Tác giả: Lưu Hiểu

[ChanhKien.org]

Từ xưa đã có câu: “Non sông muôn thuở, tìm đâu thấy được nơi Tôn Trọng Mưu từng ngự trị”. Hay: “Đứng nơi đâu ngóng nhìn Thần Châu? Phóng mắt chỉ thấy cảnh tượng lầu Bắc Cố. Bao chuyện hưng vong suốt nghìn thu, mênh mang thay, Chỉ có dòng Trường Giang cuồn cuộn chảy mãi không ngừng. Thuở thiếu niên, mũ giáp ngợp trời, Trấn giữ phương Đông Nam, chinh chiến chưa từng dứt. Anh hùng trong thiên hạ, ai là đối thủ? Chỉ có Tào Tháo và Lưu Bị. Sinh con, nên được người như Tôn Trọng Mưu”. Dưới ngòi bút của nhà văn đời Nam Tống Tân Khí Tật, Tôn Quyền là vị thống soái trẻ tuổi, từ khi còn niên thiếu đã cầm quân chinh chiến, không ngừng mở mang và củng cố cơ nghiệp, lập nên những chiến công hiển hách. Trong thiên hạ lúc bấy giờ, chỉ có hai bậc anh hùng là Tào Tháo và Lưu Bị mới có thể sánh được với ông. Quả thực, lịch sử đúng là như vậy.

Ổn định cục diện, bình định Sơn Việt

Năm Kiến An thứ năm (năm 200), sau khi anh trai là Tôn Sách qua đời đột ngột, Tôn Quyền lên kế vị dưới sự ủng hộ mạnh mẽ của mẹ là Ngô Thái phu nhân, cùng sự phò tá của các quan văn võ do Trương Chiêu và Chu Du đứng đầu. Ông được triều đình Đông Hán sắc phong làm Thảo Lỗ tướng quân, đồng thời kiêm chức Thái thú quận Cối Kê, từ đó bắt đầu thống lĩnh vùng Giang Đông.

Có thể nói, Tôn Sách đã để lại cho Tôn Quyền một di sản quân sự và chính trị phong phú. Lúc bấy giờ, nền tảng của nước Ngô đã bước đầu được xác lập, kiểm soát sáu quận ở Giang Đông, bao gồm các vùng thuộc ba châu Dương Châu, Kinh Châu và Giao Châu của triều Hán, trở thành thế lực hùng mạnh nhất tại Giang Đông. Điều này đã đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển và mở rộng thế lực của Tôn Quyền về sau. Về quân sự, Tôn Sách đã bước đầu xây dựng một thể chế quản lý quân đội tương đối độc lập, trong đó quyền thống lĩnh và quyền điều binh được phân định rõ ràng: thống soái nắm quyền điều động toàn cục, còn các tướng lĩnh trực tiếp chỉ huy quân đội dưới quyền. Đồng thời, ông cũng để lại nhiều đại tướng đắc lực như Chu Du, Chu Thái, Hoàng Cái, Trình Phổ… Về hành chính, một cơ cấu quản lý đã được hình thành, với các quan văn phò tá tại trung ương, còn các thành viên tông thất hoặc con em ngoại thích đảm nhiệm việc quân chính ở địa phương. Sau khi lên ngôi, Tôn Quyền kế thừa những di sản mà Tôn Sách để lại nói trên, rồi trên nền tảng đó không ngừng củng cố và mở rộng thế lực, cuối cùng lập nên những công tích lịch sử vẻ vang của riêng mình.

Khi tiếp quản Giang Đông, Tôn Quyền mới 18 tuổi, cục diện vẫn còn khá bất ổn. Đắm chìm trong nỗi đau mất anh, ông ngày đêm khóc thương. Sau khi nghe theo lời khuyên của đại thần Trương Chiêu, Tôn Quyền dần vượt qua bi thương, bắt đầu xử lý chính sự, thị sát quân đội, củng cố lòng quân, khiến “Chúng tâm tri hữu sở quy”, tạm dịch là mọi người đều biết mình đã có người để nương tựa và quy phục. Lúc bấy giờ, Tôn Quyền có hai điều kiện thuận lợi. Thứ nhất, nội bộ Giang Đông quy tụ rất nhiều nhân tài. Với nguyên tắc dùng người “Cử hiền nhâm năng, các tẫn kỳ tâm”, tạm dịch là đề cử người hiền người có năng lực, để mỗi người đều có thể tận tâm cống hiến”, ông không ngừng phát hiện, trọng dụng và đề bạt những người có tài để phục vụ quốc gia trong suốt những năm sau đó. Thứ hai, ba thế lực lớn tiếp giáp với Giang Đông, vốn có khả năng trực tiếp uy hiếp sự tồn vong của vùng này, đều không có điều kiện hoặc không có ý định can dự vào Giang Đông để tranh giành thế lực với Tôn Quyền. Khi ấy, Tào Tháo đang dốc toàn lực tranh đoạt miền Bắc với Viên Thiệu; còn Lưu Biểu thì tập trung đối phó nguy cơ Tào Tháo Nam tiến, đồng thời đề phòng Lưu Bị ngày càng lớn mạnh. Vì vậy, đối với Tôn Quyền, Lưu Biểu chỉ giao cho Hoàng Tổ, Thái thú quận Giang Hạ, nhiệm vụ đề phòng và kiềm chế. Do đó, những vấn đề chủ yếu mà Tôn Quyền phải đối mặt khi mới lên nắm quyền là thanh trừng những kẻ không thần phục trong nội bộ và bình định các cuộc nổi dậy của người Sơn Việt.

Tôn Quyền lần lượt thanh trừng những người hai lòng, gồm Lý Thuật, Thái thú quận Lư Giang; Tôn Phụ, Thái thú quận Lư Lăng, người bí mật qua lại với Tào Tháo; cùng Thịnh Hiến, nguyên Thái thú quận Ngô và một số người khác. Đồng thời, ông cũng nhận thức rõ rằng các cuộc nổi dậy của người Sơn Việt có thể đe dọa nghiêm trọng, thậm chí làm sụp đổ nền thống trị của Giang Đông. Vì vậy, Tôn Quyền cử các tướng lĩnh chia nhau tiến hành bình định và chiêu an các bộ tộc Sơn Việt, trấn áp những kẻ nổi loạn, qua đó bảo đảm hậu phương được ổn định và vững chắc.

Thuật ngữ “Sơn Việt” xuất hiện sớm nhất trong “Hậu Hán thư – Linh Đế kỷ”. Họ sinh sống tại những vùng núi cao, rừng rậm ở phía Nam tỉnh An Huy, Chiết Giang, Phúc Kiến và các khu vực lân cận. Theo sử sách ghi chép, người Sơn Việt có vóc người thấp, khuôn mặt ngắn, râu tóc thưa, mũi bè, mắt tròn và to. Họ có tập quán sinh sống gần sông nước, giỏi bơi lội, thiện nghệ chèo thuyền và đi bè, đồng thời còn duy trì tục cắt tóc, xăm mình.

Vào cuối thời Đông Hán, khi Tôn Sách tiến hành khai phá và mở rộng thế lực ở Giang Đông, nhiều dân thường và hào tộc địa phương vì khiếp sợ uy danh của ông nên trước khi quân Tôn Sách kéo đến đã bỏ chạy vào vùng núi sâu. Để tự bảo vệ mình, những người Hán này dần hòa nhập với người Sơn Việt, hình thành các tổ chức quân sự và cộng đồng riêng, không chịu lao dịch, không nộp thuế, sống tự cung tự cấp. Khi bình thường họ là dân, nhưng khi có biến thì trở thành binh lính. Họ thường lợi dụng địa thế hiểm trở để “tập hợp lực lượng đánh chiếm quận huyện, giết hại và cướp bóc quan lại cùng các hào cường địa phương”. Tôn Sách từng nhiều lần giao chiến với người Sơn Việt. Cuối năm Kiến An thứ ba (năm 198), Viên Thuật bí mật xúi giục thủ lĩnh Sơn Việt là Tổ Lang chống lại Tôn Sách. Khi Tôn Quyền theo Tôn Sách chinh phạt các bộ tộc Sơn Việt ở sáu huyện phía Tây huyện Kính, trong lúc đóng quân tại Tuyên Thành, ông bất ngờ bị quân Sơn Việt tập kích. Lúc ấy, đao của địch đã kề sát cổ Tôn Quyền. Nếu không có đại tướng Chu Thái liều chết xông vào cứu giúp thì Tôn Quyền đã khó có thể giữ mạng.

Năm Kiến An thứ năm (năm 200), khi Tôn Sách dự định bất ngờ tập kích Hứa Đô – kinh đô của Tào Ngụy, thì người Sơn Việt thừa cơ nổi dậy. Tôn Sách đành phải ưu tiên việc dẹp yên cuộc nổi loạn. Sau khi Tôn Quyền lên kế vị, ông tiếp tục phái quân đi bình định Sơn Việt. Tuy nhiên, năm 203, trong lần đầu tiên Tôn Quyền đem quân tây chinh đánh Hoàng Tổ, Thái thú Giang Hạ, khi chỉ còn bước cuối là công thành thì người Sơn Việt ở Dương Châu hậu phương lại nhân cơ hội nổi loạn. Khiến chiến dịch của Tôn Quyền thất bại trong gang tấc, buộc ông phải rút quân trở về để thảo phạt Sơn Việt.

Sau đó, người Sơn Việt thường xuyên nổi dậy mỗi khi Tôn Quyền giao chiến với Tào Ngụy và các thế lực khác. Tôn Quyền nhiều lần phái quân đi chinh phạt, ép một lượng lớn người Sơn Việt phải rời núi xuống đồng bằng. Những thanh niên trai tráng được biên chế vào quân đội, còn những người khác được đưa vào hộ tịch quốc gia, trở thành thần dân có nghĩa vụ nộp thuế và phục dịch cho nhà nước. Theo “Tam Quốc Ngô binh khảo”, “Sau khi Tôn Quyền kế vị, số binh lính người Sơn Việt mà ông thu nhận trước sau không dưới 130.000 người”. Việc người Sơn Việt xuống núi không chỉ giúp Đông Ngô mở rộng nguồn binh lực và nguồn thu thuế, gia tăng diện tích đất đai, ổn định hậu phương, mà quá trình họ hòa nhập với người Hán còn góp phần thúc đẩy công cuộc khai phá và phát triển vùng Giang Nam.

Ngoài việc bình định người Sơn Việt, từ năm 203 đến năm 208, Tôn Quyền còn ba lần tiến đánh Hoàng Tổ, Thái thú Giang Hạ, và thu phục được danh tướng Cam Ninh. Tôn Quyền hết sức coi trọng Cam Ninh, đối đãi với ông ngang hàng với các lão thần vốn đã theo phò từ trước. Chính nhờ lắng nghe kiến nghị của Cam Ninh mà trong lần tây chinh thứ ba, Tôn Quyền đã bắt được Hoàng Tổ. Sau đó, khi Cam Ninh đứng ra xin tha cho Tô Phi, Đô đốc Giang Hạ bị bắt làm tù binh, Tôn Quyền cũng thuận theo lời thỉnh cầu và tha mạng cho ông. Điều này một lần nữa thể hiện nghệ thuật dùng người và tấm lòng rộng lượng của Tôn Quyền.

Liên kết với Lưu Bị chống Tào, đại thắng Xích Bích

Sau khi thống nhất miền Bắc, Tào Tháo quyết tâm hoàn thành đại nghiệp thống nhất thiên hạ. Năm Kiến An thứ mười ba (năm 208), ông thống lĩnh đại quân tiến xuống phía Nam, với ý đồ chiếm Kinh Châu do Lưu Biểu kiểm soát, rồi thừa thắng tiến quân đánh Giang Đông, tiêu diệt Tôn Quyền. Khi đại quân Tào Tháo còn chưa tới Kinh Châu, Lưu Biểu lâm bệnh qua đời, khiến cục diện trở nên hết sức phức tạp. Tôn Quyền bèn cử Lỗ Túc lấy danh nghĩa đến viếng tang để sang Kinh Châu dò xét tình hình. Thế nhưng, trước khi Lỗ Túc đến nơi, con trai của Lưu Biểu là Lưu Tông đã đầu hàng Tào Tháo. Còn Lưu Bị, vốn đang nương nhờ Lưu Biểu, cũng bị quân Tào đánh bại tại Trường Bản, Đương Dương (nay thuộc Đương Dương, tỉnh Hồ Bắc). Giang Đông nguy trong sớm tối.

Lỗ Túc liền đến Đương Dương gặp Lưu Bị và đề xuất chủ trương liên minh Tôn – Lưu cùng chống Tào. Đề nghị này hoàn toàn trùng hợp với chủ trương của quân sư Gia Cát Lượng bên Lưu Bị. Vì vậy, Lưu Bị cử Gia Cát Lượng sang Giang Đông bàn việc liên minh. Sau khi yết kiến Tôn Quyền, Gia Cát Lượng đã phân tích tình hình trước mắt, đồng thời trình bày khả năng cũng như sự cần thiết của việc Tôn – Lưu liên minh chống Tào. Sau đó, Tôn Quyền triệu tập quần thần để bàn bạc việc nên hòa hay nên chiến.

Đúng lúc ấy, Tào Tháo sai sứ giả mang thư đến cho Tôn Quyền. Trong thư viết: “Gần đây ta vâng mệnh triều đình chinh phạt kẻ có tội, cờ mao đã chỉ xuống phương Nam; Lưu Tông đã bó tay quy phục. Nay ta thống lĩnh thủy quân tám mươi vạn, sắp cùng Tướng quân hội săn tại đất Ngô”. Lời lẽ trong bức thư ngầm cho thấy Tào Tháo sẽ đích thân chỉ huy đại quân 80 vạn tiến đánh Đông Ngô. Thanh thế hùng mạnh của Tào Tháo khiến các đại thần Đông Ngô vô cùng khiếp sợ. Họ lần lượt khuyên Tôn Quyền đầu hàng Tào Tháo. Chỉ có Lỗ Túc cùng các võ tướng kiên quyết chủ chiến. Trước tình thế đó, Tôn Quyền vẫn còn do dự, chưa thể quyết định.

Lúc này, Chu Du vừa trở về triều đình đã kiên quyết bác bỏ ý kiến của số đông và đưa ra những phân tích hết sức sắc bén. Ông chỉ rõ rằng quân Tào không giỏi tác chiến trên sông nước; hơn nữa, lúc ấy đang vào mùa đông giá rét, ngựa thiếu cỏ ăn, binh sĩ phải hành quân đường dài nên không quen thủy thổ, tất sẽ sinh bệnh. Đây chính là điều tối kỵ trong việc dụng binh. Chu Du còn nói với Tôn Quyền rằng quân Tào không hề đáng sợ. Chỉ cần giao cho ông năm vạn tinh binh liền có thể đảm bảo chiến thắng. Nghe vậy, Tôn Quyền vô cùng phấn khởi, nói: “Năm vạn tinh binh thì trong thời gian ngắn khó có thể tập hợp đủ. Hiện nay ta đã tuyển chọn được ba vạn quân, xin giao cho khanh cùng Tử Kính và Trình Công đem quân ra nghênh chiến”. Sau đó, Chu Du được bổ nhiệm làm chủ soái kiêm Tá đô đốc, thống lĩnh quân đội ngược dòng Trường Giang tiến về phía Tây, chuẩn bị hội quân với lực lượng của Lưu Bị, cùng nhau đối phó Tào Tháo.

Để thể hiện quyết tâm kháng Tào của mình, Tôn Quyền rút thanh bội đao đeo bên người, vung mạnh chém đứt một góc chiếc bàn trước mặt, rồi lớn tiếng nói: “Kể từ lúc này, bất cứ quan văn quan võ nào còn dám nói đến việc đầu hàng Tào Tháo thì kết cục sẽ giống như chiếc bàn này!”

Sơ đồ minh họa trận Xích Bích. (Ảnh: Tư liệu công cộng)

Dưới sự chỉ huy tài tình của Chu Du, liên quân Tôn – Lưu đã sử dụng chiến thuật hỏa công, đại phá quân Tào trong trận Xích Bích. Quân sĩ và chiến mã của quân Tào bị thiêu chết hoặc chết đuối nhiều không kể xiết. Chiến thắng Xích Bích không chỉ khiến danh tiếng của Chu Du vang dội khắp Tam Quốc, lưu danh thiên cổ, mà còn thể hiện tầm nhìn và quyết sách sáng suốt của Tôn Quyền. Đồng thời, thất bại này cũng khiến Tào Tháo tạm thời không thể tiếp tục tiến xuống phía Nam, tạo nên cục diện thiên hạ chia ba.

Lúc bấy giờ, tuy trên danh nghĩa Kinh Châu thuộc về Tôn Quyền, nhưng trong các quận của Kinh Châu thì bốn quận gồm Vũ Lăng, Trường Sa cùng các vùng lân cận nằm trong tay Lưu Bị; Tào Tháo chiếm giữ hai quận, còn Tôn Quyền cũng kiểm soát hai quận. Xét thấy liên minh Tôn – Lưu có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc cùng chống Tào, Tôn Quyền đã nghe theo lời khuyên của Lỗ Túc và đồng ý với đề nghị của Lưu Bị cho mượn toàn bộ Kinh Châu.

Mở mang bờ cõi, liên kết với Tào đánh Thục

Không lâu sau khi giành thắng lợi trong trận Xích Bích, Chu Du lâm bệnh qua đời. Tôn Quyền vô cùng đau buồn và giao cho Lỗ Túc tiếp nhận chức vụ của Chu Du. Sau đó, Tôn Quyền bắt đầu đẩy mạnh việc mở mang lãnh thổ. Năm 210, ông cử Bộ Chất giữ chức Thứ sử Giao Châu và đem quân tiến xuống phía Nam. Giao Châu khi ấy bao gồm khu vực miền Bắc và miền Trung Việt Nam ngày nay, bán đảo Lôi Châu thuộc tỉnh Quảng Đông và phía Nam tỉnh Quảng Tây. Trước sức ép của quân Đông Ngô, Thái thú Giao Châu là Sĩ Nhiếp cùng phần lớn các thế lực địa phương đều quy phục. Nhờ đó, biên giới của nước Ngô được mở rộng đến Giao Châu.

Năm 211, Tôn Quyền dời trụ sở đến Mạt Lăng. Sang năm sau, ông cho xây dựng thành Thạch Đầu, đổi tên Mạt Lăng thành Kiến Nghiệp (nay là Nam Kinh), đồng thời xây dựng lũy Nhu Tu để đề phòng Tào Tháo xâm lược xuống phía Nam. Mùa xuân năm 213, Tào Tháo đích thân thống lĩnh 40 vạn thủy lục đại quân từ cửa Nhu Tu tiến đánh Giang Đông. Tiếng trống trận, tiếng chiêng vang dội, cờ xí che kín bầu trời, khí thế hoành tráng như cầu vồng.

Tôn Quyền cũng tự mình chỉ huy bảy vạn quân nghênh chiến. Quân ngũ chỉnh tề, trận thế nghiêm mật, phòng thủ cả trên bộ lẫn dưới nước. Trong hơn một tháng hai bên giằng co, Tôn Quyền từng đích thân đi thuyền nhẹ đến do thám doanh trại quân Tào vào ban đêm. Quân Tào đồng loạt bắn tên như mưa, còn Tôn Quyền thì chở đầy tên quay về an toàn. Tình tiết này về sau được “Tam Quốc Diễn Nghĩa” hư cấu và chuyển thành câu chuyện nổi tiếng “Gia Cát Lượng thuyền cỏ mượn tên”. Chứng kiến quân đội Giang Đông hùng mạnh, quân dung nghiêm chỉnh và kỷ luật nghiêm minh, Tào Tháo không khỏi thốt lên: “Sinh con thì phải được như Tôn Trọng Mưu; con của Lưu Cảnh Thăng thì chỉ như lợn chó mà thôi!” Câu nói này đã được lưu truyền thiên cổ. Cũng chính vì nhận thấy thực lực của Đông Ngô không dễ khuất phục, Tào Tháo là người chủ động rút quân trước.

Sau đó, Tôn Quyền đem quân chinh phạt Hoàn Thành, bắt sống Chu Quang, Thái thú quận Lư Giang. Năm 215, sau khi lấy Kinh Châu làm căn cứ để tiếp tục mở rộng thế lực, Lưu Bị đã chiếm được đất Thục. Vì vậy, Tôn Quyền sai Gia Cát Cẩn đến đòi lại Kinh Châu, nhưng Lưu Bị không chấp thuận. Vô cùng tức giận, Tôn Quyền cử Lã Mông làm chủ tướng, liên tiếp đánh chiếm ba quận Trường Sa, Quế Dương và Linh Lăng. Lưu Bị cũng huy động năm vạn quân, khiến đại chiến giữa hai bên chỉ còn trong gang tấc. Tuy nhiên, khi quân Tào tiến đánh Hán Trung, Ích Châu của Lưu Bị đứng trước nguy cơ bị uy hiếp. Trước tình thế đó, Lưu Bị và Tôn Quyền quyết định giảng hòa. Hai bên lấy sông Tương làm ranh giới phân chia đất đai, theo đó Lưu Bị trao cho họ Tôn phần lãnh thổ ở phía Đông các quận Trường Sa, Giang Hạ và Quế Dương.

Ba năm sau, Quan Vũ, tướng trấn giữ Kinh Châu của Lưu Bị, phát động trận Tương Phàn. Lúc bấy giờ, thấy thế lực của Lưu Bị ngày càng lớn mạnh, dần trở thành mối đe dọa đối với mình, Tôn Quyền quyết định xưng thần với Tào Tháo để thiết lập liên minh. Đồng thời, ông cử Lã Mông làm Đô đốc, bất ngờ tập kích chiếm lấy Kinh Châu, bắt và giết Quan Vũ. Năm 219, Tào Tháo dâng biểu lên triều đình, bổ nhiệm Tôn Quyền giữ chức Phiêu Kỵ Tướng quân, đồng thời phong tước Nam Xương hầu cùng các tước vị khác. Biết rõ rằng sau khi giết Quan Vũ, Lưu Bị chắc chắn sẽ không chịu bỏ qua, Tôn Quyền bèn sai người mang thủ cấp của Quan Vũ dâng cho Tào Tháo. Về phần Tào Tháo, ông đã an táng thi hài của Quan Vũ “theo nghi lễ dành cho chư hầu”.

Tháng Giêng năm 220, Tào Tháo lâm bệnh qua đời, con trai là Tào Phi kế vị. Đến tháng Mười cùng năm, Tào Phi phế Hán tự lập làm Hoàng đế, lập quốc hiệu Ngụy, sử gọi là Tào Ngụy. Năm sau, Lưu Bị cũng xưng đế, đặt quốc hiệu là Hán, sử gọi là Thục Hán. Ba tháng sau khi lên ngôi Hoàng đế, để báo thù cho Quan Vũ, Lưu Bị phát binh chinh phạt Tôn Quyền. Tôn Quyền hai lần sai sứ sang Ích Châu cầu hòa nhưng đều không thành. Một mặt, ông bổ nhiệm Lục Tốn, khi ấy 39 tuổi, làm Đại Đô đốc chỉ huy quân đội nghênh chiến Lưu Bị; mặt khác, nhằm tránh rơi vào thế bị Thục Hán và Tào Ngụy hai mặt giáp công, ông cử sứ giả sang xin quy phục nước Ngụy với tư cách chư hầu. Tào Phi bèn ban cho Tôn Quyền Cửu tích (chín loại lễ vật mà Hoàng đế ban tặng), đồng thời sắc phong ông làm Ngô Vương, Đại Tướng quân, kiêm Kinh Châu Mục, trao quyền thống lĩnh mọi quân vụ tại ba châu Kinh, Dương và Giao.

Trong trận Di Lăng diễn ra vào năm sau, Lục Tốn đã không phụ sự kỳ vọng, chỉ huy quân Đông Ngô đại phá 70 vạn quân Thục. Thất bại thảm hại ở Di Lăng khiến Thục Hán, sau khi đã mất Kinh Châu vì Quan Vũ, lại một lần nữa bị tổn hại nghiêm trọng về thực lực. Trong một thời gian ngắn, nước Thục khó có thể tiếp tục tạo thành mối đe dọa với cả Ngụy lẫn Ngô. Tuy nhiên, đối với Đông Ngô, từ đó phải một mình đối mặt với sức ép cả về chính trị lẫn quân sự từ nước Ngụy. Muốn duy trì nền độc lập và tiếp tục phát triển, Tôn Quyền buộc phải tìm cách cân bằng thế lực và thoát khỏi tình thế nguy hiểm. Vì vậy, sau trận Di Lăng, Tôn Quyền chủ động xin lỗi Lưu Bị để hàn gắn quan hệ giữa Ngô và Thục, đồng thời cắt đứt quan hệ với Tào Ngụy, khiến nước Ngụy không dám dễ dàng manh động.

Sở dĩ Tôn Quyền nhiều lần có thể lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều và giúp Đông Ngô luôn giữ vững thế bất bại trong những thời khắc then chốt, chủ yếu là nhờ con mắt nhìn người hết sức tinh tường, biết trọng dụng hiền tài, đồng thời luôn khéo léo lắng nghe và tiếp thu những lời can gián, kiến nghị của quần thần.

Đại chiến với Tào Ngụy, đăng cơ xưng Đế

Năm 223, sau khi Lưu Bị qua đời, các đại thần Đông Ngô khuyên Tôn Quyền lên ngôi Hoàng đế, nhưng ông cho rằng thời cơ vẫn chưa chín muồi. Năm sau (224), Tào Phi cử quân đánh Ngô. Tuy nhiên, đúng vào mùa nước lũ trên sông Trường Giang, nước sông dâng cao khiến quân Ngụy không thể vượt sông, đành phải rút lui. Năm 225, bất chấp lời can gián của đại thần Bào Huân, Tào Phi một lần nữa phát binh chinh phạt Đông Ngô. Thế nhưng, do điều kiện khí hậu bất lợi, cuộc chinh phạt lại kết thúc trong thất bại và quân Ngụy buộc phải rút quân. Trên đường lui binh, Dương Uy Tướng quân của Đông Ngô là Tôn Thiều sai bộ tướng Cao Thọ chỉ huy một đội cảm tử gồm 500 dũng sĩ, lợi dụng màn đêm men theo đường nhỏ, bất ngờ tập kích thẳng vào đại bản doanh trung quân của Tào Phi. Tào Phi kinh hãi, vội vàng bỏ chạy. Cao Thọ thu được xe tùy tùng, lọng lông vũ cùng nhiều nghi trượng và quân nhu của Tào Phi. Sau khi trở về, Tào Phi vì tức giận và hổ thẹn đã kiếm cớ xử tử Bào Huân. Quần thần đều vô cùng thương tiếc và phẫn uất trước cái chết oan của ông: “Không ai là không tiếc thương và căm phẫn cho Bào Huân”.

Sau khi Tào Phi qua đời năm 226, con trai là Tào Duệ lên kế vị. Năm 228, Gia Cát Lượng, Thừa tướng của Thục Hán, phát động cuộc Bắc phạt lần thứ nhất, khiến triều đình và quân dân nước Ngụy chấn động. Tào Duệ đích thân thống lĩnh đại quân tiến đến Trường An, trực tiếp điều động và chỉ huy quân Ngụy ở các vùng Quan Trung, Ung Châu và Lương Châu đối phó với Gia Cát Lượng. Nhân cơ hội ấy, Tôn Quyền sai Chu Phường, Thái thú quận Bà Dương, giả vờ đầu hàng để nhử Tào Hưu, Đại Tư Mã kiêm Dương Châu Mục của nước Ngụy, mắc mưu. Sau khi được Tào Duệ chấp thuận, Tào Hưu dẫn mười vạn quân tiến vào đất An Huy. Tại đây, ông rơi vào trận phục kích do Lục Tốn bố trí và đại bại. Sau thất bại ấy, Tào Hưu vô cùng uất ức, khiến căn bệnh ung nhọt ở lưng phát tác rồi qua đời.

Chiến thắng trong chiến dịch này khiến quần thần một lần nữa khuyên Tôn Quyền lên ngôi Hoàng đế. Lần này, Tôn Quyền đã chấp thuận. Năm 229, Tôn Quyền cử hành lễ tế Giao ở phía Nam thành Vũ Xương, chính thức đăng cơ Hoàng đế và đổi niên hiệu thành Hoàng Long. Ông truy tôn cha mình là Phá Lỗ Tướng quân Tôn Kiên làm Vũ Liệt Hoàng đế, truy tôn mẹ là Ngô phu nhân làm Vũ Liệt Hoàng hậu; truy phong anh trai là Thảo Nghịch Tướng quân Tôn Sách làm Trường Sa Hoàn Vương; đồng thời lập trưởng tử Tôn Đăng làm Hoàng Thái tử. Trong bài văn tế Trời, Tôn Quyền cho rằng: “Thiên ý dĩ khứ vu Hán, Hán thị dĩ tuyệt tự vu thiên, hoàng đế vị hư, Giao tự vô chủ. Hưu trưng gia thụy, tiền hậu tạp đạp, lịch sổ tại cung, bất đắc bất thụ.” Tạm dịch là Thiên mệnh đã rời khỏi nhà Hán, nhà Hán cũng không còn tế Trời, ngôi Hoàng đế để trống, lễ tế Giao không còn ai chủ trì. Những điềm lành và điềm tốt liên tiếp xuất hiện, Thiên mệnh đã đến với ta, nên ta không thể không tiếp nhận”. Trong bài văn này, Tôn Quyền tự xem mình là người kế thừa chính thống của nhà Hán, đồng thời kịch liệt lên án họ Tào vì tội soán ngôi nhà Hán. Tuy nhiên, ông không hề nhắc đến chính quyền Thục Hán dù chỉ một lời.

Ý đồ “cùng tôn hai Đế” của Tôn Quyền cũng được Gia Cát Lượng thấu hiểu. Sau khi thuyết phục quần thần, Gia Cát Lượng cử Vệ úy Trần Chấn sang Vũ Xương chúc mừng Tôn Quyền đăng cơ, đồng thời ký kết với nước Ngô một minh ước chính thức về việc chia nhau thiên hạ. Phương án phân chia lãnh thổ nước Ngụy được quy định như sau: “Khi Trần Chấn đến Vũ Xương, Tôn Quyền cùng Trần Chấn lên đàn làm lễ uống máu ăn thề, giao ước chia thiên hạ: các châu Từ, Dự, U và Thanh thuộc về Ngô; các châu Tịnh, Lương, Ký và Duyện thuộc về Thục; còn đất thuộc Tư Châu thì lấy cửa ải Hàm Cốc làm ranh giới”. Mục tiêu chung của hai nước là “diệt Tào Duệ”. Hai bên còn thề ước: “Kể từ hôm nay, sau khi Hán và Ngô kết minh, sẽ đồng tâm hiệp lực, cùng nhau đánh dẹp giặc Ngụy, cứu nguy giúp nạn, cùng chia sẻ hoạn nạn và vui mừng, cùng chung yêu ghét, tuyệt không phản bội hay ly gián. Nếu có kẻ xâm hại nhà Hán thì Ngô sẽ đem quân đánh; nếu có kẻ xâm hại nước Ngô thì Hán sẽ đem quân đánh. Mỗi bên giữ vững lãnh thổ đã phân định, không được xâm phạm lẫn nhau”.

Bản minh ước này đã được cả hai bên cùng ghi nhận và tuân thủ. Cho đến khi Thục Hán diệt vong năm 263, trong suốt hơn 30 năm, hai bên chưa từng vi phạm cam kết, duy trì hiệu quả thế chân vạc tam quốc.

Không lâu sau khi lên ngôi, Tôn Quyền hạ chiếu dời đô về Kiến Nghiệp và ở đó cho đến khi qua đời hơn 20 năm sau. Từ lúc tiếp quản quyền lực, đến khi chia ba thiên hạ rồi chính thức đăng cơ xưng Đế, Tôn Quyền quả không hổ danh là một bậc hùng chủ một thời. Chẳng trách La Quán Trung trong “Tam Quốc Diễn Nghĩa” đã khắc họa Tôn Quyền rằng: “Tử nhiêm bích nhãn hào anh hùng, năng sử thần liêu khẳng tẫn trung. Nhị thập tứ niên hưng đại nghiệp, long bàn hổ cứ tại Giang Đông”. Tạm dịch là Râu tím mắt xanh xưng anh hùng, Khiến cho quần thần dốc lòng trung. Hai mươi tư năm gầy đại nghiệp, Rồng cuộn hổ ngồi chốn Giang Đông. Còn nhà văn đầu thời Nguyên – Nguyên Hảo Vấn – lại khiến lòng người hướng về với câu thơ: “Tôn lang kiểu kiểu nhân trung long, cố phán sất trá sinh vân phong”. Tạm dịch là Tôn Lang sừng sững rồng trong trần thế, Mắt dõi tiếng hô động đến mây phong.

(Còn tiếp)

Dịch từ:

https://www.epochtimes.com/b5/16/5/7/n7870446.htm