Tác giả: Cổ Xuân Thu

[ChanhKien.org]

Khổng Minh (Tranh do Thiên Ngoại Khách cung cấp)

Đường Thái Tông ca ngợi Gia Cát Lượng

Đường Thái Tông hết sức tán thưởng sự công bằng và trung nghĩa của Gia Cát Lượng khi làm thừa tướng. Theo “Toàn Đường Văn”, quyển 10, bài “Đường Thái Tông Hoàng đế – Luận công chính của Gia Cát Lượng và Cao Quýnh khi làm tướng”, có ghi lại đại ý như sau: “Gần đây, Trẫm gặp những bậc lão thần còn sót lại từ thời nhà Tùy, tất cả đều nói rằng Cao Quýnh là người giỏi làm tướng. Vì vậy, Trẫm xem lại tiểu sử của ông, quả thực có thể nói là người công bằng, chính trực, đặc biệt am hiểu phép trị nước. […] Hơn nữa, từ thời Hán, Ngụy trở đi, Gia Cát Lượng làm thừa tướng cũng hết sức công bằng, ngay thẳng. Gia Cát Lượng từng dâng biểu xin phế bỏ Lưu Lập và Lý Nghiêm khi ở Nam Trung. Lưu Lập nghe tin Gia Cát Lượng qua đời, khóc mà nói: ‘Ta e rằng từ nay mình sẽ phải mặc áo trái vạt mất!’ Lý Nghiêm nghe tin Gia Cát Lượng qua đời, phát bệnh rồi chết. Vì vậy, Trần Thọ khi nói về việc cai trị của Gia Cát Lượng đã nhận xét: ‘Mở rộng lòng thành, thi hành đạo công bằng. Người tận trung, có ích cho thời cuộc thì dù là kẻ thù cũng nhất định được thưởng; người phạm pháp, lười biếng, bê trễ thì dù là người thân cũng nhất định bị phạt’. Các khanh há có thể không ngưỡng mộ và noi theo ông ấy sao!”

Đường Thái Tông không chỉ khen ngợi Gia Cát Khổng Minh mà còn học tập cách trị quốc của ông. Theo “Trinh Quán chính yếu”, Quyển 8, mục “Xá lệnh” có ghi chép đại ý như sau: Năm Trinh Quán thứ 7, Thái Tông nói với các thị thần (người hầu) rằng: “Người ngu trong thiên hạ thì nhiều, người trí thì ít. Người trí không chịu làm việc ác, còn kẻ ngu lại thích vi phạm pháp luật. Những ân huệ đại xá, miễn tội rốt cuộc chỉ đến tay kẻ làm điều bất chính. Người xưa có câu: “Kẻ tiểu nhân gặp may mắn, thì người quân tử lại gặp bất hạnh” và “Một năm xá tội hai lần, người tốt phải ngậm đắng nuốt cay”. Lại nói: “Dưỡng cỏ dại thì hại lúa cấy, ban ơn cho kẻ gian tà thì hại người lương thiện”. Xưa kia “Chu Văn Vương đặt ra hình phạt, pháp luật nghiêm minh không có xá tội”. Lại nữa, Thục Tiên Chủ (Lưu Bị) từng nói với Gia Cát Lượng rằng: “Ta từng giao thiệp với Trần Nguyên Phương, Trịnh Khang Thành, mỗi khi nghe họ giảng giải về đạo trị loạn đều rất đầy đủ, nhưng chưa từng thấy họ nhắc đến việc xá tội”. Cho nên Gia Cát Lượng trị vì đất Thục mười năm không dùng lệnh đại xá mà đất Thục được giáo hóa lớn mạnh. Trong khi đó, Lương Vũ Đế mỗi năm xá tội nhiều lần, cuối cùng dẫn đến sụp đổ. Kẻ mưu cầu cái tiểu nhân, chính là làm hại cái đại nhân. Vì vậy, từ khi ta nắm giữ thiên hạ đến nay, tuyệt đối không ra lệnh đại xá.

Đường Thái Tông cho rằng, trị quốc cần có đại nhân đại nghĩa. Muốn vậy thì phải giáo hóa bách tính trước, dẫn dắt họ ứng xử có chừng mực, giao tiếp có lễ nghi. Như thế, những kẻ gian phi phạm pháp luật sẽ không còn cơ hội làm điều ác, và quốc gia cũng không cần phải thực hiện đại xá. Lưu Bị từng giới thiệu với Gia Cát Lượng về đạo trị quốc dẹp loạn của Trần Nguyên Phương và Trịnh Huyền thời cuối Đông Hán. Gia Cát Lượng được Lưu Bị gợi mở, làm Thừa tướng nước Thục suốt 14 năm chưa từng ban hành đại xá, nhờ đó nước Thục được trị vì hưng thịnh, phong khí nghiêm minh. Đường Thái Tông quyết tâm học theo Gia Cát Lượng, không tha bổng kẻ phạm tội, chứ không như Lương Vũ Đế một năm nhiều lần đại xá để rồi cuối cùng mất mạng mất nước. Điều này cho thấy tiểu nhân tiểu nghĩa lại chính là làm hỏng, bại hoại đại nhân đại nghĩa.

Đạm bạc để sáng chí, yên tĩnh để tiến xa

Gia Cát Lượng ẩn cư ở Long Trung, lấy câu “Đạm bạc minh chí, ninh tĩnh chí viễn”, tạm dịch là đạm bạc để sáng chí, yên tĩnh để tiến xa, làm tâm niệm. Gia Cát Lượng tự mình cày cấy nơi đồng ruộng, trong bài “Xuất Sư Biểu” từng tự thuật tấm lòng mình rằng: “Thần vốn là kẻ áo vải”, “Tự cày cấy ở Nam Dương”, “Không cầu nổi danh, hiển đạt ở chư hầu”. Gia thế của Gia Cát Lượng vốn hiển hách, có mối quan hệ thân thiết với tầng lớp thượng lưu vùng Tương Dương, là bà con thân thích với họ Thái, họ Khoái, và là quan hệ đồng hương chú cháu với Lưu Biểu. Thế nhưng ông không nhận sự tiếp tế của giới quý tộc Tương Dương, điều này thể hiện rõ cảnh giới tu thân của ông.

Đoạn văn này của Gia Cát Lượng ý tứ rất sâu sắc, nội hàm rộng lớn, ở đây chỉ cần nêu ra hai chữ “Đạm bạc” để giảng lược qua. Đạm bạc là một tiêu chuẩn đạo đức thời Trung Quốc cổ đại. Lão Tử từng nói: “Điềm đạm vi thượng, thắng nhi bất mỹ”, tạm dịch là điềm đạm là hơn cả, thắng cũng không lấy làm hay. Giới sĩ đại phu truyền thống Trung Hoa cũng luôn xem đạm bạc là một cảnh giới để theo đuổi. Chẳng hạn, nhà thơ thời Đường Bạch Cư Dị trong bài thơ “Vấn Thu Quang” có viết: “Thân tâm chuyển điềm thái, yên cảnh di đạm bạc”, tạm dịch là thân tâm thêm thư thái, cảnh vật càng đạm bạc, thể hiện một ý cảnh cao xa, khoáng đạt, tâm không tạp niệm, an nhàn tự tại, không vì lợi ích được mất trước mắt mà vui hay buồn.

Gia Cát Khổng Minh cả đời thực sự đã đạt đến cảnh giới đạm bạc minh chí, ninh tĩnh chí viễn, coi phú quý như phù vân. Làm Thừa tướng nước Thục suốt 14 năm, ông không tích trữ tiền tài, không mưu lợi riêng hay tranh giành danh vị, mà luôn lấy việc hưng phục nhà Hán làm sứ mệnh của mình.

Sau khi Hậu Chủ lên ngôi, Gia Cát Lượng giữ chức Thừa tướng, được phong Vũ Hương Hầu, kiêm chức Ích Châu mục, nắm toàn bộ quyền lực của Thục Hán trong tay. Gia Cát Lượng không vì địa vị cao, quyền thế lớn mà nảy sinh lòng khác. Sau khi nhận lời Lưu Bị phó thác việc nước, ông một lòng trung thành với chủ quân, tận tâm tận lực phò tá Lưu Thiện, mọi việc đều tự mình đảm đương, lo việc công như việc nhà. “Xuất Sư Biểu” thể hiện rõ tấm lòng của ông. Ông đích thân thống lĩnh đại quân Bắc phạt, cuối cùng vì ăn uống ít, công việc lại quá nhiều, lao lực quá độ mà sinh bệnh, rồi mất trong quân.

Lý Nghiêm, cũng là một đại thần được Lưu Bị phó thác việc nước, lại coi trọng danh lợi và quyền vị hơn. Ông viết thư khuyên Gia Cát Lượng nhận “Cửu Tích”. Cái gọi là “Cửu Tích” là những vật phẩm và đặc ân do hoàng đế ban cho, gồm xe ngựa, y phục, nhạc khí, cửa sơn đỏ, bậc thềm dành riêng khi vào triều, cung tên,búa rìu và rượu lễ. Đây là nghi lễ ban thưởng cao nhất mà thiên tử dành cho đại thần để gia quan tiến tước.

Gia Cát Lượng kiên quyết từ chối. Trong thư gửi Lý Nghiêm, ông viết: “Ta và ông quen biết nhau đã lâu, lẽ nào lại không hiểu nhau nữa… Ta vốn chỉ là một kẻ sĩ thấp hèn ở phương Đông, được Tiên đế dùng đến, nay địa vị đã lên đến cực phẩm của hàng bề tôi… Nay tính kế đánh giặc vẫn chưa thành công, chí nguyện vẫn chưa được đáp ứng, mà lại muốn được sánh ngang với Tề, Tấn, tự cho mình là cao quý, to lớn, đó không phải là điều hợp nghĩa. Nếu diệt được nước Ngụy, chém Tào Duệ, đưa Hoàng đế trở về cố đô, cùng các khanh đồng thời được thăng tiến, thì dù có được ra lệnh trong mười năm, ta cũng có thể nhận. Huống chi là Cửu Tích?”

Gia Cát Lượng cho rằng ông và Lý Nghiêm đã cùng làm việc với nhau trong thời gian dài, hiểu rõ về nhau từ gốc đến ngọn, nên không cần phải giải thích nhiều. Ông nói rằng, từ một thường dân theo Lưu Bị, ông đã gây dựng cơ nghiệp đế vương trên đất Thục, địa vị đã đạt đến cực phẩm của hàng bề tôi. Nay đại nghiệp khôi phục nhà Hán vẫn chưa thành công, ân tri ngộ của Lưu Bị vẫn chưa báo đáp, mà đã yêu cầu quân chủ ban cho mình sự đãi ngộ như vậy thì đó là hành vi bất nghĩa.

Trong “Hựu dữ Lý Nghiêm thư”, ông viết như sau: “Ngô thụ tứ bát thập vạn hộc, kim súc tài vô dư, thiếp vô phó phục”, tạm dịch là: ta được ban tám mươi vạn hộc, nay của cải tích trữ không còn dư thừa, thê thiếp cũng không có quần áo thay đổi. “Không có quần áo thay đổi” nghĩa là không có quần áo dư để thay. Trương Thụ chú rằng: “Đến cả thê thiếp của Hầu tước cũng không có quần áo thay đổi, đức tiết kiệm ấy thật đáng để noi theo”.

Trước khi qua đời, Gia Cát Lượng từng căn dặn rằng hãy an táng ông dưới chân núi Định Quân ở Hán Trung, tang lễ nên được tiến hành đơn giản, chỉ cần dựa theo thế núi mà đắp mộ, gò đất chỉ cần đủ chỗ đặt quan tài là được. Bản thân ông chỉ cần mặc quần áo thường ngày, không cần bất kỳ đồ tùy táng nào khác.

Gia Cát Lượng là người trọn vẹn cả trung lẫn nghĩa, được công nhận trong lịch sử Trung Quốc là một trong những người có trí tuệ nhất. Tinh thần “cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi” của ông đã luôn trở thành nguồn động viên cho vô số bậc nhân sĩ có lòng nhân nghĩa về sau, và trở thành một trong những nội hàm tinh thần của văn hóa truyền thống Trung Hoa.

(Hết loạt bài)

Dịch từ: https://www.epochtimes.com/b5/16/6/5/n7966086.htm