Tác giả: Hoàng Phủ Dung
[ChanhKien.org]
Ký kết “Điều ước Thiên Tân”, những người ký kết theo thứ tự từ trái sang phải lần lượt là Hoa Sa Nạp, Ngạch Nhĩ Kim (Elgin), Quế Lương và Đô đốc Hải quân Anh Seymour. (Ảnh: Wikipedia, tư liệu công cộng)
Để khiến các nước giữ thái độ trung lập, không can thiệp vào chính sự Trung Quốc, Thái Bình Thiên Quốc đã thông qua các phương thức như tôn giáo, thông thương và giao lưu hữu nghị, và thực sự đã đạt được một số hiệu quả nhất định. Đúng lúc này, Khâm sai đại thần nhà Thanh là Hướng Vinh trong quá trình truy kích quân Thái Bình Thiên Quốc đã đến Cửu Giang, Giang Tây. Hướng Vinh lập tức lệnh cho Ngô Kiện Chương thuê tàu nước ngoài tại Thượng Hải, cấp tốc đến Giang Nam hỗ trợ dẹp loạn.
Trước đây, Ngô Kiện Chương từng làm nghề buôn bán, thường xuyên giao thiệp với thương nhân nước ngoài. Sau khi nhận lệnh, ông mua mấy chiếc tàu nước ngoài, trang bị vũ khí, đồng thời chiêu mộ người nước ngoài đến Nam Kinh tham chiến. Cùng lúc đó, Ngô Kiện Chương thông qua lời nói và thư từ, khi thì với danh nghĩa cá nhân, khi thì với danh nghĩa chính quyền, gửi lời đề nghị đến lãnh sự Anh, Pháp và Mỹ tại Thượng Hải, xin phái tàu chiến đến cứu viện Nam Kinh.
Ngô Kiện Chương còn làm giả một tờ bố cáo rồi dán lên tường thành Tô Châu, rêu rao với bên ngoài rằng đây là bố cáo của Thái Bình Thiên Quốc. Tờ bố cáo này nói rằng quân Thái Bình Thiên Quốc sẽ tàn sát toàn bộ người nước ngoài. Mục đích là khơi dậy sự phản cảm và căm ghét của các công sứ và thương nhân nước ngoài đối với Thái Bình Thiên Quốc, khiến các nước từ bỏ lập trường trung lập và liên thủ với nhà Thanh.
Ngô Kiện Chương phụng mệnh Khâm sai đại thần sang Anh cầu viện. Phía Anh cho rằng đây là cơ hội tốt nhất để mở rộng phạm vi hoạt động của mình tại Trung Quốc. Sau khi nhận được công văn của Tuần phủ Giang Tô Dương Văn Định đề nghị viện trợ, Lãnh sự Anh tại Trung Quốc Alcock một lần nữa đề xuất lên Công sứ Bonham ở Hồng Kông rằng Anh nên lập tức hành động, nhân lúc Hoàng đế nhà Thanh vẫn còn ở địa vị có thể ký kết điều ước, liên thủ với ba cường quốc phương Tây đang ở Trung Quốc để ngăn chặn Thái Bình Thiên Quốc, qua đó thu về những lợi ích to lớn.
Những nội dung chủ yếu mà Alcock nhân cơ hội đã yêu sách nhà Thanh bao gồm tự do đi vào nội địa Trung Quốc và tất cả các cảng ven biển không hạn chế, thiết lập quan hệ ngoại giao trực tiếp tại Bắc Kinh, cũng như hợp pháp hóa việc buôn bán thuốc phiện. Ông tin rằng những quyền lợi này có thể giành được thông qua một điều ước chính thức được ký kết trong vòng hai tháng tới. Sau khi nhận được công văn khẩn của Alcock, Bonham đã trình cáo lên Bộ trưởng Ngoại giao Anh, để xem xét liệu có nên chấp thuận kiến nghị này hay không.
Sau khi tin tức Thái Bình Thiên Quốc đánh chiếm Nam Kinh truyền đến Thượng Hải, phiên dịch viên Thomas Taylor Meadows của Lãnh sự quán Anh tại Thượng Hải đã đưa ra một bản báo cáo bằng văn bản, cho rằng nếu lúc này Anh hỗ trợ chính quyền nhà Thanh, giả sử sau này Thái Bình Thiên Quốc thống nhất được Trung Quốc, vị thế của Anh tại Trung Quốc sẽ rơi vào tình thế hết sức khó xử.
Sau khi nhận được báo cáo của Meadows, lập trường của Bonham thay đổi hoàn toàn, khẩn cấp yêu cầu Anh thực hiện chính sách “không can thiệp”. Bộ trưởng Ngoại giao Anh Clarendon chấp thuận kiến nghị này. Trước tình hình lúc bấy giờ, do Thái Bình Thiên Quốc bách chiến bách thắng, phía Anh từ chỗ chuẩn bị công khai đối địch với Thái Bình Thiên Quốc đã chuyển sang tạm thời chờ đợi và quan sát.
Sau khi Bonham đến Thượng Hải, ông triệu tập một cuộc họp khẩn cấp, tăng cường các trang thiết bị quân sự trong khu tô giới, đồng thời mời lãnh sự Pháp, Mỹ, các sĩ quan hải quân và thương nhân các nước tham dự. Ông tuyên bố các nước sẽ tăng cường hợp tác, không cho quân Thái Bình Thiên Quốc bước vào khu tô giới dù chỉ một bước. Sau đó, Bonham quyết định đến Thiên Kinh để thăm Thái Bình Thiên Quốc.
Bonham đi tàu chiến Anh đến Thiên Kinh. Ngày 26/04, ông đến Trấn Giang, tiến vào tuyến phòng thủ của Thái Bình Thiên Quốc, lập tức các pháo đài nổ súng vào tàu chiến Anh. Bonham sai người đưa thư lên bờ, nói rõ mục đích chuyến đi là có việc cần thương lượng. Ngày hôm sau, tàu chiến Anh đến Thiên Kinh, các pháo đài cũng nổ súng vào tàu chiến Anh. Bonham lập tức gửi văn thư lên bờ, thông báo ý định đến đây, lúc đó các pháo đài mới ngừng bắn.
Thái Bình Thiên Quốc phát chiếu dụ cho Bonham nói rằng Thiên Vương Hồng Tú Toàn là vị Vạn quốc Chân chủ, phàm những ai đến triều kiến đều phải tuân theo lễ chế của Thiên triều. Bonham biết mình khó có thể chấp nhận lễ chế này, bèn lấy cớ thời tiết không thuận lợi, không thể thực hiện theo lễ chế, chuyển sang dùng văn thư để thông báo với Thái Bình Thiên Quốc. Trong công văn, ông nói rằng Anh và Trung Quốc đã thông thương hơn 200 năm, hơn 10 năm trước lại ký kết điều ước và điều lệ thông thương mới. Theo thỏa thuận, thương dân Anh được phép xây dựng nhà cửa, đưa gia quyến đến sinh sống tại năm cảng Quảng Châu, Phúc Kiến, Hạ Môn, Ninh Ba và Thượng Hải. Các công việc liên quan đến thương dân Anh tại năm cảng do Lãnh sự Anh đóng tại Hồng Kông sẽ cai quản, mọi việc giao thiệp với quan chức Trung Quốc đều do phía Anh đảm trách.
Trong công văn này, Bonham dùng cái mác “trung lập” làm bình phong, yêu cầu Thái Bình Thiên Quốc công nhận “Điều ước Nam Kinh” do nhà Thanh ký kết, đồng thời công nhận những đặc quyền mà phía Anh đã giành được từ điều ước đó.
Thái Bình Thiên Quốc cho rằng Anh tin theo Cơ Đốc giáo, nên đã dùng giáo nghĩa Cơ Đốc giáo và việc Hồng Tú Toàn là “Vạn quốc Chân chủ” để hồi đáp sứ thần Anh. Họ không công nhận “Điều ước Nam Kinh” mà phía Anh ký với nhà Thanh, cũng không công nhận việc buôn bán thuốc phiện.
Sau khi nhận được cáo dụ, Bonham lập tức gửi một công văn mang tính đe dọa: Theo điều ước Nam Kinh, Anh được hưởng quyền kinh doanh tại năm cảng ở Trung Quốc. Nếu quân Thái Bình Thiên Quốc xâm phạm tính mạng và tài sản của kiều dân Anh, Anh nhất định sẽ dùng những biện pháp từng áp dụng với nhà Thanh 10 năm trước để đối phó với quân Thái Bình Thiên Quốc.
Ngày 27/05/1854, Công sứ Mỹ McLane đến Thiên Kinh, do Thuyền trưởng Buchanan đệ trình công văn. Công văn của phía Mỹ cũng yêu cầu Thái Bình Thiên Quốc công nhận những đặc quyền mà Mỹ đã giành được từ chính quyền nhà Thanh. Cáo dụ mà Đông Vương Dương Tú Thanh ban cho McLane nói rằng Thái Bình Thiên Quốc cho phép tất cả các nước trong thiên hạ đều có thể đến thông thương. Phàm những ai muốn đến Thiên Quốc thông thương đều phải đến chân núi Tiêu Sơn ở Trấn Giang để chờ quan đại thần trấn thủ Trấn Giang giải quyết và xử lý.
Cáo dụ của Đông Vương không công nhận những đặc quyền mà phía Mỹ đã giành được từ nhà Thanh. Kết quả chuyến thăm Thiên Kinh của McLane và những người khác đã cho họ thấy rõ một điều: một khi Thái Bình Thiên Quốc thống nhất toàn bộ Trung Quốc, nhất định sẽ không công nhận các điều ước bất bình đẳng mà nhà Thanh đã ký kết với các cường quốc.
Vì vậy, sau khi trở về Thượng Hải, các sứ thần Mỹ tung tin đồn khắp nơi, cho rằng Thái Bình Thiên Quốc là trở ngại lớn với việc các nước ký kết điều ước với Trung Quốc. Các sứ thần Mỹ chủ trương các nước đã ký kết điều ước nên nhân lúc Thái Bình Thiên Quốc chưa thống nhất Trung Quốc, sớm liên thủ sử dụng vũ lực để “nhanh chóng chấn chỉnh” xu thế Thái Bình Thiên Quốc có khả năng thống nhất Trung Quốc.
Cục Công bộ Tô giới Anh trên một tấm bưu thiếp (Ảnh: Wikipedia, tư liệu công cộng)
Tháng Năm cùng năm, sau khi Đại diện Toàn quyền Anh tại Trung Quốc là John Bowring đến Thượng Hải, sau đó phái Medhurst và Lewin Bowring dẫn hai tàu chiến đến Thiên Kinh thăm dò tình hình. Medhurst và những người khác đề nghị được hội kiến với các vương của Thái Bình Thiên Quốc, nhưng bị từ chối không gặp. Họ lại gửi thư cho Đông Vương, xin mua than đá, nhưng cũng không được chấp thuận.
Sau đó, các sứ thần Anh cho tàu của mình áp sát một nơi có 1.000 tấn than đá, định tiến hành cướp đoạt. Tuy nhiên, khi nhìn thấy các khẩu đại bác trên pháo đài của quân Thái Bình đang chĩa thẳng vào mình, họ không thể cướp bóc thành công. Vì vậy, sau khi Medhurst và những người khác trở về Thượng Hải, họ mang lòng oán hận Thái Bình quân.
Ngày 14/06, Medhurst gửi thư cho Thái Bình Thiên Quốc, đưa ra 31 câu hỏi, dò xét Thái Bình Thiên Quốc trên các phương diện quân sự, chính trị, tôn giáo, kinh tế, văn hóa, thậm chí cả thuế quan, lương thực và quân lương của quân Thái Bình, đồng thời yêu cầu nhận được câu trả lời xác đáng. Đông Vương Dương Tú Thanh đã trả lời toàn bộ các câu hỏi, nói rõ rằng Thái Bình Thiên Quốc cho phép các nước đến Trung Quốc thông thương, nhưng cấm bán thuốc phiện và các chất độc hại khác tại Trung Quốc; phàm những ai đến Trung Quốc thông thương đều phải do phía Trung Quốc thực hiện các thủ tục chủ quyền.
Về việc phía Anh đề xuất lập cảng và ký kết điều ước thông thương, Đông Vương cho biết sẽ chờ đến khi Thái Bình Thiên Quốc thống nhất Trung Quốc rồi mới bàn bạc. Nói cách khác, vào thời điểm này, Thái Bình Thiên Quốc hoàn toàn không công nhận những điều ước mà nhà Thanh đã ký kết với các nước trước đó.
Đông Vương lại đặt 50 câu hỏi cho Medhurst, tất cả đều dựa trên giáo nghĩa Cơ Đốc để lên án hành vi ngang ngược và cướp bóc của các nước phương Tây tại Trung Quốc. Trong đó có một câu hỏi: “Từ lâu, quốc gia các ông đã tôn thờ Thượng Đế và Chúa Giê-su, vậy các ông thực lòng tin theo Cơ Đốc giáo hay là đang phản bội Cơ Đốc giáo để làm những việc của Sa-tan? ‘Vạn quốc Chân chủ’ đã hạ thế xuống Trung Quốc, truyền bá chân ngôn, muốn khiến thiên hạ trở thành một nhà, vậy tại sao các ông không tiến cống Thượng Đế và Chúa Giê-su, không tiến cống Vạn quốc Chân chủ, lại công khai phản bội Cơ Đốc giáo mà hành động như vậy?”
Mùa xuân năm 1856, Anh, Pháp, Nga và các nước khác ký kết “Hiệp ước Paris”, chấm dứt Chiến tranh Krym. Anh và Pháp là những bên chiến thắng trong cuộc chiến này. Sau khi tạm thời giải quyết vấn đề vùng Cận Đông, họ bắt đầu chuyển hướng sang Trung Quốc ở vùng Viễn Đông. Đến mùa thu cùng năm, không may bùng phát sự biến Thiên Kinh, khiến Thái Bình Thiên Quốc từ thời kỳ cực thịnh chuyển sang giai đoạn suy thoái.
Liên quân Anh – Pháp tiến vào Quảng Châu trong Chiến tranh nha phiến lần thứ hai. (Ảnh: Wikipedia, tư liệu công cộng)
Nhằm mở rộng những đặc quyền và lợi ích giành được trong Chiến tranh nha phiến lần thứ nhất, Anh và Pháp đã phát động Chiến tranh nha phiến lần thứ hai. Tháng 04/1858, liên quân Anh – Pháp đánh chiếm pháo đài Đại Cổ, tiến vào chiếm đóng Thiên Tân. Tháng Năm, họ ký kết với nhà Thanh “Điều ước Thiên Tân” giữa Trung – Anh và Trung – Pháp.
Điều 10 của “Điều ước Thiên Tân” Trung – Anh quy định: Các thương cảng dọc khu vực sông Trường Giang đều cho phép tàu thuyền thương nhân Anh đến thông thương. Tuy nhiên, lúc này thượng và hạ lưu sông Trường Giang đều do quân Thái Bình thiết lập phòng tuyến. Ngoại trừ Trấn Giang, là nơi sẽ được mở làm thương cảng sau một năm, sau khi các khu vực còn lại được bình định, đại diện ngoại giao hai nước Trung – Anh sẽ bàn bạc và cho phép lựa chọn ba cảng từ Hán Khẩu xuôi theo dòng ra biển, làm khu vực cho tàu Anh ra vào và vận chuyển hàng hóa thông thương. Trong biểu thuế được thỏa thuận, nhà Thanh công nhận thuốc phiện là mặt hàng thương mại hợp pháp.
Thông qua Chiến tranh nha phiến lần thứ hai, Anh giành được những đặc quyền lớn hơn tại Trung Quốc. Để chiếm lấy các thương cảng dọc vùng thượng lưu và hạ lưu sông Trường Giang, nước Anh đã liên thủ với nhà Thanh bao vây tiêu diệt Thái Bình Thiên Quốc.
(Còn tiếp)
Biên tập bản tiếng Trung: Tô Tiểu Ý


