Tác giả: Hoàng Phủ Dung

[ChanhKien.org]

Binh lính Thái Bình Thiên Quốc hành quân. (Ảnh: Tư liệu công cộng)

Luật pháp của Thái Bình Thiên Quốc cũng chính là quân pháp của Thái Bình quân. Hình luật của Thái Bình Thiên Quốc vừa dùng để quản lý quân đội, vừa dùng để cai trị dân chúng; việc trị quân được thực hiện nghiêm minh, đồng thời hết sức bảo đảm quyền lợi của người dân. Đối với các vụ kiện tụng và xét xử trong dân gian, họ hết sức thận trọng. Thái Bình Thiên Quốc áp dụng chế độ “Đăng Văn Cổ” (trống kêu án), nhằm giúp xét lại những vụ án oan.

Luật pháp hoàn chỉnh, lòng dân quy phục

Luật pháp của Thái Bình Thiên Quốc chủ yếu bao gồm:

1. Kính tạ ân đức của Hoàng Thượng Đế. Cứ đến ngày lễ bái của các sao Tinh, Mão, Phòng, Hư, đều phải thức dậy rửa mặt, thành kính lễ bái và ca tụng ân đức của Thiên Phụ Hoàng Thượng Đế;

2. Khi quân Thái Bình chinh chiến, tất cả đều phải thành kính quỳ xuống cầu xin Thiên Thần trợ chiến giúp sức;

3. Trong doanh trại quân đội phải giữ gìn sạch sẽ, quét dọn vệ sinh, không được tùy ý làm bẩn đường sá;

4. Thiên Thần rất căm ghét việc cãi vã, tranh đấu, ỷ mạnh hiếp yếu. Các huynh đệ trong các nha, các quán đều phải tuân thủ điều lệnh, công bằng hòa nhã, không nên lớn tiếng la hét, giữ gìn yên tĩnh, không gây ồn ào;

5. Các huynh đệ trong quân ngũ, khi hành quân không được cưỡng ép bắt dân chúng mang vác hàng hóa cho mình. Dù có ở nhờ nhà dân cũng không được tùy tiện lấy bất cứ thứ gì; khi đóng quân tại các làng trấn, không được cưỡng ép người khác làm đầy tớ, nô dịch cho mình;

6. Phàm là huynh đệ trong quân đều phải tu dưỡng bản thân, giữ mình trong sạch, chính trực; không được hút thuốc phiện, hút thuốc lá, uống rượu, cướp bóc, gian dâm. Kẻ nào phạm phải đều xử chém, không tha;

Điều luật đầu tiên đề cập đến việc bái Hoàng Thượng Đế. Năm 1844, Hồng Tú Toàn sáng lập Bái Thượng Đế Hội. Năm sau, ông trở về huyện Hoa, viết các tác phẩm như Nguyên Đạo Tỉnh Thế Huấn, Nguyên Đạo Giác Thế Huấn, Bách Chính Ca, Cải Tà Quy Chính.

Hồng Tú Toàn nói:

“Khai tịch Chân Thần duy Thượng đế,… Thiên hạ nhất gia tự cổ truyện, Bàn Cổ dĩ hạ chí Tam Đại, quân dân nhất thể kính hoàng thiên. Thượng đế đương bái, nhân nhân sở đồng, hà phân Tây Bắc, hà phân Nam Đông. Nhất ti nhất lũ hà Thượng đế, nhất khâm nhất thực lại thiên công.”

Tạm dịch là:

Khai thiên lập địa, Chân Thần duy có Thượng Đế…
Thiên hạ một nhà, lời cổ truyền từ xưa;
Từ thời Bàn Cổ cho đến hạ thời Tam Đại (Ba triều đại Hạ – Thương – Chu),
Vua tôi cùng một lòng kính thờ Hoàng Thiên.
Thượng Đế vốn phải phụng thờ, ai ai cũng như nhau,
Hà cớ gì phân biệt Tây Bắc, chia rẽ Nam Đông?
Từng sợi tơ, từng thước vải đều nhờ ơn Thượng Đế, từng miếng ăn, từng ngụm uống đều nhờ ơn Trời.

Hoàng Thượng Đế mà ông tuyên truyền chính là vị Hoàng Thiên mà từ thời Bàn Cổ cho đến ba triều đại Hạ, Thương, Chu, cả vua lẫn dân đều một lòng sùng kính. Theo cách nói của ông, “Hoàng Thượng Đế là người cha chung của thiên hạ và muôn dân”, đồng thời cũng là vị Chân Thần đã tạo nên trời đất, núi sông biển cả.

Sử chí Thái Bình Thiên Quốc ghi rằng: “Vì sao Trung Quốc lại được gọi là Thần Châu? Ấy là vì Thiên Phụ Hoàng Thượng Đế là vị Chân Thần, trời đất, sông núi, biển cả đều do Ngài sáng tạo nên, chính vì thế mới dùng hai chữ Thần Châu để đặt tên cho Trung Quốc.”

Chân dung Hồng Tú Toàn. (Ảnh: Tư liệu công cộng trên Wikipedia)

Chế độ Đăng Văn Cổ

Thái Bình Thiên Quốc đã thiết lập chế độ Đăng Văn Cổ (trống kêu án) nhằm bảo vệ quyền lợi của bách tính, tiếp thu lời can gián hoặc oan tình của thần dân. Cho nên, một chiếc trống lớn được treo bên ngoài triều đường, để thần dân có thể đánh trống, khiến Thiên Vương nghe thấy, gọi là Đăng Văn Cổ.

Tương truyền, từ thời Đế Nghiêu, Đế Thuấn đã có “Trống Can Gián” (Cảm Gián Chi Cổ). Phàm những ai muốn trực tiếp dâng lời can gián hoặc kêu oan đều có thể đánh trống trình lên. Một khi có người đánh Đăng Văn Cổ, bất luận Hoàng đế đang làm gì, đều phải nhanh chóng lên triều. Đây là chế độ cổ xưa được các triều đại Trung Hoa kế thừa từ thời xa xưa, các triều Đường, Tống, Nguyên, Minh đều từng áp dụng.

Chế độ Đăng Văn Cổ của Thái Bình Thiên Quốc được triển khai rộng rãi, từ Triều môn Thiên Kinh và Phủ Đông Vương cho đến dinh phủ của chư vương tại các địa phương đều có đặt chiếc trống này.

Thượng tá Hải quân Anh Augustus Lindley (Lâm Lý) trong cuốn Hồi ký trực tiếp trải nghiệm Cách mạng Thái Bình Thiên Quốc có ghi lại rằng: Các pháp đình của Thái Bình Thiên Quốc có một tập tục đặc biệt, đó là ngay trong hành lang đại môn đều đặt hai chiếc trống lớn, mục đích là để các trưởng quan tiện việc chủ trì công lý. Bất kỳ kẻ có tiền có thế nào nếu dùng thủ đoạn bất chính để áp bức bách tính, đều sẽ bị luật pháp của Thiên triều truy cứu trách nhiệm đến cùng.

Luật pháp bình đẳng, thận trọng trong việc định tội và hành hình

Hình phạt của Thái Bình Thiên Quốc được chia thành hai loại chính: Gông gậy (gia trượng) và tử hình. Gông cùm của Thái Bình Thiên Quốc nặng không quá 10 cân, nhẹ hơn rất nhiều so với hình phạt gông cùm của nhà Thanh. Gông gậy là những hình phạt thường dùng trong đời sống thường nhật. Chẳng hạn, Phó Thiện Tường, vị Nội bộ thư được Đông Vương vô cùng tín nhiệm, vì đọc công văn đến đêm khuya mệt mỏi, lén hút thuốc lá, nên bị phạt đeo gông và đưa vào nữ quán giam giữ. Hồng Tuyên Kiều khi ở Bình Tại Sơn, vì “không tuân Thiên lệnh, nói năng bừa bãi”, cũng bị đánh trượng. Bắc Vương Vi Xương Huy vì sự việc Trương Tử Bằng kích động làm loạn thủy doanh cũng bị đánh vài trăm trượng.

Các Vương của Thái Bình Thiên Quốc, đứng đầu là Thiên Vương Hồng Tú Toàn, phần lớn đều chủ trương thận trọng trong việc dùng hình. Vào thời kỳ cuối của Thái Bình Thiên Quốc, Hồng Nhân Can đến Thiên Kinh đảm nhiệm chức Quân sư, tổng lý triều cương. Trong “Tư chính tân biên”, ông đề xuất cải cách hình luật của Thái Bình, chủ trương đối xử khoan dung với những người phạm tội nhẹ, cho họ sửa chữa đường phố, kênh mương, hết hạn thì được phóng thích, lấy lao động thay cho hình phạt. Hơn nữa, ông mong muốn hạn chế việc giết chóc, bãi bỏ các hình phạt hà khắc. Hồng Tú Toàn phê rằng: “Gia (Đức Chúa/Thiên Chúa) phụng thánh chỉ của Thượng Thiên ở thế gian, chém tà lưu chính, xử giết những kẻ có tội, cho nên không thể miễn. Lời Gia khuyên chớ giết người là để răn dạy người ta không được mưu hại, giết người bừa bãi, chứ không phải Thiên pháp dạy người ta đi giết người.”

Khi khởi nghĩa ở Kim Điền, Hồng Tú Toàn nói rằng phụng mệnh Trời để giết kẻ tà ác, cứu đời, an dân. Từ đó về sau, ông luôn kiên trì chém tà lưu chính, xử phạt những kẻ có tội. Tuy nhiên, đối với việc xử phạt dân chúng bên trong Thiên Quốc, ông lại hết sức thận trọng. Hệ thống tư pháp của Thái Bình Thiên Quốc yêu cầu các vụ án phải được xét duyệt qua nhiều cấp, do Dương Tú Thanh dâng tấu lên Thiên Vương Hồng Tú Toàn xin chỉ dụ rồi mới xử phạt. Nếu quan lại trong cung điện Thiên triều phạm pháp, thì Hồng Tú Toàn đích thân xử lý. Ngay cả đối với quan dân phạm tội đáng chết, cũng phải trải qua nhiều lần thẩm tra, xét hỏi nghiêm ngặt, rồi mới xin chỉ dụ để xử phạt.

Cầu nguyện trước và sau trận chiến

Mỗi khi xuất chinh và trước khi giao chiến, cũng như sau khi thắng trận hay bại trận, Thái Bình quân đều phải cầu nguyện Hoàng Thượng Đế, hoặc cầu xin Ngài ban cho thắng lợi, hoặc dâng lời tạ ơn. Chẳng hạn, khi Lý Tú Thành chuẩn bị từ Tô Châu dẫn quân tiến công Thượng Hải, ông hạ lệnh cho Đại tá Lục Thuận Đức rằng: “Hãy chọn một nơi đất trống rộng rãi, có thể chứa được hàng vạn người chiêm bái, quỳ lạy; toàn thể quân ngũ, binh sĩ đều phải nghiêm trang. Dẫn các quan và tướng sĩ nương nhờ uy Trời, khai mở cho kẻ ngu muội, quét sạch vùng biển biên cương, để báo đáp ân Trời sâu dày.”

Dưới sự điều chỉnh của luật pháp Thái Bình Thiên Quốc, tình hình trị an trong lãnh thổ được giữ gìn nghiêm ngặt, chỉnh tề, khiến lòng dân đều thán phục. Quân Thái Bình tuân thủ mệnh lệnh an dân; bất luận quan viên hay tướng lĩnh cấp bậc nào, nếu không có mệnh lệnh đều không được tự tiện xông vào nhà dân. Kẻ nào tự tiện xông vào nhà dân, chân trái vừa bước vào thì chém chân trái, chân phải bước vào thì chém chân phải. Luật pháp bảo vệ dân chúng nghiêm khắc đến vậy, nhờ đó mà thu phục trọn vẹn lòng dân.

Mục sư Mỹ đầu tiên đến Trung Quốc, Bì Trị Văn (Elijah Coleman Bridgman). (Ảnh: Tư liệu công cộng trên Wikipedia)

Mùa hè năm 1854, mục sư người Mỹ Bì Trị Văn (Elijah Coleman Bridgman) đến thăm Thái Bình quân tại Vu Hồ, An Huy. Ông nói: “Trật tự trong toàn thành được duy trì hết sức nghiêm ngặt, mọi hành vi bất chính hoặc vi phạm pháp luật đều nhanh chóng được chấn chỉnh hoặc trừng phạt. Điều này thực sự hiếm thấy ở Trung Quốc, không một ai được ngoại lệ. Bất luận là quan viên đang đảm nhiệm các chức vụ khác nhau hay dân chúng trong toàn thành, mọi hành vi đều tuân thủ quy củ, trật tự, vận hành có chừng mực như các bộ phận của một chiếc đồng hồ.” Qua đó có thể thấy hiệu quả thực tế từ các điều luật mà Thái Bình Thiên Quốc thi hành.

(Còn tiếp)

Biên tập bản tiếng Trung: Tô Tiểu Ý

Dịch từ: https://www.epochtimes.com/b5/17/3/16/n8931340.htm