[ChanhKien.org]

Bài thứ 4 trong chùm thơ “Vịnh hoài cổ tích” của Đỗ Phủ viết rằng:

Thục Chủ khuy Ngô hạnh Tam Hiệp, Băng niên diệc tại Vĩnh An Cung.
Thúy hoa tưởng tượng không sơn lý, Ngọc điện hư vô dã tự trung.
Cổ miếu sam tùng sào thủy hạc, Tuế thời phục lạp tẩu thôn ông.
Vũ Hầu từ đường thường lân cận, Nhất thể quân thần tế tự đồng.

Tạm dịch:

Chúa Thục dòm ngó nước Ngô, may mắn đến Tam Hiệp,
Năm mất cũng ở cung Vĩnh An.
Tưởng tượng bóng cờ vua xanh biếc giữa núi non vắng vẻ,
Điện ngọc nay hư không giữa ngôi chùa hoang.
Miếu cổ, cây sam cây tùng là nơi hạc nước làm tổ,
Mỗi dịp lễ Tết, các cụ già trong làng lại tìm đến.
Đền thờ Vũ Hầu thường ở gần đó,
Vua tôi đồng lòng, cùng chung lễ tế.

Toàn bộ lịch sử Tam Quốc đã diễn giải một chữ “nghĩa”. Kết nghĩa vườn đào của ba anh hùng là cái nghĩa kết giao huynh đệ; một khi đã kết nghĩa thì phải cùng nhau chia sẻ phúc họa, sống chết có nhau. Quan Vân Trường tha và thả Tào Mạnh Đức tại đường Hoa Dung vì trọng nghĩa, qua đó thể hiện cái nghĩa đối với người từng có giao tình khi xưa.

Tào Mạnh Đức (Tào Tháo) từng có đại ân với Quan Vũ. Sau khi Tào Mạnh Đức thất bại trong trận Xích Bích, Gia Cát Lượng đã tính trước rằng ông ta nhất định sẽ đi qua đường Hoa Dung, nên sai quân mai phục để chặn đánh. Gia Cát Lượng biết thiên hạ sẽ hình thành thế chân vạc ba nước, vì vậy nhất định phải để Tào Tháo có đường sống. Quan Vân Trường là người coi trọng chữ nghĩa nhất, nên là lựa chọn thích hợp nhất, nhưng ông lại cố ý để Quan Vũ đứng ngoài, không giao nhiệm vụ. Quan Vũ không thể kiên nhẫn chờ đợi, tự nguyện xin đảm nhận nhiệm vụ này. Gia Cát Lượng chỉ ra rằng Tào Tháo từng đối đãi rất hậu với Quan Vũ, có thể Quan Vũ sẽ tha cho Tào Tháo, nên nói ông không thích hợp. Quan Vũ nói rằng mình đã báo đáp xong ân nghĩa, lần này gặp lại nhất định sẽ không tha cho Tào Tháo. Gia Cát Lượng bèn cùng ông lập quân lệnh trạng. Quan Vũ biết rõ việc thả Tào Mạnh Đức sẽ phải chịu xử theo quân pháp, nhưng vẫn để Tào Tháo đi qua. Đây là một hành động xả thân vì nghĩa.

Điều đặc biệt cảm động trong thời Tam Quốc là sự chân thành, hết lòng vì nhau giữa Lưu Bị và Gia Cát Lượng, qua đó thể hiện một giai thoại về nghĩa vua tôi. Bài thơ thất ngôn luật thi “Vịnh hoài cổ tích” của Đỗ Phủ được dẫn ở trên đã chỉ ra rằng Lưu Bị và Gia Cát Lượng là một thể thống nhất giữa vua và tôi, cùng được hưởng sự tế tự như nhau.

Đền Vũ Hầu nằm ở phía tây bên ngoài cầu Nam Môn, thành phố Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, được xây dựng vào năm 223 sau Công nguyên để thờ Gia Cát Lượng.

Nhân vật được thờ phụng trong ngôi đền này không chỉ có một mình Gia Cát Lượng. Một phần rất lớn của khu đền là Huệ Lăng, nơi an táng Lưu Bị sau khi ông qua đời. Đây là ngôi từ đường duy nhất trong lịch sử hàng nghìn năm của Trung Quốc thờ chung một vị quân vương và một vị thừa tướng.

Ban đầu, Đền Vũ Hầu không được xây dựng như hiện nay. Sau khi Lưu Bị được an táng, ngôi miếu được xây dựng để thờ ông là Chiêu Liệt Miếu; Đền Vũ Hầu nằm bên cạnh Chiêu Liệt Miếu. Mãi đến đầu thời Minh, khi trùng tu Đền Vũ Hầu vốn bị hư hại do chiến tranh, người ta đã sáp nhập đền này vào Chiêu Liệt Miếu, từ đó hình thành Đền Vũ Hầu như ngày nay.

Việc đặt một vị quân vương và vị thừa tướng của một nước cùng được thờ phụng là một điều hết sức khác thường. Bởi giữa họ có một giai thoại lưu truyền ngàn đời về mối quan hệ vua tôi hòa hợp, nhưng sự kiện như ba lần đến lều tranh cầu Gia Cát Lượng, trận Xích Bích và việc Lưu Bị gửi gắm con côi tại thành Bạch Đế đã đi sâu vào lòng người.

Ba lần đến lều tranh là câu chuyện về một vị minh chủ khao khát hiền tài, hết lần này đến lần khác vượt đường xa đến túp lều tranh ở Long Trung để thăm một người đọc sách trẻ tuổi đang ẩn cư, tự mình cày cấy. Chính vì tấm lòng thành ấy, người thanh niên tự ví mình với Quản Trọng và Nhạc Nghị đã dốc toàn bộ tâm sức và tài năng của mình. Để giúp Lưu Bị hoàn thành nghiệp đế vương, Gia Cát Lượng đích thân đến Đông Ngô, trải qua cuộc đấu trí với quần Nho, thuyết phục Tôn Quyền, rồi thi triển tài năng qua những việc như dùng thuyền cỏ mượn tên, mượn gió Đông, một trận đánh bại mấy chục vạn quân Tào Tháo, bước đầu hình thành cục diện Tam Quốc thế chân vạc. Quả thực, ông đã dốc hết tâm huyết.

Việc gửi gắm con côi tại thành Bạch Đế là khi Lưu Bị, vị quân chủ đang lâm bệnh nặng, trong lúc hấp hối đã triệu tập vị đại thần thân cận và đáng tin cậy nhất của mình, giao phó vương triều Thục Hán được gây dựng bằng bao cuộc chinh chiến gian khổ cho vị thừa tướng có công lao to lớn này. Người làm bề tôi khóc đến nghẹn lời, quân chủ cũng nước mắt tuôn trào. Cảnh tượng như vậy có lẽ chỉ từng xuất hiện giữa đôi quân thần Lưu Bị và Gia Cát Lượng.

Trong Võ Hầu Từ có đặt tượng của Lưu Bị, Gia Cát Lượng và hai người hậu duệ, nhưng lại không có tượng của Lưu Thiện, người con kế tự của Lưu Bị và sau này đầu hàng nước Ngụy. Qua đó có thể thấy rằng trong văn hóa Trung Hoa, lòng trung nghĩa được coi trọng hơn hết thảy.

Sau khi Lưu Bị qua đời, Gia Cát Lượng đã tận tâm tận lực phò tá hậu chủ Lưu Thiện, bên trong thì chỉnh đốn chính sự, bên ngoài thì chấn chỉnh quân sự; Nam chinh Bắc phạt, dẹp yên nội loạn, lấy công làm thủ, nhiều lần xuất quân đến Kỳ Sơn. Cuối cùng, ông lâm bệnh và qua đời tại Ngũ Trượng Nguyên trên đường tiến quân. Con cháu của Gia Cát Lượng cũng không làm hoen ố thanh danh của ông. Vài chục năm sau, Chung Hội và Đặng Ngải dẫn quân đánh vào nước Thục, con trai Gia Cát Lượng là Gia Cát Chiêm và cháu nội là Gia Cát Thượng đều chủ trương chống giặc, cuối cùng tử trận tại Miên Trúc.

Chính vì vậy, nghĩa quân thần giữa Lưu Bị và Gia Cát Lượng không chỉ được các triều đại quân chủ qua nhiều thời kỳ ca ngợi, mà còn được muôn dân trăm họ công nhận. Nghĩa quân thần giữa họ đã vượt lên trên thứ vinh quang cao nhất của thế tục là xưng vương xưng đế. Trong sự tín nhiệm ấy, ngôi đế vị không còn là điều quan trọng; tấm lòng ngay thẳng, sự chân thành và đồng cam cộng khổ, sống chết có nhau giữa hai người đã trở thành khuôn mẫu cao nhất của đạo nghĩa quân thần. Đỗ Phủ từng ca ngợi mối quan hệ ấy bằng cụm từ “nhất thể quân thần” — tạm dịch là là “vua tôi đồng một lòng, như cùng một thể”.

Gia Cát Lượng ẩn cư ở Long Trung, từng làm một bài ca rằng:

Phượng cao tường vu thiên nhận hề, phi ngô bất tê; sĩ phục xử vu nhất phương hề, phi chủ bất y.
Nhạc cung canh vu lũng mẫu hề, ngô ái ngô lư; liêu kí ngạo vu cầm thư hề, dĩ đãi thiên thì.

Tạm dịch là:

Phượng hoàng bay lượn trên chín tầng trời, không phải cây ngô đồng thì không đậu;
Người có tài ẩn mình ở một nơi, không gặp được minh chủ thì không nương theo.
Ta vui với việc tự mình cày ruộng nơi đồng nội, ta yêu căn nhà của mình;
Tạm gửi niềm kiêu hãnh vào đàn và sách, chờ đợi thiên thời.

Gia Cát Lượng có chí hướng cao xa, có tài năng giúp đời, cứu dân. Ông “ẩn mình ở một nơi”, chờ đợi sự xuất hiện của một vị minh chủ mà ông có thể phò tá.

Quả nhiên, Lưu Bị ba lần đến lều tranh mời Gia Cát Lượng. Nhìn thấy tấm lòng thành của Lưu Bị, Gia Cát Lượng biết rằng đây chính là vị minh chủ mà mình đã luôn chờ đợi. Sau khi có được Gia Cát Lượng, Lưu Bị đối đãi với ông theo lễ dành cho bậc thầy. Việc một vị quân chủ sử dụng người tài như thế nào là một vấn đề đặc biệt được văn hóa Trung Hoa coi trọng.

Tăng Tử từng nói một câu: “Dụng sư giả vương, dụng hữu giả bá, dụng đồ giả vong”. Tạm dịch là dùng bậc thầy thì làm vua, dùng bạn bè thì làm bá, dùng kẻ học trò thì mất nước. Đây là sự tổng kết từ những kinh nghiệm lịch sử của Trung Quốc thời xưa. Trong lịch sử cổ đại, nhiều vị quân vương đạt được những thành tựu to lớn đều đối đãi với các đại thần phò tá mình theo lễ dành cho bậc thầy.

Tư Mã Huy biết Từ Thứ đã tiến cử Gia Cát Lượng, từng nói: “Nguyên Trực (Từ Thứ) muốn ra đi thì cứ tự mình đi là được, hà tất còn phải khiến ông ấy xuất đầu lộ diện để hao tâm tổn sức?” Ông còn nói: “Ngọa Long tuy đã gặp được chủ nhân của mình, nhưng lại không gặp đúng thời, đáng tiếc thay!”

Lời của Tư Mã Huy rất đáng để suy ngẫm. Thời Tam Quốc, thiên hạ chia làm ba, đó chính là thiên thời. Tuy nhiên, cục diện thiên hạ chia ba này cũng có sự góp sức và tâm huyết của Gia Cát Lượng. Nếu không có việc liên kết với Đông Ngô để chống Tào Tháo, giành thắng lợi trong trận Xích Bích, thì Đông Ngô có thể đã đầu hàng Tào Tháo; Lưu Bị cũng không thể mở rộng thế lực, và cục diện ba nước phân chia thiên hạ có lẽ đã không thể hình thành. Gia Cát Lượng đích thân cùng Lỗ Túc đến Giang Đông, khẩu chiến quần Nho, thuyết phục Tôn Quyền, rồi mượn gió Đông để hỏa công doanh trại Tào Tháo. Những việc này đã trở thành những yếu tố then chốt quyết định thắng lợi của trận Xích Bích, tất cả đều là kết quả của sự nỗ lực và tâm huyết của Gia Cát Khổng Minh.

Lưu Bị hoàn toàn có đủ đức và tài của một vị minh quân có thể khai sáng một thời đại thịnh trị. Nhưng do thiên thời đã định thiên hạ chia thành ba nước, ông khó có thể thi triển, cuối cùng chỉ có thể đứng vững ở đất Thục. Đối với Gia Cát Lượng thì cũng vậy. Dù đã hao tâm tổn sức, tận tâm tận lực, cuối cùng ông cũng chỉ có thể duy trì được cục diện thiên hạ chia ba. Vì vậy có thể nói, vua tôi họ đều gặp được đúng người, nhưng lại không gặp đúng thời. Tư Mã Huy nói rằng: “Ngọa Long gặp được chủ nhân của mình, nhưng không gặp đúng thời” câu này chỉ đúng một nửa. Thực ra, Lưu Bị với tư cách là một vị minh quân, cũng không gặp đúng thời.

Bức họa Lưu Bị có tô màu do người thời Thanh vẽ. (Tư liệu công cộng)

Lưu Bị gửi gắm cô nhi ở thành Bạch Đế

Sau trận Xích Bích, Lưu Bị tiến vào Tây Xuyên. Sau khi chiếm được Tây Xuyên, Gia Cát Lượng vào Thục để phò tá triều chính, còn Quan Vũ được giao ở lại trấn thủ Kinh Châu.

Kinh Châu khi đó gồm năm quận: Nam Quận, Trường Sa, Linh Lăng, Quế Dương và Vũ Lăng, trong đó Nam Quận là vùng đất Lưu Bị mượn của Đông Ngô. Sau khi có được Tây Xuyên, Lưu Bị phái Quan Vũ xuất binh tấn công khu vực Tương Phàn của Tào Tháo. Tôn Quyền nhân lúc Kinh Châu phòng thủ sơ hở đã sai Lữ Mông tập kích. Kết quả, ba quận Nam Quận, Vũ Lăng và Linh Lăng ở Kinh Châu lần lượt thất thủ.

Quan Vũ chiến bại, bị bắt làm tù binh. Ông không chịu đầu hàng nên bị giết. Sau khi nghe tin Quan Vũ bị Đông Ngô sát hại, Lưu Bị nóng lòng muốn báo thù, không nghe lời khuyên can của Gia Cát Lượng, huy động toàn bộ binh mã trong nước để chinh phạt Đông Ngô, đích thân dẫn quân đi báo thù cho Quan Vũ. Gia Cát Lượng ở lại để đề phòng quân Ngụy nhân lúc Thành Đô sơ hở mà tập kích, nên không đi cùng Lưu Bị.

Đại tướng Đông Ngô là Lục Tốn nhận thấy quân Thục vì tránh cái nóng khắc nghiệt nên đã đóng doanh trại ở những nơi rừng núi rậm rạp. Ông bèn phóng hỏa đốt cháy bảy trăm dặm liên doanh của quân Thục, khiến Lưu Bị đại bại. Lưu Bị phải lui về thành Bạch Đế, rồi lâm bệnh nặng tại cung Vĩnh An trong thành, nằm liệt không dậy được. Theo ghi chép trong Tam Quốc Chí: “Chương vũ tam niên xuân, Tiên chủ vu Vĩnh An bệnh đốc, triệu Lượng vu Thành Đô, chúc dĩ hậu sự”.

Điều này có nghĩa là Lưu Bị biết mình không còn sống được bao lâu nữa, liền sai người ngày đêm đi gấp đến Thành Đô, mời Gia Cát Lượng đến để phó thác những việc hậu sự và triều chính sau khi ông qua đời.

Gia Cát Lượng để Thái tử Lưu Thiện ở lại giữ Thành Đô, đem hai người con còn lại của Lưu Bị là Lưu Vĩnh, Lưu Lý đến thành Bạch Đế, vào cung Vĩnh An yết kiến Lưu Bị.

Lưu Bị bảo Gia Cát Lượng ngồi bên cạnh, đưa tay vỗ lên vai và lưng ông rồi nói: “Từ khi có được sự phò tá của Thừa tướng, ta mới nhờ trời mà có thể hoàn thành nghiệp đế. Không ngờ trí tuệ và kiến thức của ta nông cạn, lại không thể tiếp thu lời can gián của Thừa tướng, tự chuốc lấy thất bại. Nay vì hối hận mà mắc bệnh, cái chết đã cận kề. Người kế vị là Lưu Thiện lại yếu kém, nên ta không thể không đem đại sự phó thác cho khanh”. Nói xong, Lưu Bị nước mắt tuôn rơi.

Gia Cát Lượng cũng khóc và nói: “Mong Bệ hạ hãy bảo trọng thân thể”. Lưu Bị nhìn các quan tướng đang đứng xung quanh, thấy Mã Tắc cũng có mặt bên cạnh, liền bảo Mã Tắc tạm thời lui ra ngoài. Sau khi Mã Tắc ra ngoài, Lưu Bị hỏi Gia Cát Lượng: “Khanh thấy tài năng của Mã Tắc là người như thế nào?” Gia Cát Lượng trả lời: “Người này cũng là một bậc anh tài đương thời”. Lưu Bị nói: “Người này khoác lác quá lời, không thể trọng dụng. Đối với ông ta, Thừa tướng cần phải thận trọng xem xét”.

Nói xong, Lưu Bị triệu tập tất cả các quan tướng đến đầy đủ, cầm bút viết di chúc rồi giao cho Gia Cát Lượng. Ông cảm khái nói: “Vốn ta muốn cùng các khanh tiêu diệt Tào Phi, nhưng đáng tiếc giữa đường lại phải chia tay. Phiền Thừa tướng đem di chúc của ta giao cho Thái tử Lưu Thiện. Sau này mọi việc đều mong Thừa tướng chỉ dẫn và phò trợ”. Gia Cát Lượng quỳ lạy xuống đất, nói: “Mong Bệ hạ hãy an tâm nghỉ ngơi. Chúng thần nhất định sẽ dốc hết sức mình, phò trợ Thái tử”.

Lưu Bị bảo những người bên cạnh đỡ Gia Cát Lượng đứng dậy. Một tay ông lau nước mắt, tay kia nắm lấy tay Gia Cát Lượng rồi nói: “Nay ta sắp qua đời, có một lời tâm phúc muốn nói với khanh”.

Gia Cát Lượng hỏi: “Bệ hạ có điều gì muốn căn dặn?” Lưu Bị nói: “Tài năng của khanh cao hơn Tào Phi gấp mười lần, nhất định có thể làm nên đại nghiệp. Nếu Lưu Thiện có thể phò tá thì hãy phò tá nó; nếu nó không thể đảm đương, khanh có thể thay thế Lưu Thiện, tự mình lên làm hoàng đế”. Nghe những lời ấy, Gia Cát Lượng lập tức khóc và quỳ lạy xuống đất, nói: “Là bề tôi, thần nhất định sẽ tận tâm tận lực, hết lòng giữ trọn trung trinh, phò tá Lưu Thiện, cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi”.

Lưu Bị lại mời Gia Cát Lượng ngồi bên cạnh, rồi gọi Lưu Vĩnh và Lưu Lý đến trước mặt và căn dặn: “Các con phải nhớ, sau khi ta qua đời, ba anh em các con phải đối đãi với Thừa tướng như đối đãi với cha mình, không được phép có chút chểnh mảng hay thất lễ nào”. Ông còn bảo hai người con cùng quỳ lạy trước Gia Cát Lượng. Sau đó, Lưu Bị nói với các tướng quan: “Ta đã đem việc lớn của quốc gia phó thác cho Thừa tướng. Ta yêu cầu người kế vị là Lưu Thiện phải đối đãi với Thừa tướng theo lễ phụng sự cha mình. Các khanh cũng phải như vậy, tuyệt đối không được thất lễ, chớ phụ lòng ủy thác của ta”.

Lưu Bị lại căn dặn Triệu Vân: “Ta và khanh gặp nhau trong lúc hoạn nạn, khanh đã đi theo ta cho đến tận hôm nay. Không ngờ nay lại phải chia lìa tại nơi này. Mong khanh hãy nghĩ đến tình nghĩa thâm giao giữa chúng ta mà sớm hôm chăm nom, bảo vệ các con của ta, đừng phụ sự kỳ vọng của ta”. Triệu Vân vừa khóc vừa quỳ lạy, nói: “Thần nhất định sẽ hết lòng tận sức, nguyện đem sức khuyển mã để báo đáp!”

Lưu Bị lại nói với các quan tướng: “Các vị tướng quân, ta không thể lần lượt căn dặn từng người. Mong mọi người hãy tự mình cố gắng, giữ gìn phẩm hạnh, biết quý trọng bản thân”. Nói xong những lời ấy, Lưu Bị băng hà, hưởng thọ 63 tuổi.

Quân thần một lòng, soi tỏ gan ruột, lưu truyền muôn đời

Sau khi có được Gia Cát Lượng, Lưu Bị vô cùng vui mừng, nói rằng: “Ta có Khổng Minh cũng như cá có nước vậy”. Trần Thọ cũng nói: “Đến khi ông đem việc nước phó thác cho Gia Cát Lượng, không hề hai lòng, quả thật là biểu hiện cao nhất của sự công tâm giữa vua và tôi, là khuôn mẫu tốt đẹp xưa nay”.

Hồ Tam Tỉnh, người chú giải Tư Trị Thông Giám, cũng cho rằng: “Từ xưa đến nay, trong số những vị quân chủ phó thác việc hậu sự, không ai sâu xa thấu suốt như Chiêu Liệt (Lưu Bị)”.

Triệu Dực cũng hết lời ca ngợi việc Lưu Bị phó thác cô nhi cho Gia Cát Lượng: “Dù trải qua nghìn năm, người đời sau vẫn có thể nhìn thấy tấm lòng chân thành sâu kín của ông; chẳng phải đó chính là sự bộc lộ của một con người sống rất chân tình hay sao?”

Lưu Bị luôn tin tưởng Gia Cát Lượng, thường xuyên phó thác cho ông những trọng trách và việc đại sự của quốc gia.

Sau trận Xích Bích, Lưu Bị về phía tây, tiến vào Ích Châu. Ông không đưa Gia Cát Lượng theo, mà mang theo Pháp Chính và Bàng Thống làm những mưu sĩ chủ chốt. Sau khi chiếm được Tây Xuyên (Ích Châu), vùng hậu phương của nơi này chính là Kinh Châu. Khi đó, Kinh Châu là căn cứ để Lưu Bị đặt nền móng, nhưng nền tảng vẫn chưa vững chắc. Vì vậy, để tiến vào Ích Châu, ông cần phải lựa chọn những quan văn võ có năng lực nhất và đáng tin cậy nhất để trấn thủ Kinh Châu, mới có thể bảo đảm Kinh Châu không xảy ra bất cứ sơ suất nào.

Lưu Bị tiến về phía Tây chiếm Ích Châu phải đối mặt với rất nhiều biến số. Một khi Kinh Châu xảy ra vấn đề, Lưu Bị sẽ lại rơi vào cảnh phải chạy ngược chạy xuôi, bôn ba khắp nơi. Để củng cố phòng thủ Kinh Châu, Lưu Bị để lại Gia Cát Lượng, Quan Vũ, Trương Phi và Triệu Vân. Chỉ những người thân tín này mới có thể khiến Lưu Bị yên tâm. Cho đến khi Bàng Thống trúng tên tử trận tại Lạc huyện, tình hình Kinh Châu dần ổn định, trong khi Thành Đô lại là mục tiêu nhất định phải chiếm được, Lưu Bị mới điều Gia Cát Lượng, Trương Phi, Triệu Vân và những người khác tiến vào Thục. Nhờ đó, ông nhanh chóng chiếm được Thành Đô, kiểm soát toàn bộ Ích Châu, đặt nền móng cho cục diện thiên hạ chia ba.

Sau khi Lưu Bị công hạ Thành Đô, ông lấy “Gia Cát Lượng làm cánh tay đắc lực, Pháp Chính làm mưu chủ, Quan Vũ, Trương Phi và Mã Siêu làm nanh vuốt”. Khi “Tiên chủ ra ngoài, Gia Cát Lượng thường trấn thủ Thành Đô, bảo đảm đầy đủ lương thực và binh lực”. Điều này cho thấy Lưu Bị tin tưởng và hết sức coi trọng Gia Cát Lượng, đến mức giao phó cho ông toàn bộ hậu phương trọng yếu.

Trong “Xuất Sư Biểu”, Gia Cát Lượng 12 lần nhắc đến Lưu Bị, mỗi lần đều dùng giọng điệu vô cùng sâu sắc và tha thiết để kể về ân tri ngộ của vị minh chủ này đối với mình. Nhớ lại từ khi Lưu Bị ba lần đến lều tranh mời ông, Gia Cát Lượng đã phò tá Lưu Bị, từ cảnh không có nổi một tấc đất để đặt chân cho đến khi gây dựng được cơ nghiệp đế vương một phương, đưa Lưu Bị lên ngôi đế vương, đạt đến địa vị chí tôn. Còn Gia Cát Lượng cũng từ một kẻ áo vải trở thành vị Thừa tướng nắm quyền lực lớn. Hai người đồng lòng đồng dạ, cùng chung vinh nhục, cùng chia sẻ hoạn nạn, qua đó thể hiện đúng tinh thần “quân thần chi chí công, cổ kim chi thịnh quỹ”, tạm dịch là vua tôi công tâm cao nhất, là khuôn mẫu tốt đẹp xưa nay. Mối quan hệ quân thần giữa Lưu Bị và Gia Cát Lượng như vậy đã tạo cho họ mỹ danh “đệ nhất quân thần trong thiên hạ”.

Hai người đồng lòng hiệp sức, cùng nhau vượt qua mọi khó khăn, thân thiết như cá với nước, thể hiện trọn vẹn đạo nghĩa mà mối quan hệ vua tôi nên có, đủ để trở thành tấm gương lưu truyền muôn đời.

(Còn tiếp)

Dịch từ: https://www.epochtimes.com/b5/16/5/27/n7938015.htm