Tác giả: Cổ Xuân Thu

[ChanhKien.org]

Gia Cát Lượng bảy lần bắt, bảy lần thả Mạnh Hoạch. Trong đó ở lần thứ tư, Mạnh Hoạch cưỡi con trâu đỏ lớn, dẫn quân Man hò reo xông về phía doanh trại quân Thục, kết quả trúng kế của Gia Cát Lượng, tất cả đều ngã xuống hố bẫy. (Tranh vẽ do Cổ Thụy Trân cung cấp)

Trong “Long Trung đối sách”, Gia Cát Lượng đã hoạch định cho Lưu Bị viễn cảnh Bắc phạt Trung Nguyên, phục hưng nhà Hán. Sau khi Lưu Bị phó thác con côi, trong “Tiền Xuất sư biểu”, Gia Cát Lượng càng xác định rõ chức phận của mình là báo đáp Lưu Bị và trung thành với Lưu Thiện, thể hiện qua lời: “Bắc định Trung Nguyên, nguyện đem hết tài sức hèn mọn, quét trừ gian tặc, phục hưng nhà Hán, trở về cố đô”.

Tuy nhiên, vùng hậu phương phía Nam của nước Thục là “Nam Trung” vẫn chưa được bình định. Thời Tam Quốc, Nam Trung chủ yếu chỉ khu vực phía Nam Tứ Xuyên ngày nay cùng các vùng Quý Châu, Vân Nam. Đây là nơi cư trú của một số dân tộc thiểu số, thời nhà Hán được gọi chung là “Tây Nam Di”.

Năm Chương Vũ thứ nhất (năm 212), Lưu Bị bổ nhiệm Lý Khôi làm Lai Hàng Đô đốc, đóng quân tại huyện Bình Di (nay thuộc thành phố Bất Tiết, tỉnh Quý Châu), phụ trách toàn bộ công việc ở Nam Trung. “Lai Hàng” mang ý nghĩa chiêu dụ, thu phục và khiến người khác quy phục. Năm Kiến An thứ 19 (năm 214), sau khi bình định đất Thục, Lưu Bị thiết lập chức Lai Hàng Đô đốc tại các quận Nam Trung, bổ nhiệm Đặng Phương, người Nam Quận, làm Thái thú quận Chu Đề kiêm Lai Hàng Đô đốc, với chức An Viễn tướng quân.

Phủ Lai Hàng Đô đốc ban đầu đặt tại huyện Nam Xương (nay thuộc huyện Trấn Hùng, tỉnh Vân Nam). Sau khi nhà Thục Hán được thành lập, phủ được chuyển đến huyện Bình Di (nay thuộc thành phố Bất Tiết, tỉnh Quý Châu). Đến giữa những năm Diên Hy, phủ lại được chuyển đến huyện Vị (nay thuộc thành phố Khúc Tĩnh, tỉnh Vân Nam), quản lý 7 quận gồm: Chu Đề (trụ sở nay thuộc thành phố Chiêu Thông, tỉnh Vân Nam), Việt Tây (nay thuộc thành phố Tây Xương, tỉnh Tứ Xuyên), Kiến Ninh (nay thuộc thành phố Khúc Tĩnh, tỉnh Vân Nam), Tang Kha (nay thuộc huyện Hoàng Bình, tỉnh Quý Châu), Vĩnh Xương (nay thuộc thành phố Bảo Sơn, tỉnh Vân Nam), Hưng Cổ (nay thuộc huyện Khâu Bắc, tỉnh Vân Nam) và Vân Nam (nay thuộc huyện Diêu An, tỉnh Vân Nam), tổng cộng 61 huyện. Về mặt hành chính, các quận này vẫn thuộc Ích Châu.

Lai Hàng Đô đốc, cùng với Giang Châu Đô đốc (đóng tại nay là thành phố Trùng Khánh), Vĩnh An Đô thủ (đóng tại thành Bạch Đế, nay thuộc huyện Phụng Tiết) và Hán Trung Đô đốc (đóng tại nay là thành phố Hán Trung), là 4 chức đô đốc trấn thủ thường trực của Thục Hán.

Gia Cát Lượng được lịch sử Trung Quốc công nhận là biểu tượng xuất chúng nhất của trí tuệ và mưu lược. (Wikipedia, tư liệu công cộng)

Các bộ tộc ở Nam Trung nổi loạn

Sau khi Lưu Bị qua đời, thủ lĩnh tộc Tẩu ở quận Việt Tê (trụ sở quận đặt tại Cùng Đô, nay ở phía tây bắc Tây Xương, Tứ Xuyên) là Cao Định khởi binh, tự xưng là chúa. Đô úy quận Tang Kha (trụ sở quận đặt tại Cố Thả Lan, nay ở phía tây bắc Khải Lý, Quý Châu) là Chu Bao chiếm giữ quận, nổi dậy phản loạn. Một gia tộc lớn ở quận Ích Châu (trụ sở quận đặt tại Điền Trì, nay ở phía đông huyện Tấn Ninh, Vân Nam) là Ung Khải cũng nổi dậy và đầu hàng Đông Ngô. Ung Khải chiếm cứ quận Ích Châu, đồng thời tìm cách chiếm đoạt quận Vĩnh Xương. Hai quận Ích Châu và Vĩnh Xương là những bộ phận quan trọng trong nền kinh tế của nước Thục; các dân tộc địa phương có quan hệ giao lưu kinh tế, văn hóa mật thiết với người Hán. Một gia tộc lớn khác ở Nam Trung là Mạnh Hoạch cũng tham gia cuộc nổi loạn.

Gia Cát Lượng cho rằng đất nước vừa mất đi vị quân chủ, nên quyết định trước hết phải ổn định dân chúng, quan lại và binh sĩ trong nước, tích trữ lương thực; đồng thời phái Đặng Chi và Trần Chấn sang Đông Ngô để nối lại quan hệ hữu hảo. Ông phái thái thú Việt Tê là Cung Lộc đến huyện An Thượng ở vùng biên giới Nam Trung để phòng bị. Còn Thường Khâm Hành, người đang làm việc tại quận Thục, thì trực tiếp đi về phía nam để điều tra và làm rõ tình hình.

Đồng thời, Gia Cát Lượng sai Lý Nghiêm viết 6 bức thư cho Ung Khải, phân tích rõ lợi hại, nhưng Ung Khải chỉ hồi âm một bức, nói rằng: “Ta từng nghe nói trời không có hai mặt trời, đất không có hai vua. Nay thiên hạ lại rơi vào thế chân vạc, có tới ba thế lực tự xưng là chính thống, nên kẻ ở nơi xa này (tức Ung Khải) cảm thấy vừa lo sợ vừa nghi hoặc, không biết nên quy phục về đâu”. Bức thư ấy được viết với giọng điệu hết sức ngạo mạn.

Khi Khê Hành đến quận Tang Kha, ông lập tức cho bắt giam Chủ bạ của quận, chuẩn bị điều tra làm rõ sự việc. Chu Bao liền nhân cơ hội đó giết Khê Hành rồi nổi dậy, gia nhập quân phản loạn. Cống Lộc cũng bị Cao Định sát hại.

Những biến động ở Nam Trung khiến Gia Cát Lượng buộc phải tiến hành Nam chinh trước, nhằm giải quyết mối lo ở hậu phương trước khi tiến hành Bắc phạt, đồng thời khai thác binh lực và tài lực.

Gia Cát Lượng lấy đức thu phục lòng người, lấy công tâm làm trọng

Tháng 3 năm Kiến Hưng thứ ba (năm 225), Gia Cát Lượng dẫn quân tiến hành Nam chinh. Trước khi lên đường, Hậu chủ Lưu Thiện ban cho Gia Cát Lượng một bộ kim phủ việt (rìu lớn bọc vàng), một chiếc lọng cong, mỗi bên trước sau một đội nghi trượng gồm vũ bảo (lọng che bằng lông chim) và nhạc công, cùng 60 người Hổ Bôn.

Theo ghi chép trong Tam Quốc Chí – Gia Cát Lượng truyện: “Mùa xuân năm thứ ba, Gia Cát Lượng dẫn quân Nam chinh; đến mùa thu thì tất cả đều được bình định”.

Gia Cát Lượng Nam chinh chia quân thành 3 đường. Cánh quân phía Đông do Mã Trung chỉ huy, tiến về Tang Kha. Cánh quân trung lộ do Lý Khôi chỉ huy, xuất quân từ Bình Di, hướng về quận Ích Châu. Chủ lực quân phía Tây do Gia Cát Lượng đích thân chỉ huy, đi qua An Thượng (nay thuộc phía tây Nghi Tân, Tứ Xuyên), theo đường thủy đến Bì Thủy (nay thuộc Mỹ Cô, Tứ Xuyên), tiến về Việt Tây (nay là Tây Xương, Tứ Xuyên).

Khi quân Hán vẫn còn đang trên đường hành quân, Ung Khải đã bị binh sĩ dưới quyền Cao Định giết chết. Quân Hán sau đó tiêu diệt Cao Định; các tướng Hán là Lý Khôi và Mã Trung lại đánh tan quân của những kẻ phản loạn.

Lúc bấy giờ, vùng Nam Trung vẫn còn tương đối hoang vu, hẻo lánh. Trong “Xuất Sư Biểu”, Gia Cát Lượng từng mô tả: “Tháng Năm vượt qua sông Lô, tiến sâu vào vùng đất không có cây cỏ”. Trong cuộc Nam chinh lần này, Gia Cát Lượng áp dụng chiến lược “công tâm làm trọng, lấy đức thu phục lòng người”, mục đích chủ yếu là khiến người dân Nam Trung thực sự tâm phục.

Theo ghi chép trong “Tam Quốc Chí – Mã Tốc truyện”, Mã Tốc đã kiến nghị với Gia Cát Lượng: “Nam trung thị kì hiểm viễn, bất phục cửu hĩ. Tuy kim nhật phá chi, minh nhật phục phản nhĩ. Kim Công phương khuynh quốc bắc phạt dĩ sự cường tặc. Bỉ tri quan thế nội hư, kì bạn diệc tốc. Dụng binh chi đạo, công tâm vi thượng, công thành vi hạ, tâm chiến vi thượng, binh chiến vi hạ, nguyện Công phục mỗ tâm nhi dĩ”. Có nghĩa là các bộ tộc ở Nam Trung dựa vào địa thế xa xôi, núi cao đường hiểm, nên từ lâu đã không chịu quy phục Trung Nguyên. Nếu dùng quân đội tiến đánh, thì hôm nay dù dẹp được cuộc phản loạn, ngày mai họ lại tiếp tục nổi dậy. Vì vậy, biện pháp tốt nhất là “công tâm”, khiến cư dân nơi đó thực lòng quy phục. Đó mới là kế sách lâu dài để giải quyết vấn đề.

Gia Cát Lượng tiếp nhận kiến nghị của Mã Tốc. Nó hoàn toàn phù hợp với chủ trương của Gia Cát Lượng trong việc an định và thu phục các dân tộc thiểu số. Từ khi còn ở Long Trung hoạch định sách lược, Gia Cát Lượng đã đề ra chính sách mềm dẻo “phía Tây hòa hiếu với các bộ tộc Nhung, phía Nam vỗ về các dân tộc Di và Việt”, không chỉ dựa vào vũ lực để cưỡng ép các dân tộc thiểu số. Rõ ràng, đối với chiến lược “công tâm làm trọng, lấy đức thu phục lòng người”, Gia Cát Lượng đã sớm có chủ trương và tính toán từ trước.

Vì vậy, trong cuộc Nam chinh lần này, ngoài việc tiêu diệt một số thủ lĩnh cầm đầu nổi loạn như Cao Định, Chu Bao (Ung Khải trước đó đã bị bộ hạ của Cao Định giết), đối với các dân tộc thiểu số khác và tầng lớp thượng lưu người Hán, Gia Cát Lượng cố gắng thu phục và trọng dụng, để họ tiếp tục cai quản vùng Nam Trung.

Gia Cát Lượng bảy lần bắt Mạnh Hoạch

Trong chiến dịch Nam chinh của Gia Cát Lượng, câu chuyện được lưu truyền rộng rãi nhất cho hậu thế chính là “bảy lần bắt Mạnh Hoạch”. Thành ngữ “thất cầm Mạnh Hoạch” (còn gọi là “thất cầm thất túng”, tức bảy lần bắt, bảy lần thả) xuất hiện sớm nhất trong “Hoa Dương Quốc Chí, quyển 4, Nam Trung Chí”. Chú giải trong “Tam Quốc Chí – Gia Cát Lượng truyện” chú dẫn “Hán Tấn Xuân Thu” cũng có ghi chép sơ lược về sự việc này. Tuy nhiên, trong “Tam Quốc Chí – Gia Cát Lượng truyện”, “Xuất Sư Biểu”, cũng như tiểu sử của Lý Khôi và Lã Khải những người trực tiếp chỉ huy quân đội lúc bấy giờ lại không có ghi chép trực tiếp về chuyện này.

Theo ghi chép trong Hán Tấn Xuân Thu, khi Gia Cát Lượng tiến quân ở Nam Trung, trận nào cũng giành thắng lợi. Nghe nói Mạnh Hoạch có danh tiếng rất lớn, cả người Di lẫn người Hán đều quy phục ông ta, Gia Cát Lượng liền dặn các tướng phải bắt sống Mạnh Hoạch.

Sau khi bắt sống Mạnh Hoạch, Gia Cát Lượng cho Mạnh Hoạch quan sát doanh trại và trận thế của quân Hán, rồi hỏi ông ta: “Ngươi thấy đội quân này thế nào?” Mạnh Hoạch trả lời: “Trước đây ta không biết rõ thực hư của quân ngươi nên mới bị đánh bại. Nay ngươi cho ta xem doanh trại và trận thế của các ngươi, nếu chỉ như thế này thì muốn giành chiến thắng cũng chẳng phải chuyện khó”. Gia Cát Lượng mỉm cười rồi thả Mạnh Hoạch trở về.

Ghi chép của Tư Mã Quang trong “Tư Trị Thông Giám, quyển 70” về sự việc này gần như giống với Hán Tấn Xuân Thu. Đại ý rằng, Gia Cát Lượng nhà Hán tiến đến Nam Trung, nơi nào giao chiến cũng giành thắng lợi. Gia Cát Lượng từ Việt Tây tiến vào, chém Ung Khải và Cao Định. Lại sai Lai Hàng Đô Đốc là Lý Khôi từ Ích Châu tiến vào, sai Môn Hạ Đô Đốc Ba Tây là Mã Trung từ Tang Kha tiến vào, đánh phá các huyện, sau đó hội quân với Gia Cát Lượng. Mạnh Hoạch thu thập tàn quân của Ung Khải để chống lại Gia Cát Lượng. Mạnh Hoạch vốn được cả người Di lẫn người Hán kính phục. Gia Cát Lượng sai người bắt sống ông ta. Sau khi bắt được, Gia Cát Lượng cho ông ta xem xét doanh trại và trận thế của quân mình, rồi hỏi: ‘Đội quân này thế nào?’ Mạnh Hoạch đáp: ‘Trước đây ta không biết rõ thực hư nên mới thất bại. Nay được ngài cho xem doanh trại và trận thế, nếu chỉ có thế này thì đánh thắng cũng dễ thôi’. Gia Cát Lượng mỉm cười, rồi lại thả ông ta về để tiếp tục giao chiến. Bảy lần thả, bảy lần bắt, nhưng Gia Cát Lượng vẫn tiếp tục thả Mạnh Hoạch. Đến lần cuối, Mạnh Hoạch không chịu rời đi nữa, nói: ‘Ngài thật sự có uy trời! Người Nam Trung chúng tôi từ nay sẽ không nổi loạn nữa!’ Gia Cát Lượng sau đó tiến đến Điền Trì. Bốn quận Ích Châu, Vĩnh Xương, Tang Kha và Việt Tây đều được bình định. Gia Cát Lượng liền giữ lại các thủ lĩnh địa phương và trọng dụng họ.

Sau cuộc Nam chinh, Gia Cát Lượng cho phép các dân tộc ở Nam Trung tự trị, không thay đổi cơ cấu xã hội vốn có của các dân tộc nơi đây. Chính sách này đã giành được sự hợp tác của các hào tộc, gia tộc lớn địa phương, nhờ đó Nam Trung dần được ổn định.

Nam Trung trở thành hậu phương lớn của nước Thục

Sau khi bình định các vùng ở Nam Trung, Gia Cát Lượng không để quân đội cũng không cử quan lại ở lại địa phương.

Có người khuyên can Gia Cát Lượng về việc này. Gia Cát Lượng trả lời: “Nhược lưu ngoại nhân, tắc đương lưu binh, binh lưu tắc vô sở thực, nhất bất dịch dã; gia di tân thương phá, phụ huynh tử tang, lưu ngoại nhân nhi vô binh giả, tất thành họa hoạn, nhị bất dịch dã; hựu lại luy hữu phế sát chi tội, tự hiềm hấn trọng, nhược lưu ngoại nhân, chung bất tương tín, tam bất dịch dã. Kim ngô dục sử bất lưu binh, bất vận lương, nhi cương kỉ thô định, di hán thô an, cố nhĩ”.

Đại ý là, Gia Cát Lượng cho rằng việc để quan lại ở lại Nam Trung có 3 khó khăn lớn. Trước hết, nếu để quan lại ở lại thì cũng phải để quân đội đồn trú, nhưng việc giải quyết quân nhu, lương thảo tại địa phương rất khó khăn. Hơn nữa, Nam Trung vừa trải qua chiến tranh, nhiều gia đình có đàn ông chết hoặc bị thương, nên các quan lại ở lại rất có thể sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị trả thù. Ngoài ra, các quan lại người Di lo sợ mình đã phạm những tội như phế truất hoặc giết chóc, e rằng lỗi lầm quá nặng; nếu các quan lại từ bên ngoài được lưu lại, cuối cùng cũng khó có được lòng tin của người dân. Không để quân đội đồn trú sẽ tránh được gánh nặng vận chuyển lương thảo. Nhờ vậy, kỷ cương cai trị có thể bước đầu được thiết lập, người Di và người Hán cũng có thể chung sống tương đối yên ổn, vì thế Gia Cát Lượng quyết định thực hiện chính sách này.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là không để lại một quan hay một binh nào. Lai Hàng Đô đốc và các Thái thú các quận vẫn do chính quyền Thục Hán bổ nhiệm và phái từ Thành Đô đến. Những chức vụ khác thì giao cho các thủ lĩnh địa phương đảm nhiệm. Các quan lại cấp huyện, ấp “đều lựa chọn và sử dụng chính các thủ lĩnh của họ”, được gọi là Ấp hầu hoặc Ấp quân.

Cuối cùng, Gia Cát Lượng bổ nhiệm Lý Khôi làm Thái thú Kiến Ninh, Lã Khải làm Thái thú Vân Nam; đồng thời tiếp nhận sự quy hàng của Quản Tập, Mạnh Diễm và những người khác, cùng với Mạnh Hoạch trao cho họ các chức quan, qua đó thu phục và đoàn kết người Nam Trung. Chỉ có Mã Trung là người từ nơi khác đến và được bổ nhiệm làm Thái thú Tang Kha, nhưng ông vẫn có thể khiến người Di kính trọng và nể phục.

“Tư Trị Thông Giám” chép rằng: “Lượng vu thị tất thu kì tuấn kiệt Mạnh Hoạch đẳng dĩ vi quan chúc, xuất kì kim, ngân, đan, tất, canh ngưu, chiến mã dĩ cấp quân quốc chi dụng. Tự thị chung Lượng chi thế, Di bất phục phản”. Có nghĩa là sau khi quân Hán chinh phục Nam Trung, Gia Cát Lượng trọng dụng các thủ lĩnh hoặc nhân vật thuộc tầng lớp trên của các dân tộc địa phương, bổ nhiệm họ làm quan. Mạnh Hoạch được phong làm Ngự sử Trung thừa. Vàng, bạc, chu sa, nước sơn, trâu cày, ngựa chiến và những vật phẩm khác do người Nam Trung cống nạp đã góp phần cung cấp nguồn lực cho quân phí của Thục Hán. Quan hệ giữa người Di và người Hán được cải thiện đáng kể. Khi Gia Cát Lượng còn sống, các dân tộc Di ở phương Nam nhìn chung không xảy ra những cuộc nổi loạn lớn, nội bộ nước Thục cũng nhờ đó mà được ổn định.

Gia Cát Lượng bình định Nam Trung đã đạt được mục tiêu tăng cường nguồn binh lực và tài lực, khiến “nguồn cung quân nhu dồi dào, đất nước giàu mạnh”, tạo nền tảng vững chắc hơn cho các cuộc Bắc phạt của ông.

Đồng thời, từ Nam Trung, Thục Hán cũng bổ sung được nguồn binh lực. Theo ghi chép trong “Hoa Dương Quốc Chí – Nam Trung Chí”, Gia Cát Lượng đã đưa hơn một vạn hộ gia đình thuộc lực lượng tinh nhuệ người Thanh Khương ở Nam Trung về Thục, tổ chức thành năm bộ, khiến “đi đến đâu cũng không có đối thủ”. Sau khi Lý Khôi bình định vùng phía Nam, ông thu được từ các bộ tộc Tẩu và Bộc trâu cày, ngựa chiến, vàng bạc, da tê giác để bổ sung quân nhu; nhờ đó, “nguồn cung quân phí lúc bấy giờ không hề thiếu thốn”. Sau khi Trương Nghi bình định người Liêu ở Tang Kha và Hưng Cổ, “ông chiêu hàng được 2.000 người, rồi đưa tất cả đến Hán Trung”.

Gia Cát Lượng truyền dạy kỹ thuật sản xuất cho các dân tộc thiểu số ở Nam Trung, khuyến khích phát triển nông nghiệp và nghề trồng dâu nuôi tằm, thúc đẩy kinh tế khu vực Tây Nam phát triển thịnh vượng. Cây dâu tằm có rất nhiều công dụng: lá dùng để nuôi tằm, vỏ có thể dùng làm giấy, quả dâu (tang thầm) có thể ăn được; lá, cành, quả và vỏ rễ đều có thể dùng làm thuốc. Vì vậy, cây dâu có thể tận dụng hầu như toàn bộ, từ đó được xem là một loại cây vô cùng quý giá (Ảnh: Fotolia)

Gia Cát Lượng được hậu thế kính ngưỡng

Trong “Tam Quốc Chí”, phần ghi chép về việc Gia Cát Lượng bình định Nam Trung chỉ có vỏn vẹn 12 chữ: “Tam niên xuân, lượng suất chúng nam chinh, kì thu tất bình”. Tạm dịch là, mùa xuân năm thứ ba, Gia Cát Lượng dẫn quân Nam chinh; đến mùa thu thì tất cả đều được bình định.

Việc Gia Cát Lượng cai trị nước Thục cũng như cuộc Nam chinh của ông đã để lại ảnh hưởng sâu rộng đối với các dân tộc ở vùng Tây Nam. Tại khu vực phía tây Vân Nam vẫn còn lưu truyền nhiều di tích và truyền thuyết dân gian liên quan đến cuộc Nam chinh của Gia Cát Lượng.

Sau khi ổn định Nam Trung, Gia Cát Lượng tôn trọng đời sống và văn hóa địa phương, đồng thời đưa văn hóa Trung Hoa đến với các dân tộc vốn có trình độ phát triển tương đối lạc hậu vào thời bấy giờ, giúp các dân tộc địa phương được hưởng nhiều lợi ích. Mặc dù tính xác thực của câu chuyện “bảy lần bắt, bảy lần thả Mạnh Hoạch” từ lâu vẫn là vấn đề gây nghi vấn và tranh luận khá lớn trong giới học thuật, nhưng trong dân gian, câu chuyện này đã đi sâu vào lòng người.

Theo sử sách ghi chép, Gia Cát Lượng từng đẩy mạnh việc đồn điền ở Nam Trung, truyền dạy kỹ thuật sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế khu vực Tây Nam phát triển thịnh vượng. Trong “Điền Tải Ký” của Dương Thận đời Minh có ghi: “Các dân tộc Di đều ngưỡng mộ đức của Vũ Hầu, dần dần rời khỏi núi rừng, chuyển đến sinh sống ở vùng đồng bằng, xây dựng thành ấp, chuyên tâm làm nông và trồng dâu”. Điều này cho thấy vào thời đó, nhiều dân tộc ở những khu vực này vì kính ngưỡng Gia Cát Lượng mà từng bước rời khỏi những vùng núi rừng hẻo lánh, bắt đầu cuộc sống canh tác và dệt vải. Các dân tộc Di và Miêu cũng đều cho rằng Gia Cát Lượng đã truyền dạy cho họ nhiều kỹ thuật sản xuất, góp phần cải thiện đời sống và phát triển kinh tế địa phương.

Người dân địa phương tôn phụng Khổng Minh như thần minh, một số dân tộc thiểu số ở phương Nam lại càng cảm kích Gia Cát Lượng vô cùng, có nơi đến nay vẫn lập miếu thờ để ghi nhớ công ơn ông.

Theo ghi chép trong sách “Điền lược” vào giữa thời nhà Minh, chỉ riêng tại khu vực Vân Nam đã có hơn 40 địa danh, di tích liên quan đến Gia Cát Lượng. Các dân tộc bản địa đối với Gia Cát Lượng “sợ ông như kính sợ trời đất, yêu quý ông như tôn kính tổ tiên”. Thời điểm đó, tiểu thuyết “Tam quốc diễn nghĩa” vẫn chưa được lưu truyền rộng rãi, qua đó có thể thấy dù đã trải qua hàng nghìn năm sau khi bình định Nam Trung, Gia Cát Lượng vẫn nhận được sự kính trọng và yêu mến sâu sắc từ các dân tộc vùng Tây Nam; trong đó người Thái (Đái) vẫn lưu truyền những vần thơ ca ngợi vị “Thừa tướng”. Nhà văn Triệu Phiên sinh ra ở Vân Nam thời hiện đại từng viết những lời tán tụng như: “Thu phục lòng người thì sự phản trắc tự tiêu tan, từ xưa kẻ hiểu binh đao vốn chẳng hiếu chiến” hay “Bảy lần bắt dựa vào mưu lược, một trận đánh định êm vùng Mạn Miêu”. Ngày nay, tại một số khu vực vùng Tây Nam giáp ranh với Thục Hán xưa, như miền Bắc Myanmar hay miền Bắc Thái Lan, một bộ phận người dân vẫn không dám gọi thẳng tên Gia Cát Lượng mà tôn kính gọi ông là Khổng Minh.

(Còn tiếp)

Dịch từ: https://www.epochtimes.com/b5/16/5/31/n7949198.htm