Tác giả: Lý Dực Vân
[ChanhKien.org]
Chu Du. (Ảnh tổng hợp: Thiên Ngoại Khách/The Epoch Times)
Thấy Chu Du cầm quân điềm tĩnh, nghiêm cẩn, nắm bắt chuẩn xác trình độ giữa hai nước, tiến lui đều không sai lệch mảy may, Lưu Bị trong lòng vô cùng kinh ngạc và hết sức khâm phục.
Tháng Chạp năm Kiến An thứ mười ba (năm 208), Tào Tháo thống lĩnh hơn 10 vạn đại quân, theo dòng Trường Giang cuồn cuộn tiến xuống, thanh thế vô cùng hùng hậu. Trong thời khắc ấy, liên quân Tôn – Lưu ở phía Đông Trường Giang dốc toàn lực nghênh chiến, hết sức cẩn trọng và đề cao cảnh giác, không dám lơ là dù chỉ một chút.
Chu Du và Lưu Bị
Sau khi Tôn Quyền quyết định kế sách kháng Tào, Chu Du dẫn ba vạn đại quân, đi thuyền theo sông tiến về phía Tây. Lưu Bị đang đóng quân tại Phàn Khẩu chờ tin tức, khi nhìn thấy đại quân xuất hiện trên mặt sông, cuối cùng cũng thở phào nhẹ nhõm.
Lưu Bị sai người mời Chu Du lên bờ gặp mặt, muốn khoản đãi và hội kiến ông một phen, nhưng Chu Du dứt khoát từ chối: “Ta đang gánh vác trọng trách quân sự, không thể tự ý rời vị trí để đến đó. Nếu ngài có thể hạ mình đến đây, thì mới đáp ứng được mong muốn của ngài”.
Lưu Bị bèn nói với Quan Vũ và Trương Phi: “Chu Du muốn ta lên thuyền gặp ông ấy. Nay ta đã kết minh với Ngô hầu, nếu không đi gặp Chu Du thì sẽ không hợp với lễ nghi mà một đồng minh nên có”. Nói rồi, Lưu Bị lên một chiếc thuyền nhỏ, đích thân đến gặp Chu Du.
Lưu Bị hỏi Chu Du: “Hiện nay chúng ta đang đối đầu với Tào Tháo, nhất thiết phải vạch kế hoạch thật chu toàn. Ngài có bao nhiêu binh sĩ?” Chu Du đáp: “Ba vạn”. Lưu Bị nói: “Ít quá!” Chu Du liền đáp: “Chừng ấy là đủ rồi. Ngài cứ chờ xem ta đại phá quân Tào!”
Lưu Bị muốn mời Lỗ Túc cùng bàn bạc, nhưng Chu Du không chút do dự: “Ta đã nhận mệnh lệnh, không được tự tiện quyết định mọi việc. Tử Kính cũng đang mang quân vụ trong người. Nếu ngài muốn gặp Tử Kính, có thể ra ngoài bái kiến ông ấy”. [1]
Thấy Chu Du trị quân điềm tĩnh, nghiêm cẩn, nắm bắt chuẩn xác chừng mực trong quan hệ giữa hai nước, tiến hay lui đều không sai lệch mảy may, Lưu Bị trong lòng vô cùng kinh ngạc và hết sức khâm phục. Vì thế, Lưu Bị cuối cùng cũng hạ quyết tâm, cùng Chu Du hợp sức chống lại quân Tào.
Tấm lòng rộng lượng, điều binh khiển tướng
Để nghênh chiến Tào Tháo, ngoài vấn đề binh lực, chiến lược và việc phối hợp với Lưu Bị, thử thách lớn nhất của Chu Du có lẽ là làm thế nào để thống lĩnh và điều phối đông đảo tướng lĩnh cả mới lẫn cũ.
Tham gia vào trận đại chiến mang tính thế kỷ này có không ít lão tướng từ thời Tôn Kiên như Hoàng Cái, Trình Phổ, Hàn Đương; cùng với những dũng tướng thời Tôn Sách như Lăng Thống, Chu Thái, Lã Phạm… Ngoài ra, còn có những danh tướng gia nhập sau này như Cam Ninh, Lã Mông và những người khác.
Trong phần giới thiệu về di tích cổ chiến trường Tam Quốc “Vọng Giang Đình”, có kể lại một tình tiết thú vị, miêu tả cách Chu Du dùng thái độ khéo léo và hài hước để mời lão tướng Hoàng Cái ra giúp mình một tay.
Hoàng Cái là bậc nguyên lão ba triều của Đông Ngô. Từ thuở đầu, ông đã theo Tôn Kiên chinh chiến khắp nơi, lập nên công lao hiển hách cho cơ nghiệp họ Tôn. Tương truyền, trước trận Xích Bích, Chu Du hẹn Hoàng Cái cùng chơi cờ. Mỗi lần chơi, Chu Du đều cố ý đẩy các quân “tốt” ra phía trước để Hoàng Cái lần lượt ăn hết. Hoàng Cái vô cùng ngạc nhiên, Chu Du bèn bất đắc dĩ nói: “Ta không có ‘tướng’ để dùng nữa!” Hoàng Cái lập tức hiểu ý, liền nhanh chóng tự tiến cử mình, xin tham gia vào hàng ngũ trong đại chiến.
Trong số các lão tướng này, Trình Phổ là người lớn tuổi nhất. Tính ông hào hiệp, thích làm việc thiện và kết giao với các sĩ đại phu. Thế nhưng, đối với Chu Du – một người ôn hòa, nho nhã, lại giỏi thống lĩnh và chinh chiến – ông lại tỏ ra kiêu ngạo, thường có những lời nói và hành động mang tính coi thường, hiếp đáp. Tuy nhiên, Chu Du đều không để tâm, không hề đặt những việc ấy trong lòng.
Giao chiến tại Xích Bích
Tháng Chạp năm Kiến An thứ mười ba (năm 208), đại quân của Tào Tháo theo dòng Trường Giang tiến xuống phía Đông. Không ngờ, vừa đến Ba Khâu thì đã có một lượng lớn binh sĩ mắc bệnh dịch. Đội quân vốn không quen sông nước tiếp tục đi thuyền dọc theo Trường Giang đến Xích Bích. Ở phía bên kia, Chu Du đang thống lĩnh ba vạn thủy quân, còn Lưu Bị dẫn theo hai nghìn tinh binh, hội hợp với đại quân một vạn người của Quan Vũ và Trương Phi, cuồn cuộn kéo đến.
Không ngờ, vừa mới giao chiến, quân Tào đã thất bại và phải rút lui về Ô Lâm ở bờ Bắc. Quân của Chu Du thì đóng giữ tại Xích Bích ở bờ Nam. Chu Du và Lưu Bị lập doanh trại ở bờ Nam, đối đầu với quân Tào. Lúc này, Hoàng Cái nhận thấy chiến thuyền của Tào Tháo đều tiếp giáp nối đuôi nhau từ đầu đến cuối, liền đề nghị sử dụng kế hỏa công.
Tranh minh họa hồi thứ 48 của tác phẩm “Tam Quốc Diễn Nghĩa” do Kim Hiệp Trung vẽ màu: Khóa chiến thuyền quân Bắc dụng võ. (Ảnh: Tư liệu công cộng)
Vì thế, Chu Du điều động mấy chục chiến thuyền, chất đầy cỏ khô đã được tẩm dầu mỡ, bên ngoài dùng vải che phủ. Ông còn chuẩn bị một số thuyền nhỏ nhẹ và nhanh để dùng cho tấn công, buộc chúng ở phía sau các thuyền lớn. Đồng thời, Hoàng Cái sai người mang thư đến cho Tào Tháo, giả xưng rằng muốn dùng thuyền chở lương để đầu hàng. Hoàng Cái cho cắm trên thuyền những lá cờ hiệu đã hẹn trước với Tào Tháo, rồi cả đoàn thuyền theo thứ tự tiến về phía trước.
Ban đầu, tướng sĩ trong quân Tào đều cho rằng đó là đoàn thuyền đến đầu hàng, nhiều binh lính còn đứng trên chiến hạm chỉ trỏ, bàn tán. Khi còn cách khoảng 200 thước, Hoàng Cái ra lệnh tách những chiếc thuyền nhỏ chở binh sĩ ra, rồi đồng thời châm lửa đốt mười chiếc thuyền lớn và cho chúng lao thẳng về phía trước. Những con thuyền lửa ấy xông thẳng vào thủy quân của Tào Tháo.
Đúng lúc đó, từ phía Đông Nam bỗng nổi lên một trận cuồng phong, khiến ngọn lửa nhanh chóng lan rộng, thậm chí còn thiêu cháy cả doanh trại trên bờ. Người ngựa của quân Tào rất nhiều đều bị thiêu chết hoặc chết đuối dưới nước. [2]
Lúc ấy, Chu Du dẫn các tướng lĩnh tinh nhuệ thừa thế xông lên, tiếng trống trận vang dội không ngớt. Mặt sông trong chốc lát biến thành một biển lửa, ánh lửa đỏ rực soi hồng cả vách núi ven sông. Quân Tào đại bại.
Mục “Chu Công Cẩn chiến trận ác liệt tại Xích Bích” trong tác phẩm “Tân san hiệu chính cổ bản đại tự âm thích Tam Quốc Chí thông tục diễn nghĩa” (Bản in của nhà in Chu Viết Hiệu tại Thư Lâm, năm Vạn Lịch thứ 19 thời nhà Minh). (Ảnh: Tư liệu công cộng)
Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, phần giả hàng được xây dựng và tô đậm bằng rất nhiều tình tiết, như Hoàng Cái khéo dùng khổ nhục kế, lợi dụng Thái Mạo để thực hiện kế phản gián, rồi sai Khám Trạch đi đưa thư đầu hàng, khéo léo lừa gạt Tào Tháo… Tuy nhiên, khi đối chiếu với Tam Quốc Chí, sẽ phát hiện rằng những tình tiết ấy đều là lời hư cấu của tiểu thuyết gia, hoàn toàn không có thật.
Vậy vì sao Tào Tháo lại tin rằng Hoàng Cái đầu hàng? Lịch sử không để lại câu trả lời rõ ràng. Thế nhưng, nếu xem xét kỹ, trước đó Tào Tháo cũng từng tiếp nhận sự đầu hàng của Trương Tú, Hứa Du, Viên Đàm, Cao Cán, Lưu Tông và nhiều người khác, mà chưa từng sinh nghi. So sánh như vậy, trái lại người ta sẽ cảm thấy rằng Tam Quốc Diễn Nghĩa thực sự đã tận lực cài cắm quá nhiều tâm niệm gian trá và xảo quyệt vào trong câu chuyện!
Hoa Dung đạo
Thấy cục diện thất bại đã không thể vãn hồi, Tào Tháo lập tức tự đốt số thuyền còn lại rồi theo đường Hoa Dung rút lui về Giang Lăng. Nhưng đúng lúc ấy, trên đường bùn lầy ngập lối, gió lại thổi mạnh, hoàn toàn không thể đi lại được. Ông đành ra lệnh cho binh lính cõng rơm rạ trải lên đường bùn, miễn cưỡng tạo lối cho ngựa đi qua.
Quân Lưu Bị, phụ trách tác chiến trên bộ, vì không kịp đuổi theo nên đành bỏ cuộc.
Theo ghi chép trong “Hồ Bắc thông chí”, sau chiến thắng, Chu Du mở tiệc rượu mừng công. Ông rút kiếm múa, vừa múa vừa cất tiếng ca:
Lâm Xích Bích hề, bại Tào Công, an Hán thất hề, định Giang Đông, thử sơn thủy hề, thiên cổ tụng, khắc nhị tự hề, kỷ chiến công.
Tạm dịch:
Đến bên Xích Bích này, đánh bại Tào Công;
Yên định nhà Hán, ổn định Giang Đông.
Non nước nơi đây, muôn đời ca tụng;
Khắc hai chữ này, ghi nhớ chiến công.
Hát xong, Chu Du cầm kiếm khắc sâu lên vách đá cheo leo hai chữ “Xích Bích”. Cho đến nay, trên vách đá Xích Bích vẫn còn lưu lại hai chữ “Xích Bích” ấy, nét bút mạnh mẽ như bàn tay lớn của Thần viết nên, khí thế như vạn quân.
Khi đến chơi nơi đây, nhà thơ đời Đường là Lý Bạch đã hoài niệm chuyện xưa, để lại những câu thơ nổi tiếng:
Nhị long tranh chiến quyết thư hùng,
Xích Bích lâu thuyền tảo địa không.
Liệt hỏa trương thiên chiếu vân hải,
Chu Du ư thử phá Tào Công.
Dịch thơ:
Hai rồng giao chiến quyết thư hùng,
Xích Bích thuyền lầu đất sạch không.
Lửa dữ xông trời chiếu mây biển,
Chu Du nơi ấy phá Tào Công.
(Bản dịch của mailang – thivien.net)
Công thần Hoàng Cái
Hoàng Cái đã phát huy hiệu quả thần kỳ của kế hỏa công trong trận đại chiến này. Tuy nhiên, giữa lúc hỗn chiến, ông từng bị một mũi tên lạc bắn trúng và rơi xuống dòng sông lạnh giá. Sau đó, ông được quân Ngô cứu lên bờ, nhưng không ai nhận ra Hoàng Cái, nên đã tùy tiện đặt ông lên chiếc chậu trong nhà xí.
Hoàng Cái lạnh đến mức run lẩy bẩy. Mãi mới gắng hết sức gọi được tên của Hàn Đương. Vừa nghe thấy, Hàn Đương lập tức nhận ra đó là giọng của Hoàng Cái. Nhìn thấy Hoàng Cái trong bộ dạng thảm hại, ông không khỏi rơi nước mắt, vội vàng thay cho Hoàng Cái quần áo khô ráo, ấm áp, nhờ vậy mới cứu được tính mạng của ông. [4]
Sau chiến thắng, Tôn Quyền luận công ban thưởng, đem hồ Thái Bình – nơi Hoàng Cái từng luyện quân ban cho ông, đồng thời đổi tên hồ thành “Hồ Hoàng Cái”. Tên gọi này vẫn được sử dụng cho đến ngày nay. [5]
Thực ra, khi trận Xích Bích đang diễn ra, Tôn Quyền ở hậu phương cũng đồng thời phát binh hưởng ứng trên chiến trường phía Đông. Ông đích thân dẫn quân vây đánh Hợp Phì, đồng thời còn sai Trương Chiêu tấn công Cửu Giang, khiến Tào Tháo phải lo lắng về hậu phương của mình. Tôn Quyền vây công Hợp Phì hơn một tháng, mãi đến khi nghe tin Tào Tháo phái Trương Hỷ dẫn quân đến cứu viện Hợp Phì mới rút quân.
Việc Tào Tháo – người nổi tiếng giỏi dụng binh và khéo vận dụng kỳ mưu lại đại bại trong trận Xích Bích quả thực hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của mọi người. Suy xét kỹ, vào thời điểm đó đã có quá nhiều yếu tố “trùng hợp” góp phần tạo nên kết cục của trận đại chiến này. Đúng như Bùi Tùng Chi đã nói: “Khi ấy bùng phát một trận dịch lớn, khiến quân Tào tổn thất nặng nề về binh lực; lại thêm lúc ấy gió Nam nổi lên, thế gió thuận lợi cho việc dùng hỏa công. Tất cả đều là những nhân tố bất khả kháng. Đó là ý Trời như vậy, không phải sức người có thể làm được”. [6]
Trận chiến Giang Lăng
Sau khi giành thắng lợi tại Xích Bích, Chu Du và Trình Phổ lập tức tiến quân đến Giang Lăng, mưu tính nhân đà chiến thắng để một lần tiến vào phương Bắc. Lúc này, Lưu Bị đề nghị cùng Chu Du hợp sức tấn công Giang Lăng. Ông xin Chu Du cấp cho mình hai ngàn quân để từ phía sau đánh úp Tào Nhân, tạo áp lực lên quân Tào. Đồng thời, Lưu Bị cũng nguyện cho mượn dũng tướng Trương Phi đi cùng Chu Du công thành, nhưng lại đề nghị Chu Du cấp thêm cho Trương Phi một ngàn quân. Tính đi tính lại, Chu Du phải điều cho phía Lưu Bị ba ngàn quân. Tuy nhiên, Chu Du không hề nghi ngờ gì, vẫn hào hiệp chấp thuận.
Thế nhưng, Tào Nhân là người khí phách anh dũng. Mặc dù quân trú thủ trong thành Giang Lăng không nhiều, ông vẫn liều mình chống cự một cách ngoan cường, quả thực là một đối thủ đáng kính. Hai bên giằng co, đối đầu nhau suốt gần một năm.
Trong thời gian ấy, Chu Du áp dụng kiến nghị của Cam Ninh, trước tiên đánh chiếm Di Lăng ở phía Tây, rồi mới tiến đánh thành Giang Lăng. Không ngờ, quân Ngô lại bị quân Tào bao vây. Vì thế, Chu Du tiếp tục tiếp nhận kế sách của Lã Mông, để Lăng Thống ở lại vây hãm thành Giang Lăng, còn bản thân thì đích thân dẫn một nửa binh lực cấp tốc đi cứu Cam Ninh.
Chu Du khéo léo thi triển diệu kế. Ông trước tiên phái ba trăm quân dùng những thân cây lớn chặn kín con đường núi hiểm trở. Khi quân Tào không địch nổi thế đánh của đại quân Chu Du và tháo chạy lên đường núi, liền gặp phải chướng ngại bằng gỗ, đành phải bỏ ngựa để chạy thoát thân. Nhờ vậy, quân của Chu Du thuận lợi thu được toàn bộ chiến mã của đối phương, giành thắng lợi lớn.
Tuy nhiên, trong trận chiến này, Chu Du đích thân cưỡi ngựa xung trận và bị một mũi tên bắn trúng ngực phải, thương thế hết sức nghiêm trọng, đành phải lui quân. Nghe tin Chu Du nằm liệt trên giường vì vết thương, Tào Nhân lại quay quân trở lại tấn công. Chu Du bèn cố nén đau đớn, lên ngựa đi tuần khắp doanh trại để khích lệ sĩ khí, lúc ấy Tào Nhân mới chịu rút quân.
Trận chiến Giang Lăng vô cùng gian khổ. Trong suốt quá trình ấy, Trình Phổ còn nhiều lần tranh cãi kịch liệt với Chu Du. Giữa lúc chiến sự cấp bách, Chu Du, dù phải đối mặt với sự lấn lướt và thái độ gay gắt của Trình Phổ, vẫn luôn khiêm nhường, lễ độ, đáp lại một cách ôn hòa, không hề phát sinh xung đột với ông ta.
Sau sự việc ấy, Trình Phổ cuối cùng cũng tỉnh ngộ, tự suy ngẫm về sự nhẫn nhịn và lòng bao dung mà Chu Du đã nhiều lần dành cho mình, không khỏi cảm động sâu sắc. Về sau, ông nói với mọi người: “Kết giao với Chu Công Cẩn cũng giống như uống một thứ rượu ngon thơm ngát; uống mãi, uống mãi, bất giác đã say tự lúc nào”. [7]
Người đương thời, khi chứng kiến phong thái ung dung, độ lượng cùng tấm lòng rộng lớn như biển cả của Chu Du, đều không khỏi tự thẹn không bằng.
(Còn tiếp)
Chú thích:
[1] “Tam quốc chí ‧ Tiên chủ truyện” dẫn Giang biểu truyện chép rằng:
Lưu Bị nghe theo kế của Lỗ Túc, tiến quân đến đóng ở cửa Phàn Khẩu thuộc huyện Ngạc. Lúc bấy giờ Gia Cát Lượng đi sứ sang bên Ngô vẫn chưa về. Lưu Bị nghe tin quân của Tào Công (Tào Tháo) đang xuôi dòng xuống phía Nam thì vô cùng lo sợ, ngày ngày phái quân tuần tra ra bờ sông ngóng đợi quân của Tôn Quyền. Khi quân lính nhìn thấy thuyền của Chu Du liền phi ngựa về báo với Lưu Bị. Lưu Bị hỏi: “Sao ngươi biết đó không phải là quân Thanh Châu, Từ Châu (quân Tào Tháo)?” Lính thưa: “Dựa vào kiểu thuyền mà biết ạ”. Lưu Bị bèn sai người đến đón tiếp, úy lạo. Chu Du nói: “Thân mang quân vụ, không thể rời vị trí được. Nếu ngài có thể hạ cố đến đây, thì mới được như ngài mong mỏi”. Lưu Bị nói với Quan Vũ, Trương Phi rằng: “Người ta muốn mời ta đến. Nay ta tự mình đến kết minh với Đông Ngô, nếu không đi thì không phải là ý đồng minh”. Bèn tự mình đi một chiếc thuyền nhỏ đến gặp Chu Du, hỏi rằng: “Nay kháng cự Tào Công, phải có kế hoạch chu toàn. Song binh lính có được bao nhiêu?” Chu Du đáp: “Ba vạn người”. Lưu Bị nói: “Tiếc là hơi ít”. Chu Du liền bảo: “Số này tự khắc đủ dùng, Dự Châu (Lưu Bị) hãy cứ xem Chu Du ta phá giặc”. Lưu Bị muốn gọi bọn Lỗ Túc cùng ra hội kiến bàn bạc, Chu Du lại nói: “Thừa mệnh lệnh không được tùy tiện rời vị trí, nếu ngài muốn gặp Tử Kính (Lỗ Túc), có thể ghé qua chỗ khác tìm gặp. Ngoài ra, Khổng Minh cũng đã đi cùng với họ, chỉ hai ba ngày nữa là tới nơi”. Lưu Bị tuy trong lòng vô cùng kính nể và kinh ngạc trước khí phách của Chu Du, nhưng thâm tâm vẫn chưa tin chắc Chu Du có thể phá nổi quân phương Bắc. Vì vậy, ông vẫn ngập ngừng đi sau, chỉ đem hai ngàn quân đi cùng Quan Vũ, Trương Phi, không chịu sáp nhập hay phụ thuộc hoàn toàn vào Chu Du, ấy là để chừa cho mình một đường lui vậy.
[2] “Tam quốc chí – Ngô thư – Chu Du truyện” chép rằng:
Bộ tướng của Chu Du là Hoàng Cái nói: “Nay địch đông ta ít, khó lòng cầm cự lâu dài. Nhưng xem ra thuyền hạm của quân Tào Tháo tiếp giáp nối nhau từ đầu đến đuôi, có thể dùng kế hỏa công để khiến chúng phải tháo chạy”. Bèn lấy vài chục chiếc chiến thuyền lớn loại Mông Xung và Đấu Kèm, chất đầy củi cỏ bên trong, tưới thêm dầu mỡ rồi dùng vải màn che bọc kín lại, bên trên cắm cờ nha môn (cờ lệnh). Trước đó, Hoàng Cái đã gửi thư báo cho Tào Công, giả vờ rằng mình muốn đến hàng. Lại chuẩn bị thêm các thuyền nhỏ chạy nhanh (tẩu khả) buộc sẵn sau đuôi các thuyền lớn, rồi theo thứ tự tiến lên phía trước. Binh lính, tướng sĩ của quân Tào Công đều nghểnh cổ ngóng nhìn, chỉ trỏ bảo nhau rằng Hoàng Cái đến hàng. Hoàng Cái bèn cho phóng các thuyền đi, cùng lúc nổi lửa. Bấy giờ gió thổi rất mạnh, lửa lan sang thiêu rụi cả các doanh trại trên bờ. Trong chốc lát, khói lửa ngút trời, người và ngựa chết cháy, chết đuối nhiều vô kể. Quân Tào thế là đại bại, phải lui về giữ Nam Quận. “Giang biểu truyện” chép thêm rằng: Đến ngày quyết chiến, Hoàng Cái lựa trước 10 chiếc chiến thuyền nhẹ và nhanh, chất đầy cỏ bồng khô và củi mục vào trong, tưới dầu cá lên trên rồi lấy màn đỏ phủ kín lại, trên thuyền cắm tinh kỳ và cờ rồng. Lúc ấy gió Đông Nam thổi gấp, bèn cho 10 chiếc thuyền này dẫn quân đầu hàng, ra giữa sông căng buồm lên. Hoàng Cái cho đốt lửa ra hiệu cho các trại, lệnh cho binh lính đồng thanh hét lớn: “Hàng đây!”. Quân Tào Tháo đều ra khỏi doanh trại đứng xem. Khi cách quân phương Bắc hơn hai dặm, các thuyền đồng loạt nổi lửa. Lửa dữ gặp gió mạnh, thuyền lao đi nhanh như tên bắn, tàn lửa bay mù mịt, thiêu rụi hoàn toàn chiến thuyền phương Bắc rồi lan sang cả các doanh trại gỗ trên bờ. Chu Du cùng các tướng dẫn quân tinh nhuệ, gọn nhẹ tiếp ứng ngay phía sau, trống trận đánh vang rền như sấm, thúc quân tiến lên. Quân phương Bắc tan vỡ, Tào Công phải tháo chạy. Lưu Bị cùng Chu Du lại hợp lực đuổi theo. Tào Công để bọn Cao Nhân ở lại giữ thành Giang Lăng, còn mình thì về thẳng phương Bắc.
[3] Blog: Đi tìm Tam Quốc
Vọng Giang Đình (Lầu ngắm sông) nằm trên đỉnh núi Xích Bích, thuộc khu di tích chiến trường cổ Xích Bích Tam Quốc. Đứng từ trong đình, phóng tầm mắt nhìn sang bờ bên kia sông Trường Giang, người ta có thể nhìn thấy ngay trại Ô Lâm — nơi năm xưa 26 vạn đại quân của Tào Tháo từng bày trại trú đóng. Núi Xích Bích giống như một thanh bảo kiếm đâm thẳng vào lòng sông, chính là vị trí đắc địa nhất để quan sát doanh trại quân Tào. Nơi đây lùi có thể thủ, tiến có thể công, đã giúp cho liên quân Tôn – Lưu chiếm trọn lợi thế tuyệt đối về địa hình trong trận đại chiến Xích Bích năm ấy. Vọng Giang Đình được cho là nơi năm xưa Hoàng Cái đứng quan sát trại Tào. Hoàng Cái là nguyên lão tam triều của Đông Ngô, từ thời trẻ đã theo Tôn Kiên đi đánh thiên hạ, lập nên bao công lao hiển hách cho sự nghiệp xây dựng cơ đồ của nhà họ Tôn. Ở Đông Ngô, ai ai cũng kính trọng ông. Tương truyền, trong trận Xích Bích, Chu Du có hẹn Hoàng Cái cùng đánh cờ. Mỗi khi Chu Du đi một nước cờ liền bị Hoàng Cái ăn mất một quân, Hoàng Cái vô cùng kinh ngạc. Chu Du bèn giả vờ bất lực nói: “Ta không có tướng để dùng nữa rồi.” Hoàng Cái hiểu ý, liền tự tiến cử mình. Thế là, trong trận đại chiến Xích Bích, Hoàng Cái quả nhiên không phụ sự kỳ vọng của mọi người, một mồi lửa phóng ra đã thiêu rụi quân Tào đến mức trời đất mù mịt, khiến Tào Tháo phải hoảng hốt tháo chạy. Trận hỏa công lịch sử này chính là bước đi then chốt mang lại thắng lợi cuối cùng cho liên quân Tôn – Lưu. Sau này khi luận công ban thưởng, Tôn Quyền đã ban hồ Thái Bình — nơi Hoàng Cái từng luyện thủy quân — cho ông, đồng thời đổi tên thành “Hồ Hoàng Cái” (Hoàng Cái Hồ), tên gọi này vẫn được lưu truyền, sử dụng cho đến tận ngày nay.
[4] “Ngô thư” chép rằng: Trong chiến dịch Xích Bích, Hoàng Cái bị trúng tên lạc, lúc ấy thời tiết lạnh giá, ông bị ngã xuống nước và được quân sĩ Đông Ngô vớt lên. Tuy nhiên, họ không biết đó là Hoàng Cái nên đã đặt ông nằm tạm trên giường ở nhà vệ sinh. Hoàng Cái cố hết sức gọi lớn một tiếng “Hàn Đương!”. Hàn Đương nghe thấy liền bảo: “Đây là giọng của Công Phúc (tên tự của Hoàng Cái) mà.” Bèn chạy lại phía ông, rơi nước mắt thương xót, rồi cởi áo quần ra thay đồ khác cho ông, nhờ vậy mà Hoàng Cái được cứu sống.
[5] “Hồ Bắc thông chí” chép rằng:
Hồ Quy nằm cách phía Tây Nam của huyện 30 dặm, từ cửa Mục Khẩu đổ ra đại giang (sông Trường Giang). Hồ Hoàng Cái nằm cách phía Tây Nam của huyện 80 dặm, phân chia ranh giới giữa huyện Bồ Kỳ thuộc tỉnh Hồ Bắc và huyện Lâm Sương thuộc phủ Nhạc Châu, tỉnh Hồ Nam, từ cửa Thạch Đầu Thanh Giang đổ ra Đại Giang. Tương truyền, năm xưa Tôn Quyền luận chiến công trong trận Xích Bích, đã đem hồ này ban thưởng cho Hoàng Cái, vì thế mà hồ có tên gọi như vậy.
[6] Xem lời bàn của Bùi Tùng Chi trong “Tam quốc chí – Tuân Úc Tuân Du Giả Hủ truyện đệ thập” có đoạn: “Cho đến như cái bại ở Xích Bích, dẫu có phần do vận số, nhưng thực chất là bởi dịch bệnh bùng phát dữ dội làm tổn hao nhuệ khí tiến công hừng hực, lại gặp lúc gió Nam thổi mạnh mới tạo nên thế lửa thiêu rụi hết thảy. Ấy thật là ý trời làm vậy, há phải do nhân lực quyết định được sao?”
[7] “Giang biểu truyện” chép rằng: Trình Phổ cậy mình lớn tuổi hơn nên nhiêu lần tỏ thái độ khinh bạc, nhục mạ Chu Du. Chu Du lại hạ mình nhẫn nhịn, bao dung, rốt cuộc không thèm chấp nhặt hay so tính với ông ta. Về sau, Trình Phổ tự đáy lòng sinh kính phục rồi đâm ra thân cận, coi trọng Chu Du, bèn bảo với người khác rằng: “Kết giao với Chu Công Cẩn, giống như uống thứ rượu ngon ủ kỹ, chẳng biết say tự lúc nào.” Người thời bấy giờ đều kính phục sự khiêm nhường, thu phục lòng người đến như thế của ông. (Chu Du truyện)
Dịch từ:


