Tác giả: Tổ Văn hóa The Epoch Times
[ChanhKien.org]
Hoàng đế Khang Hy noi theo truyền thống tổ tiên và các triều đại trước, thực hiện hàng loạt biện pháp, đặt định nền móng cho việc khai sáng thời kỳ thịnh thế. Trong hình là Hoàng đế Khang Hy, vị đế vương khai mở thời kỳ Khang – Ung – Càn thịnh thế. (Ảnh: The Epoch Times chế tác)
Kể từ khi Hán Vũ Đế lập ra niên hiệu, các hoàng đế qua các triều đại khi đăng cơ hoặc khi gặp đại sự quốc gia đều sẽ tiến hành “cải nguyên”, tức là đặt ra một niên hiệu mới. Các niên hiệu phần lớn đều mang ý nghĩa cát tường, điềm lành hoặc thể hiện tinh thần tiến thủ, hưng thịnh, gửi gắm kỳ vọng của một đời đế vương đối với xã tắc và bản thân mình.
Nhìn lại các niên hiệu thời kỳ đầu nhà Thanh, Thái Tông Hoàng Thái Cực khi lập quốc đã sáng lập niên hiệu “Sùng Đức”, Thế Tổ Phúc Lâm đổi niên hiệu thành “Thuận Trị”, rồi đến niên hiệu “Khang Hy” của Thánh Tổ Hoàng đế, chúng ta dường như có thể nhìn thấy quá trình phát triển từ hưng khởi đến thịnh vượng của một vương triều. Sau khi Hoàng đế Khang Hy đích thân chấp chính, ông cũng quả thực noi theo truyền thống của tổ tiên cũng như các triều đại trước, thực hiện hàng loạt biện pháp, đặt định nền móng cho việc khai sáng thời kỳ thịnh thế.
Ngự môn thính chính
Trẫm ba mươi năm nay, mỗi buổi sáng đều ngự môn nghe chính sự, gặp gỡ quần thần, hỏi han về những điều được mất trong việc thi hành chính sự, điều này đã trở thành thói quen rồi. — Hoàng đế Khang Hy
(Nguồn: Trẫm tam thập niên lai mỗi thần thính chính diện, miến kiến chư, gia thần tư tuân đắc thất tập dĩ vi thường. — “Khang Hy triều Thực lục”)
Sau khi đích thân chấp chính, Hoàng đế Khang Hy tiếp tục duy trì truyền thống “ngự môn thính chính” tại cửa Càn Thanh. Trong hình là biển hiệu tại Cửa Càn Thanh. (Ảnh: Shizhao/Wikimedia Commons cung cấp)
Tại khu vực nội đình của Tử Cấm Thành, có một cửa chính nguy nga, sang trọng gọi là “Cửa Càn Thanh” (Càn Thanh Môn), sở dĩ có tên gọi này là vì phải đi qua cánh cửa này mới có thể nhìn thấy Cung Càn Thanh – tẩm cung của Hoàng đế Khang Hy. Điểm đặc biệt của cánh cửa cung này không chỉ nằm ở vị trí của nó, mà quan trọng hơn, nơi đây đã chứng kiến gần một thế kỷ lịch sử các hoàng đế nhà Thanh “ngự môn thính chính”.
Cái gọi là “Ngự môn thính chính” chính là việc Hoàng đế mỗi ngày đều đích thân đến Cửa Càn Thanh đúng giờ để nghe việc triều chính và ban hạ chỉ dụ, đây cũng chính là việc mà người ta thường gọi là “thượng triều sớm” (thượng tảo triều). Đây là phương thức thiên tử trị quốc do Minh Thành Tổ Chu Đệ định ra, có điều địa điểm khi đó được chọn là ở Cửa Thái Hòa (Thái Hòa Môn); nhà Thanh kế thừa chế độ của nhà Minh, bắt đầu từ thời Thuận Trị Đế, đến thời Khang Hy Đế thì đạt tới đỉnh cao, các vị Hoàng đế sau này mới dần chuyển sang Viên Minh Viên để “tị huyên thính chính” (tránh nơi ồn ào để xử lý chính sự). Điều này có lẽ sẽ khác với trí tưởng tượng của người ngày nay, khi các Hoàng đế và vương công đại thần triều Minh – Thanh không quản ngại mưa nắng, nóng lạnh mà lên triều ngay tại cửa cung, điều này ở một mức độ nào đó cũng chứng minh rằng họ thực sự rất cần mẫn trong việc triều chính.
Việc nghe chính sự của Hoàng đế Khang Hy bắt đầu từ ngày ông tuyên bố đích thân chấp chính, kể từ đó, ngự môn thính chính đã trở thành một đặc điểm lớn trong việc xử lý triều vụ của ông. Ngoại trừ những lúc tuần du bên ngoài, mỗi ngày Hoàng đế Khang Hy đều xuất hiện trước cửa cung đúng giờ để cùng quần thần bàn thảo quốc sự. Chỉ trong những ngày hè oi bức cực độ, địa điểm nghe chính sự mới tạm thời được đổi sang Cửa Doanh Đài ở Tây Uyển – nơi dùng để tránh nóng.
Khi trời còn chưa sáng, các quan viên như đại học sĩ, học sĩ, cửu khanh, chiêm sự cùng nhiều quan viên khác đã bắt đầu tập hợp trước Ngọ Môn, sau khi qua Trung Tả Môn nghỉ ngơi chốc lát, họ tập trung bên ngoài Càn Thanh Môn để chờ vào triệu kiến. Thông thường vào khoảng 6 giờ sáng mùa xuân – hè và 7 giờ sáng mùa thu – đông, Hoàng đế Khang Hy chắc chắn sẽ ngự giá đến Cửa Càn Thanh để lắng nghe và xử lý chính sự. Lúc này, các quan viên lần lượt tiến vào theo hàng lối, tuần tự tâu báo công việc. Sau khi kết thúc, Đại học sĩ và Học sĩ sẽ dâng “chiết bản” để xin chỉ thị của Hoàng đế. Cái gọi là chiết bản chính là những tấu sớ đã được Hoàng đế Khang Hy phê duyệt, gấp góc làm dấu để lệnh cho các quan viên đem ra bàn nghị lại.
Trong toàn bộ quá trình nghe chính sự, Hoàng đế Khang Hy trực tiếp đối thoại với quần thần và kịp thời đưa ra quyết sách đối với các việc triều chính. Trong hai năm đầu thân chính, vẫn là thời kỳ Ngao Bái phụ chính chuyên quyền, chỉ dụ của Hoàng đế Khang Hy không thể thực sự thực thi, khi đó việc thính chính của ông chủ yếu là xuất phát từ nhu cầu kiềm chế quyền lực của Ngao Bái.
Trong thời kỳ phụ chính, tấu chương của các quan viên đều được các phụ chính đại thần cùng một số ít người định đoạt tại nội đình vào ngày hôm sau, Đại học sĩ không được vào trực, không có quyền phê đề hay xử lý tấu chương giống như các đại thần nội các triều Minh, điều này đã tạo thuận lợi cho Ngao Bái lộng quyền. Khi Hoàng đế Khang Hy bắt đầu thính chính, ông đã bước ra khỏi phạm vi nhỏ hẹp của nội đình, nhờ đó có thể tiếp xúc với những bậc chí sĩ trong triều, đồng thời trực tiếp khảo sát tài năng và phẩm hạnh của các quan viên.
Người ta thường nói kế hoạch của một ngày bắt đầu từ buổi sáng, việc nghe chính sự của Hoàng đế Khang Hy chính là con đường quan trọng để ông thấu hiểu tình hình bên dưới và thúc đẩy thực thi chính sách. Về sau, ông cũng nhiều lần ban chỉ dụ cải tiến quy trình thính chính, yêu cầu vua tôi đồng lòng dốc sức trị quốc; đồng thời, ông còn cân nhắc đến tình hình thực tế của các quan viên để có những điều chỉnh linh hoạt, nhằm đạt hiệu quả cao nhất cho việc nghe chính sự, còn bản thân ông thì mỗi ngày đều trực tiếp nghe việc triều chính.
Các đại thần cảm thông với nỗi vất vả của hoàng đế nên nhiều lần đề nghị điều chỉnh thời gian nghe chính sự, ví dụ như đổi từ mỗi ngày sang ba hoặc năm ngày một lần. Hoàng đế Khang Hy lại cho rằng: “Đạo trị quốc, điều quan trọng là chân thành cần lao, có trước có sau, không nên có sự gián đoạn”. Với tấm lòng thành khẩn dốc lòng trị quốc, nỗi ưu tư đối với đất nước, lê dân, Hoàng đế Khang Hy đã kiên trì thực hành điều đó bằng chính hành động của mình suốt hơn 50 năm.
Tái lập Nội các
Hoàng đế Khang Hy hạ lệnh đổi Nội Tam viện thành Nội các. Trong đó, quan hàm của Đại học sĩ, Học sĩ, cùng với chế độ quan chức của Hàn Lâm Viện, đều tham chiếu theo lệ cũ vào năm Thuận Trị thứ 15.
(Nguồn: Mệnh cải Nội Tam viện vi Nội các. Kỳ Đại học sĩ Học sĩ quan hàm, cập thiết lập Hàn Lâm viện nha môn đẳng quan, cụ trước sát Thuận Trị thập ngũ niên lệ nghị tấu. — “Khang Hy triều Thực lục”)
Hoàng đế Khang Hy kế thừa chế độ nhà Minh, đồng thời tiếp nối quy chế do tổ tiên nhà Thanh đặt nền móng, qua đó tái lập chế độ Nội các. Trong hình là bức “Cung điện đồ diệp” của Lý Chiêu Đạo thời Đường. (Ảnh: Phạm vi công cộng)
Sự nghiệp đế vương huy hoàng không thể tách rời sự trợ giúp, phò tá của các bậc trọng thần. Sau khi thời kỳ phụ chính của triều Khang Hy kết thúc, triều đình vẫn cần một cơ quan trung ương hữu hiệu để phò tá thiên tử. Lúc này, Hoàng đế Khang Hy kế thừa chế độ nhà Minh, đồng thời tiếp nối quy chế do tổ tiên nhà Thanh đặt nền móng, qua đó tái lập chế độ Nội các.
Nội các là cơ quan trung ương đặc thù của hai triều Minh – Thanh. Kể từ khi Minh Thái Tổ bãi bỏ Trung thư tỉnh, phế bỏ tể tướng, các vị hoàng đế đời sau đã tổ chức nên Nội các trên cơ sở của Hàn Lâm viện. Vậy Hàn Lâm viện là gì? Cơ quan này bắt đầu từ triều Đường, ban đầu quan viên của viện là những người tinh thông văn nghệ và kỹ năng chuyên môn, từ sau thời Đường Huyền Tông, quan viên của Hàn Lâm Viện dần trở thành các văn thần theo hầu chuyên phụ trách thảo chiếu chỉ, ví dụ như Lý Bạch cũng từng làm Học sĩ của Hàn Lâm Viện.
Đến thời nhà Minh, bên trong Hàn Lâm Viện thiết lập Điện các Đại học sĩ, về danh xưng chính là Văn Uyên Các Đại học sĩ, Võ Anh Điện Đại học sĩ, v.v., tương đương với thư ký của hoàng đế. Đến thời Minh Thành Tổ, các Đại học sĩ bắt đầu tham gia xử lý triều chính, từ đó mới xuất hiện danh xưng “Nội các”, người đứng đầu được gọi là “Thủ phụ”, nắm quyền “phiếu nghĩ” (phê đề và đề xuất xử lý tấu chương), quyền lực có thể sánh ngang với tể tướng.
Đến thời nhà Thanh, năm Thiên Thông thứ 3 (1636), Thái Tông Hoàng Thái Cực đã đổi Văn quán – nơi phụ trách các công việc văn tự như văn thư, biên soạn sử sách và các công việc văn chương – thành Nội Tam viện, tức là Nội Quốc sử viện, Nội Hoằng văn viện và Nội Bí thư viện, đồng thời thiết lập các chức Mãn – Hán Đại học sĩ, có thể nghị chính quyết sách, bước đầu định hình quy mô của Nội các. Tuy nhiên, triều chính Mãn Thanh khi đó do các vương bối lặc nắm giữ, vì vậy Nội Tam viện chủ yếu đóng vai trò kiềm chế các vương gia, duy trì hoàng quyền. Đến thời Hoàng đế Thuận Trị, triều đình nhìn chung vẫn tiếp tục duy trì thể chế Nội Tam viện, từng mô phỏng theo triều Minh để thiết lập Hàn Lâm viện cùng quan hàm Điện các Đại học sĩ.
Sau khi Ngao Bái thất thế vào năm Khang Hy thứ 8 (1669), Hoàng đế Khang Hy đã thu hồi lại “quyền phê hồng” (quyền phê chuẩn bằng mực đỏ) vốn là biểu tượng của hoàng quyền, đồng thời điều chỉnh nhân sự Đại học sĩ của Nội Tam viện. Cuối năm đó, Ngự sử Lý Chi Phương dâng sớ kiến nghị khôi phục chế độ cũ cho phép các Đại học sĩ vào trực. Đến tháng 8 năm Khang Hy thứ 9, Hoàng đế Khang Hy chính thức hạ chiếu, đổi Nội Tam viện thành Nội các, bàn thảo việc thiết lập Hàn Lâm Viện cùng các quan hàm Đại học sĩ, Học sĩ. Tháng 10 cùng năm, bổ nhiệm một loạt Điện các Đại học sĩ người Mãn, người Hán. Đến tháng 12, tiếp tục bổ nhiệm các cấp quan viên như Thị độc Học sĩ, Thị giảng Học sĩ của Hàn Lâm Viện, qua đó chính thức thành lập cơ cấu Hàn Lâm Viện.
Trong suốt triều Khang Hy, các công việc chủ yếu mà Nội các Đại học sĩ phụ trách gồm có: thay mặt xem xét tấu chương, phê đề và dự thảo lời phúc đáp, tham gia bàn nghị triều chính, biên soạn sử liệu, v.v., đóng vai trò là một cơ quan trung tâm trong triều đình.
Vốn là người luôn kính ngưỡng văn hóa Hán, Hoàng đế Khang Hy cũng vô cùng coi trọng việc giao lưu giữa hai dân tộc Mãn – Hán. Về phân bổ nhân sự trong Nội các, Ông cố gắng tuyển chọn người Mãn, người Hán miền Bắc, người Hán miền Nam đảm nhiệm chức vụ Đại học sĩ theo tỷ lệ đồng đều, để họ thi triển tài năng trên triều đường, nhằm chăm lo tốt hơn cho phúc lợi của bách tính các tộc. Nhờ vậy, cơ cấu trung ương của quốc gia ngày càng hoàn thiện, việc ngự môn thính chính mỗi ngày cũng đạt được hiệu quả cao hơn và mang ý nghĩa thiết thực hơn.
Kinh diên Nhật giảng
Làm học vấn, tất phải kiên trì không gián đoạn thì mới có thu hoạch. Từ nay về sau, bất kể là mùa đông lạnh giá hay mùa hè oi bức, các hoạt động giảng học đều không được dừng lại. — Hoàng đế Khang Hy
(Nguồn: Thượng dụ viết: Học vấn chi đạo, tất vô gián đoạn, phương hữu bì ích. Dĩ hậu hàn thử bất tất chuyết giảng. — “Thanh Thánh Tổ Thực lục”)
Bức “Kinh diên tiến giảng” thuộc bộ tranh “Từ Hiển Khanh hoạn tích đồ” thể hiện khung cảnh Kinh diên (buổi giảng sách cho vua) của Minh Thần Tông. (Ảnh: Phạm vi công cộng)
Kể từ khi Hán Vũ Đế tôn sùng Nho thuật, Nho học truyền thống đã trở thành văn hóa chủ lưu của dân tộc Trung Hoa. Hoàng đế Khang Hy – là một vị hoàng đế cần mẫn và uyên bác bậc nhất trong lịch sử – đã bắt đầu học tập văn hóa Hán, đặc biệt là Nho học, ngay từ khi còn nhỏ. Khi vừa đăng cơ, ông đã đi theo 2 vị nội thị họ Trương và họ Lâm để bắt đầu học tập vỡ lòng cách ngắt câu, ngắt đoạn. Hai người này vốn là những học giả từ thời nhà Minh, khi dạy dỗ Hoàng đế Khang Hy, họ chủ yếu giảng giải các tác phẩm kinh điển của Nho gia, về sau cũng giảng dạy thêm cả thi ca và văn chương. Sau này, Hàn lâm Thẩm Thuyên do nổi tiếng với thư pháp mô phỏng phong cách của danh họa triều Minh Đổng Kỳ Xương, cũng được chọn làm thầy dạy thư pháp cho Hoàng đế Khang Hy.
Ngoài xử lý chính sự, Hoàng đế Khang Hy luôn tranh thủ khoảng thời gian rảnh ít ỏi để chuyên tâm nghiên cứu học vấn. Cứ vào canh năm mỗi sáng, ông đã thức dậy đọc sách, đêm về lại nghiền ngẫm suy tư, hiếu học không biết mệt mỏi, thậm chí có lúc vì lao lực quá độ mà ho ra máu, nhưng dù vậy ông vẫn không chịu nghỉ ngơi. Nhờ đó, Hoàng đế Khang Hy mới có thể khiến cho học vấn tiến bộ vượt bậc chỉ trong một thời gian ngắn, lại còn viết được những bức thư pháp tuyệt đẹp.
Thuận theo việc dần trưởng thành, Hoàng đế Khang Hy cần thêm nhiều học giả có kiến thức uyên bác làm thầy dạy giúp ông nâng cao trình độ chính mình. Thế là, các hoạt động Kinh diên và Nhật giảng – vốn tập trung vào việc học trị quốc của các bậc đế vương – đã đạt đến đỉnh cao vào triều Thanh. Kinh diên chính là các buổi giảng bài trước ngự tọa được đặc biệt thiết lập riêng để giảng luận kinh sử và đạo trị quốc cho hoàng đế, đây là một chế độ học tập mà các đại thần sẽ giảng bài cho hoàng đế, quân thần cùng nhau nghiên cứu kinh điển và thảo luận việc triều chính.
Chế độ Kinh diên bắt đầu từ thời Hán Vũ Đế, hoàn thiện vào triều Tống, triều Minh – Thanh cơ bản kế thừa thể chế này. Kinh diên có phân biệt lớn nhỏ, Đại Kinh diên phần lớn được mở vào hai mùa xuân – thu, nghi thức vô cùng long trọng; Tiểu Kinh diên chính là Nhật giảng, được diễn ra thường xuyên hơn, chú trọng vào tính thực dụng, đó chính là việc lên lớp giảng dạy hằng ngày. Đến triều Hoàng đế Khang Hy, quần thần đã nhiều lần đề xuất mở Kinh diên. Kể từ năm Khang Hy thứ 9, sau khi kết thúc việc Ngự môn thính chính vào buổi sáng, Hoàng đế Khang Hy liền ngự giá đến Điện Hoằng Đức vào giờ Thìn để lắng nghe các giảng quan thuyết giảng, đồng thời ông cũng chuẩn bị cho đại lễ Đại Kinh diên.
Vào đầu xuân tháng 2 năm Khang Hy thứ 10 (1671), Hoàng đế Khang Hy đã tuyển chọn ra hơn 10 vị Mãn – Hán Kinh diên giảng quan từ trong các chức Hàn lâm và Nội các Học sĩ, rồi tổ chức đại lễ Kinh diên long trọng và trang nghiêm tại Điện Thái Hòa. Kể từ đó, đại lễ được tổ chức định kỳ vào các mùa xuân – thu hằng năm theo thông lệ, còn Tiểu Kinh diên thì tiến hành cách ngày. Những bậc đế vương chi sư (thầy của vua) này đều tinh thông các kinh điển Nho gia và thực tế lịch sử các đời, họ xem việc phò tá thánh quân minh chủ là nhiệm vụ của mình, mượn xưa ví nay, kết hợp với chính sự để tận tâm tận lực dạy bảo Hoàng đế Khang Hy. Thông qua việc học tập có hệ thống, Hoàng đế Khang Hy rất nhanh nắm bắt được tinh hoa trọng yếu của các sách kinh điển như Tứ Thư Ngũ Kinh, Tư Trị Thông Giám….
Để việc học tập đạt hiệu quả cao hơn, vào tháng 2 năm Khang Hy thứ 12 (1673), Hoàng đế Khang Hy đã hạ chỉ phá bỏ lệ cũ, ra lệnh cho các giảng quan ngoại trừ những lúc hoàng đế xuất tuần thị sát, thì mỗi ngày đều phải giảng học, khiến cho “Nhật giảng” trở thành một hoạt động đúng nghĩa với tên gọi của nó. “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức” (Trời chuyển động mạnh mẽ, người quân tử phải tự cường không ngừng nghỉ). Hoàng đế Khang Hy đã dùng câu này để tự khích lệ bản thân, bất kể mùa đông lạnh giá hay mùa hè oi bức, bất kể chính vụ có bận rộn đến đâu, ông đều có mặt đúng giờ tại Cung Càn Thanh, Điện Hoằng Đức hoặc Điện Mậu Cần để khiêm tốn cầu học nơi các giảng quan, chăm chỉ không biết mệt mỏi, dành thời gian buổi sáng quý báu để học tập.
Hoàng đế Khang Hy còn rất chú trọng đến hiệu quả thực tế của việc giảng dạy. Ví dụ, ông cho rằng phương thức giảng quan thuyết giảng một chiều chỉ là tuân theo lệ cũ, đối với việc học không có trợ giúp lớn, vì vậy đã quyết định cải tiến thành phương thức tương tác qua lại giữa người học và người giảng. Vào tháng 4 năm thứ 14 (1675), ông bảo với các giảng quan rằng: “Về sau khi tiến giảng, sau khi giảng quan giảng xong, trẫm cũng sẽ giảng giải kinh sử, cùng nhau thảo luận vậy mới giúp việc học có hiệu quả thiết thực hơn.”
Hoàng đế Khang Hy cũng rất chú trọng đến nội dung giảng học, kiên quyết loại bỏ những bài giảng sáo rỗng, thiếu thực chất. Vào tháng 2 năm thứ 15 (1676), ông lại nói rõ với các giảng quan rằng: “Những chỗ ca công tụng đức trong bài giảng không nên bàn luận quá nhiều, chỉ chọn lấy những nội dung có lợi cho học vấn thực tế để giảng giải.” Đến năm thứ 16, học vấn của Hoàng đế Khang Hy ngày càng tinh tiến, ông lại đổi phương pháp giảng dạy thành hoàng đế sẽ giảng trước.
Chính nhờ sự khổ học chuyên tâm, không gián đoạn suốt bốn mùa nóng lạnh như vậy mà Hoàng đế Khang Hy cuối cùng đã trở thành một bậc đế vương uyên bác thông hiểu cổ kim, văn tài xuất chúng, cả đời ông đã để lại hơn một nghìn bài thơ và hơn một triệu chữ trước tác, khiến người đời kinh ngạc. Đồng thời, thái độ nghiên cứu ham học như khát cầu tri thức của ông cũng đã cổ vũ tinh thần tìm tòi học hỏi của giới văn nhân thời Thanh, đồng thời thúc đẩy sự phồn vinh của văn hóa triều Thanh.
Xây dựng Nam thư phòng
Trẫm thường ngày đọc sách, luyện chữ, cảm thấy trong hàng cận thần thiếu người học rộng và giỏi viết chữ, dẫn đến khi giảng luận họ không thể ứng đối trôi chảy. Cho nên trẫm quyết định, lựa chọn hai người học rộng và giỏi viết chữ trong Hàn Lâm Viện để hầu cận bên cạnh, cùng nhau nghiên cứu văn chương nghĩa lý. — Hoàng đế Khang Hy
(Nguồn: Trẫm bất thời quan thư tả tự, cận thị nội tịnh vô bác học thiện thư giả, dĩ trí giảng luận bất năng ứng đối. Kim dục vu Hàn lâm nội tuyển trạch bác học thiện thư giả nhị viên, thường thị tả hữu, giảng cứu văn nghĩa. — “Khang Hy khởi cư chú”)
Không lâu sau khi Hoàng đế Khang Hy khi tự mình chấp chính, Ông đã cho cải tạo góc tây nam của cung Càn Thanh — cũng chính là nơi Ông từng đọc sách thuở trước — thành khu vực làm việc, tuyển chọn các văn thần xuất thân từ Hàn Lâm Viện vào trực, từ đó lập nên Nam thư phòng. (Ảnh: HelloRF Zcool/Shutterstock)
Triều đại Khang Hy có một cơ cấu nội cung đặc biệt, bao gồm các học giả và quan lại người Hán, trong đó có học giả nổi tiếng thời đầu nhà Thanh là Hùng Tứ Lý, Trần Đình Kính, Vương Sĩ Trinh, Tra Thận Hành… mỗi người đều có vai trò quan trọng trong cơ cấu này. Do đó, nơi này càng trở thành mảnh đất trọng yếu hội tụ đông đảo hiền tài bậc nhất trong triều đình nhà Thanh, người Hán càng lấy làm vinh hạnh khi được làm việc tại đây. Tên của địa điểm này là Nam thư phòng, nghe qua thì thừa phần ưu nhã nhưng thiếu phần uy nghiêm, song lại là cơ quan tư vấn và quyết sách quan trọng nhất bên cạnh Hoàng đế Khang Hy.
Thời gian thiết lập Nam thư phòng không muộn hơn năm Khang Hy thứ 10, đây cũng là một hành động quan trọng vào thời kỳ đầu thân chính của Hoàng đế Khang Hy. Trong Thanh sử cảo có một câu ghi chép về thư pháp gia Thẩm Thuyên: “Năm thứ 10, được bổ nhiệm chức Thị giảng, trực tại Nam thư phòng”. Biện pháp này của Hoàng đế Khang Hy cũng kế thừa chế độ cũ của tầng lớp quý tộc Mãn Thanh. Ngay từ thời Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích, các tông thất tử đệ đều được lập “thư phòng”, đồng thời tuyển chọn những người có văn tài để phụ đạo việc học, kiêm quản công việc văn thư. Thái Tông Hoàng Thái Cực đổi thư phòng thành văn phòng, đặc biệt tuyển chọn các nho sĩ vào làm việc, trở thành một cơ quan chính thức. Thế Tổ Thuận Trị Đế tuy không thiết lập thư phòng, nhưng ông đặc biệt mở ra một nơi làm việc công trong cung đình, tuyển các quan viên Hàn Lâm Viện luân phiên trực ban, để tiện cho việc triệu kiến, tham vấn chính vụ bất cứ lúc nào.
Không lâu sau khi thân chính, Hoàng đế Khang Hy đã kế thừa khuôn phép của tổ tiên, mở rộng góc tây nam của Cung Càn Thanh — cũng chính là nơi Ông từng đọc sách thuở trước — thành khu vực làm việc, tuyển chọn các văn thần xuất thân từ Hàn Lâm Viện vào trực, từ đó lập nên Nam thư phòng. Các quan viên Nam thư phòng ban đầu giữ vai trò tùy tùng văn học, luôn túc trực hai bên để chờ triệu kiến, đảm nhiệm việc cố vấn, bàn luận kinh sử, đàm đạo thi văn; về sau còn phụ tá hoàng đế thảo chiếu lệnh và văn thư, tham dự vào công việc cơ mật của triều đình.
Các quan viên của Nam thư phòng xưa nay không có số lượng và biên chế cố định, nhưng lại là những cận thần được Hoàng đế Khang Hy cực kỳ coi trọng. Vào tháng 10 năm Khang Hy thứ 16 (1677), cơ cấu Nam thư phòng đã có bước phát triển mới. Hoàng đế Khang Hy bảo với các đại học sĩ Lặc Đức Hồng và Minh Châu rằng: “Gần đây khi trẫm đọc sách luyện chữ, phát hiện bên cạnh thiếu những người học rộng, giỏi thư pháp, đến mức khi họ giảng luận kinh sử không thể ứng đối trôi chảy”. Vì vậy, ông hạ lệnh tuyển chọn hiền tài trong giới Hàn Lâm, cho họ “thường xuyên hầu cận bên cạnh, cùng nghiên cứu văn nghĩa”.
Quan trọng hơn, Hoàng đế Khang Hy còn đặc biệt ban thưởng phủ đệ trong Tử Cấm Thành để biểu thị ân sủng và vinh dự đặc biệt. Về sau, Thị giảng học sĩ Trương Anh cùng Nội các học sĩ Cao Sĩ Kỳ đã trở thành những thành viên mới của Nam thư phòng được mọi người ngưỡng mộ.
Việc tuyển chọn quan viên Nam thư phòng chủ yếu có hai hình thức, một là như Hoàng đế Khang Hy đã nói, tức đề bạt từ Hàn Lâm Viện hoặc từ các văn thần thường ngày giảng dạy Nho học; hai là trực tiếp cất nhắc những thư sinh có tài năng xuất chúng. Ví dụ như Tra Thận Hành người Hải Ninh, tinh thông dịch học, danh tiếng thơ ca vang khắp nội đình; còn có Trần Nguyên Long, nhờ thư pháp được Hoàng đế Khang Hy đánh giá cao nên đều được đặc biệt triệu vào trực tại Nam thư phòng.
Nhìn một cách tổng thể, các quan viên Nam thư phòng đều là cận thần, thầy học, bạn bè thậm chí là tâm phúc của thiên tử, Hoàng đế Khang Hy Đế đều vô cùng lễ đãi và trọng dụng họ. Ví dụ như Trương Anh vào trực chưa đầy ba năm đã thăng nhậm chức Hàn Lâm viện Học sĩ kiêm Lễ bộ Thị lang, về sau trở thành Chưởng viện Học sĩ Hàn Lâm Viện, Lễ bộ Thượng thư, tổng lĩnh Nam thư phòng. Hoàng đế Khang Hy từng khen ngợi ông rằng: “Trương Anh thủy chung cung kính thận trọng, có phong thái của bậc đại thần thời xưa”. Sau khi Trương Anh cáo quan về quê, Hoàng đế Khang Hy vẫn nhiều lần tham khảo ý kiến của ông về việc trị lý quan lại ở địa phương.
Địa vị tôn sùng của Nam thư phòng đã thể hiện tấm lòng rộng mở phá vỡ sự cách biệt Mãn – Hán của Hoàng đế Khang Hy, cũng như sự kính trọng đối với văn nhân và nền văn hóa Hán bác đại tinh thâm. “Vua đối đãi bề tôi bằng lễ, bề tôi phụng sự vua bằng lòng trung”. Thiên tử anh minh như vậy, bên cạnh ông cũng giống như trăm sông đổ về biển lớn, quy tụ đông đảo trung thần hiền sĩ đức tài vẹn toàn. Họ đã trung thành theo phò tá Hoàng đế Khang Hy, cùng nhau khai sáng thời kỳ toàn thịnh của triều Thanh.
Chịu trách nhiệm biên tập bản tiếng Trung: Vương Du Duyệt
(Còn tiếp)
(The Epoch Times)
Dịch từ: https://www.epochtimes.com/gb/20/5/25/n12135604.htm




