Chiếu thư đình chiến”, tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
Tin tức truyền đi, tại vùng đất Thần Châu khắp chốn reo hò, người trong nước vui mừng đến phát khóc. Một cửa hiệu buôn bán ở Trường Sa treo câu đối: “Trung Hoa Trung Sơn Trung Chính, Dân tộc Dân quyền Dân sinh”. Khi này, thanh danh của Tưởng Giới Thạch tựa như mặt trời ban trưa.
Lấy đức báo oán
Vào ngày Nhật Hoàng Hirohito đầu hàng, Tưởng Giới Thạch đã có bài phát biểu: “Cuộc kháng chiến của chúng ta, đến hôm nay đã thắng lợi, chân lý ‘Chính nghĩa ắt sẽ thắng cường quyền’ cuối cùng đã được chứng minh”.
“Các đồng bào Trung Quốc chúng ta phải biết ‘không nhớ thù cũ’ và ‘thiện ý đãi người’ là đức tính vô cùng cao quý trong truyền thống của dân tộc ta. Chúng ta trước sau như một tuyên bố rằng chỉ coi quân phiệt hiếu chiến Nhật Bản là địch, không coi nhân dân Nhật Bản là địch. Hôm nay, quân địch đã bị quân đồng minh của chúng ta đánh bại”. “Nhưng chúng ta hoàn toàn không muốn trả thù, càng không muốn tăng thêm vũ nhục với những người dân vô tội của địch quốc”. “Phải biết rằng, nếu như dùng bạo lực để đáp lại những hành động bạo lực trước đây của quân địch, lấy hành động vũ nhục đáp trả lại sai lầm của họ trước đây, thì sẽ oan oan tương báo, vĩnh viễn không dừng, đây quyết không phải là mục đích của tấm lòng nhân nghĩa mà những người thế hệ trước đã dạy chúng ta”. (“Thư gửi quân dân cả nước cùng nhân sĩ toàn thế giới khi kháng chiến thắng lợi”, 1945)
Việc phế hay giữ chế độ Thiên Hoàng Nhật Bản, là một một vấn đề khó giải quyết. Các đồng minh phương Tây vẫn chưa ngã ngũ về vấn đề này. Trong Hội nghị Cairo, Tưởng Công đề xuất: “Kẻ phát động chiến tranh, chỉ là một nhóm quân phiệt Nhật Bản, tôi cho rằng điều kiện tất yếu là phải nhổ bỏ các nhóm quân phiệt, không thể để bọn họ lại được tham gia chính sự; còn hệ thống quốc gia của Nhật Bản nên như thế nào, tốt nhất đợi sau khi chiến tranh kết thúc sẽ do người dân Nhật Bản tự mình quyết định. Chỉ vì chiến tranh nhất thời mà can thiệp thể chế của nước khác, sẽ tạo thành sai lầm vĩnh viễn giữa các dân tộc”. (“Hồ sơ bí mật của tổng thống Tưởng Giới Thạch”)
Tưởng Giới Thạch thuyết phục Roosevelt, Churchill… giữ lại Thiên Hoàng trên danh nghĩa, duy trì toàn vẹn lãnh thổ của Nhật Bản. Nhật Bản thời hậu chiến, chính trị rõ ràng, kinh tế phát triển, là một thế lực hùng mạnh kìm hãm sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản.
Với tấm lòng vĩ đại lấy đức báo oán của Tưởng Giới Thạch, có học giả Đài Loan bày tỏ rằng: “Tưởng Giới Thạch sở dĩ có tấm lòng khoan dung rộng lượng như vậy với Nhật Bản, là vì ngay từ đầu ông đã không coi người dân Nhật là kẻ địch, ngược lại còn cho rằng mối bang giao giữa hai nước Nhật – Trung là mối quan hệ anh em, chỉ cần quân phiệt hiếu chiến Nhật Bản bị tiêu diệt, thì 2 nước Trung-Nhật tuyệt đối có thể hóa thù thành bạn. Hơn nữa, Trung Quốc hậu chiến tranh có thể đứng tại vị trí lãnh đạo Á Châu, Nhật Bản tất sẽ chủ động quy thuận”. (Hoàng Tự Tiến, “Thái độ Tưởng Giới Thạch đối với Nhật Bản trước và sau kháng chiến kết thúc: Nghiên cứu thảo luận sự thật “Lấy đức báo oán”)
Trong chiến tranh, Tưởng Công là khắc tinh của quân phiệt Nhật Bản, sau chiến tranh, ông lại trở thành Thần hộ mệnh của dân tộc Nhật Bản. Sau khi Tưởng Công mất, tỉnh Aichi, Nhật Bản đã xây dựng “Đền thờ Trung Chính” để thể hiện tấm lòng tri ân.
Xoay chuyển Càn Khôn
Ngày 24/10/1945, Trung Hoa Dân Quốc cùng với Hoa Kỳ, Anh, Liên Xô và Pháp khởi xướng thành lập Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc là một trong 5 thành viên thường trực. Tưởng Công với thân phận là lãnh tụ tối cao của Trung Quốc, đã trở thành một trong những người sáng lập Liên Hiệp Quốc.
Công lao sự nghiệp lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Nhật của Tưởng Công, ngay cả những đối thủ của ông cũng không thể phủ nhận. Trong một buổi nói chuyện nội bộ vào tháng 12/1971, Mao Trạch Đông đã nói: “Việc Tưởng Giới Thạch có một số ưu điểm là sự thật khách quan, chúng ta khi nói về lịch sử cần phải lưu tâm: Một là Bắc phạt thống nhất Trung Quốc, Hai là Chiến tranh kháng Nhật, Ba là Thu phục Bành Hồ, Bốn là mở mang lãnh hải. Năm 1946 Tưởng thu lại các đảo ở Nam Hải từ tay nước Pháp, vùng lãnh hải rộng 3,7 triệu km vuông này tương đương với ba tỉnh Ngoại Mông”. (Trương Lương Thiện, “Truyện ký bình luận về Mao Trạch Đông”)
Tưởng Vĩ Quốc nói: “Trong Thế Chiến thứ hai, nếu không phải là do cha tôi đưa ra một số đề xuất chỉ đạo chiến lược đúng đắn tại Hội nghị Cairo, e rằng sự việc tiếp theo sẽ phát triển tồi tệ hơn. Nói cách khác, mặc dù cục diện Thế giới đã rất tồi tệ, thế nhưng nếu không có sự nỗ lực của cha tôi ở Hội nghị Cairo, e rằng thế giới bây giờ càng tồi tệ hơn. Tuy nhiên, những nỗ lực của cha tôi đã bị phá hủy bởi Hội nghị Yalta sau đó, vì vậy Hội nghị Yalta là nguồn căn của sự rối loạn trên thế giới”.
Tưởng Vĩ Quốc cho rằng: “Vào thời điểm đó, có một cuộc chiến tranh thế giới không thể tránh khỏi sắp xảy ra, đó là cuộc chiến giữa Chủ nghĩa cộng sản và Chủ nghĩa chống cộng, nhưng rất tiếc là rất nhiều người lại không chú ý đến vấn đề này”.
“Mãi cho đến đại chiến thế giới lần thứ hai, chiến khu Trung Quốc mới giành được thắng lợi một cách khó khăn. Để bù đắp cho sự ích kỷ mà người phương Tây thể hiện tại Hội nghị Yalta, ông (Tưởng Giới Thạch) đã đề xuất phương pháp lấy đức báo oán. Quan điểm của cha vốn mang tính toàn cầu, không chỉ là Trung Quốc lấy đức báo oán với Nhật Bản, mà đồng thời cũng yêu cầu các đồng minh châu Âu và Hoa Kỳ cũng lấy đức báo oán với Đức và Ý. Mục đích của ông chính là muốn ngăn cản thế lực cộng sản ở giữa Á Châu và các Đại Lục phía bắc, không để thế lực cộng sản lan rộng đến khu vực Thái Bình Dương. Ông cũng kêu gọi các lục địa Á – Âu chú ý đến sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản. Các nước Âu Châu đã thực hiện một số biện pháp, nhưng tại Châu Á thì vì sự ích kỷ của người Âu Châu đã gây ra hỗn loạn lớn. Tướng Douglas MacArthur sau khi tiếp nhận thông tin của cha tôi, đã tương đối chú ý đến việc ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản, chẳng hạn như giữ nguyên chế độ Thiên Hoàng Nhật Bản, làm cho học thuyết cộng sản không tràn vào Nhật Bản ngay sau chiến tranh; mặt khác, các lực lượng chiếm đóng do Hoa Kỳ độc quyền điều động, còn các nước tham gia khác cử lực lượng hành chính tượng trưng, khiến cho quân đội Liên Xô không thể tiến vào lãnh thổ Nhật Bản”. (Tự truyện truyền miệng của Tưởng Vĩ Quốc).
Sau khi Tưởng Công mất, chính phủ Nhật Bản đã gửi một điện chia buồn: “Tổng thống Tưởng là đại ân nhân tái tạo Nhật Bản, chính sách lấy đức báo oán của Tưởng Trung Chính đối với Nhật Bản, đã tăng tốc sự tái thiết và phục hưng của Nhật sau chiến tranh. Sự ra đi của Tổng thống Tưởng với người Nhật như sấm sét giữa trời quang, người dân Nhật Bản có lương tri không ai không đau buồn vô hạn”. (“Tưởng niệm Tổng thống Tưởng Giới Thạch”)
Cùng ngày, trong một bài phát biểu, cựu Thủ tướng Satō Eisaku cho biết: “Nhật Bản sẽ không bao giờ quên đại ân đại đức mà Tổng thống Tưởng đã dành cho Nhật Bản sau Thế Chiến thứ hai. Sự việc khó quên nhất đối với người dân Nhật bản, đó là ân huệ lấy đức báo oán của Tổng thống Tưởng dành cho Nhật Bản sau Thế Chiến thứ hai”.
Bài xã luận của tờ “Asahi Shimbun” cho biết: “Vinh quang của Tưởng Trung Chính đạt đến đỉnh cao khi cuộc chiến tranh chống Nhật kéo dài 8 năm do ông lãnh đạo giành được thắng lợi, khiến Trung Quốc, từ khi chiến tranh nha phiến nổ ra luôn bị các cường quốc ức hiếp và rơi vào chế độ bán thực dân, nay đã là một trong năm cường quốc sánh cùng với Hoa Kỳ, Anh, Pháp và Nga. Ông phản đối việc bãi bỏ chế độ Thiên Hoàng Nhật Bản, phản đối chia cắt và chiếm đóng Nhật Bản, lấy đức báo oán, sự độ lượng khoan dung khiến chúng ta luôn khắc ghi trong lòng”. Lúc này, Nhật Bản và ĐCSTQ đã thiết lập mối bang giao được gần 3 năm, chính phủ và nhân dân trên dưới vẫn vô cùng xúc động trước tấm lòng của Tưởng Công, quả thật không thể biểu đạt bằng lời.
Tổng thống Đại Hàn Dân Quốc Park Chung-hee đã đặc biệt phát biểu: “Tổng thống Tưởng không những có cống hiến vĩ đại với thắng lợi của các nước đồng minh trong Thế Chiến thứ hai, mà cũng từng có những ủng hộ tích cực đối với phong trào độc lập của Hàn Quốc. Tổng thống Tưởng đã cống hiến rất nhiều để đặt định nền tảng cho hòa bình và trật tự của thế giới sau Thế Chiến thứ hai. Những công lao và sự nghiệp này của ông là không cách nào đong đếm, người dân Hàn Quốc sẽ vĩnh viễn không bao giờ quên…”
Ông cũng có bài phát biểu chia buồn: “…Tôi cùng đồng bào Hàn Quốc và tất cả những người dân trên toàn thế giới sùng kính công lao và sự nghiệp của ông, xin nghiêng mình bày tỏ sự ngưỡng mộ cao nhất tới tinh thần kiên định không đổi và niềm tin vững chắc dù trải qua rất nhiều khó khăn gian khổ của Tổng thống Tưởng”. (“Tưởng niệm Tổng thống Tưởng Giới Thạch”)
(Còn tiếp)