Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật thiên cổ anh hùng của Văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm
[ChanhKien.org]
Dã tâm thống trị Đông Á
Vào thời nhà Minh, Lãnh chúa Toyotomi Hideyoshi đã thống nhất Nhật Bản, mưu đồ chinh phục Triều Tiên, làm chủ Trung Quốc, xưng bá Á Châu. Toyotomi Hideyoshi từng tâu với Nhật Hoàng rằng: “Nguyện vọng một đời của thần chính là chinh phục Triều Tiên, do thám Trung Hoa”.
Toyotomi Hideyoshi đã hai lần đem quân tiến đánh Triều Tiên, lịch sử gọi đó là chiến dịch Triều Tiên Vạn Lịch. Sau khi giành được thắng lợi, quân Nhật bắt đầu “Nhật Bản hóa” và xuất khẩu văn hóa Nhật sang bán đảo Triều Tiên. Qua nhiều lần thắng bại, Toyotomi Hideyoshi lâm bệnh qua đời, toàn bộ quân đội Nhật Bản rút khỏi Triều Tiên. Sau đó, gia tộc Tokugawa đã kế thừa Toyotomi Hideyoshi thống nhất Nhật Bản, thành lập chính quyền Mạc phủ Tokugawa (còn gọi là Mạc phủ Edo).
Nhật Bản từ thời Mạc phủ Tokugawa đã bắt đầu cấm phương Tây đến truyền giáo, bế quan tỏa cảng, từ lần đầu ban hành lệnh đóng cửa vào năm 1633, kéo dài mãi cho đến năm 1854 khi sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ Perry dẫn đội ‘tàu đen’ đến thì mới mở lại cửa khẩu, sau đó nội chiến Nhật Bản bùng nổ, chấm dứt sự thống trị của Mạc phủ.
Trước cải cách Duy Tân Minh Trị, tình hình Nhật Bản bấp bênh: “30 năm trước, nước Nhật của tôi, đã trải qua biết bao chua xót, những ai đã tránh được cơn suy tàn, đều hiểu được rất rõ. Lúc này đất nước cần nhanh chóng xóa bỏ ách thống trị cũ, thích ứng với thời đại, canh tân chế độ, trở thành một kế hoạch quan trọng bậc nhất liên quan đến sự tồn vong của đất nước” –(“Thư khuyên hàng của Ito Sukeyuki gửi Đinh Nhữ Xương”).
Sau thời Duy Tân Minh Trị, Nhật Bản thành lập nhà nước tập quyền trung ương thống nhất, thoát Á nhập Âu, quốc gia ngày càng giàu mạnh. Nhật hoàng Mutsuhito đã lấy một câu trong Kinh Dịch để đặt niên hiệu là “Minh Trị”: “Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ, hướng minh nhi trì” (Tạm dịch: Thánh nhân hướng về phía Nam để nghe lời của thiên hạ, hướng về [quang] minh mà trị). “Duy Tân” là lấy từ một câu trong Kinh Thi, phần “Đại nhã – Văn Vương”: “Chu tuy cựu bang, kỳ mệnh duy tân” (Tạm dịch: Chu tuy là nước cũ (từ triều Ân) nhưng đã chịu mệnh Trời, mệnh ấy là mới). Nhật hoàng Mutsuhito đã ban hành “Ngự Bút Tín” (Chen Han), nói rõ việc “kế thừa sự nghiệp vĩ đại của tổ tiên, không quản khó khăn, gian khổ, mở rộng giao thương, an định lòng dân, phá tan mọi sóng gió, xây dựng lòng tin với các nước bốn phương”.
Tôn Trung Sơn đã khái quát chìa khóa thành công của cuộc Duy Tân Minh Trị ở Nhật Bản bắt nguồn từ triết học Trung Hoa. Ông nói: “Đầu tiên là tất cả các nền văn minh cũ của Nhật Bản đều được du nhập từ Trung Quốc. 50 năm trước, các hào kiệt trong cuộc cải cách Duy Tân đã đắm chìm trong học thuyết “Tri hành hợp nhất” của Vương Dương Minh – một triết gia vĩ đại của Trung Quốc, vì vậy họ đều mang trong mình tinh thần thượng võ độc lập và đã đạt được thành tích vĩ đại, lập đại công cứu được 45 triệu người dân trong cuộc chiến dầu sôi lửa bỏng” – (“Cứu Trung Quốc cần cải cách hệ thống cũ và thực hiện một nền cộng hòa”, trích từ bài phát biểu tại Hội nghị chào mừng sinh viên Trung Quốc ở Tokyo, ngày 13/08/1905).
Tưởng Giới Thạch cũng chỉ ra rằng, sở dĩ Nhật Bản ngày một cường thịnh là nhờ vào triết lý Trung Hoa: “Người Nhật Bản ngoại trừ khoa học hiện đại và súng ống thì tất cả những gì họ có hoàn toàn đều là học từ Trung Quốc, đặc biệt là về phương diện tinh thần, họ hoàn toàn học từ Trung Quốc chúng ta. Chúng ta cần phải hiểu rằng vũ khí lớn nhất mà họ sử dụng để xâm lược và tiêu diệt Trung Quốc không phải là súng ống hữu hình, mà chính là ở cái tinh thần vô hình bên ngoài súng ống, nói đúng hơn Nhật Bản mạnh không phải nhờ vào khoa học của Âu, Mỹ, mà là triết học Trung Hoa. Từ khi khai quốc đến nay, trên dưới toàn quốc, Nhật Bản đã học Trung Quốc chúng ta những gì? Đó chính là Nho giáo và Đạo giáo, mà điểm mạnh nhất của Nho giáo và Đạo giáo là triết lý thống nhất giữa nhận thức và hành động “trí – lương – tri” của Vương Dương Minh. Họ đã đánh cắp những tàn dư của học thuyết “trí – lương – tri”, dùng nó để cải tạo một nước Nhật yếu ớt, thống nhất một đất nước phong kiến bị chia năm xẻ bảy, thành một dân tộc vững mạnh như ngày nay. Người Trung Quốc chúng ta đã tự quên đi nền tảng lập quốc, tự vứt bỏ những vũ khí tốt nhất của chính mình.” – (“Tự thuật lại các giai đoạn nghiên cứu triết học cách mạng”, 1932).
Vào cùng thời kỳ Duy Tân Minh Trị ở Nhật Bản, phong trào Tây hóa cũng đã du nhập vào Trung Quốc từ triều Thanh. Cùng thời đó, Tôn Trung Sơn đã gửi một bức thư đến Lý Hồng Chương và bày tỏ rằng: Phong trào Tây hóa khiến con người theo đuổi sức mạnh của thuyền chiến và súng ống mà bỏ quên nhân tài và giáo dục, đây là bỏ gốc lấy ngọn. “Phân tích thật sâu về nền tảng sự thịnh vượng của châu Âu, không chỉ là tàu chiến đạn pháo, binh mạnh thành cao, mà nằm ở ‘nhân năng tận kỳ tài, địa năng tận kỳ lợi, vật năng tận kỳ dụng, hóa năng sướng kỳ lưu’ (Tạm dịch: trân quý và tận dụng nguồn nhân lực, khai thác tối đa lợi ích của đất đai, dùng được hết công năng của vật liệu, hàng hóa lưu thông hiệu quả). Bốn thứ này chính là nền tảng để phát triển nền kinh tế thịnh vượng và cũng là chìa khóa khiến quốc gia lớn mạnh. Đất nước ta muốn khôi phục sự hùng cường, cần năng tìm tòi chiến lược sâu xa, tham khảo con đường phát triển của phương Tây, từ đó độc lập tự cường. Nếu không nhanh chóng hoàn thiện bốn vấn đề trên, vẫn tập trung đầu tư thuyền chiến và súng ống, sẽ như bỏ gốc lấy ngọn. Cái gọi là ‘nhân năng tận kỳ tài’, nghĩa là trong giáo dưỡng phải có Đạo, động viên phải có phương pháp, mới là cách đúng. Đạo giáo dưỡng từ thời xưa không đâu hoàn thiện được như tại Trung Hoa, đáng tiếc là thời gian qua đi, chúng ta đã đánh mất dần cái gốc nền văn minh này, chỉ còn lại những cái tên mà thôi. Các nước phương Tây đang trỗi dậy những năm gần đây, đã kế thừa sâu sắc những di sản của ba thời đại trước” – (Thư gửi Lý Hồng Chương).
Kết quả của cuộc Duy Tân Minh Trị và phong trào Tây hóa được phản ánh trong Chiến tranh Giáp Ngọ (chiến tranh Trung Nhật, 1894-1895). Năm 1894, Đảng Đông Học ở Triều Tiên nổi dậy khởi nghĩa, vua Cao Tông của Triều Tiên phải cầu cứu nhà Thanh, tạo nên Chiến tranh Giáp Ngọ, đây là trận hải chiến hiện đại đầu tiên. Bộ binh và hải quân nhà Thanh có súng ống và tàu chiến bọc thép không hề thua kém Nhật Bản nhưng vẫn thất bại nặng nề. Nhật Bản thắng lớn, hạm đội Bắc Dương bị tiêu diệt, nhà Thanh bị đánh bại và ký kết Hiệp ước Shimonoseki. Từ đó, Trung Quốc mất đi Triều Tiên, Đài Loan và Bành Hồ. Việc Nhật Bản chiếm được bán đảo Liêu Đông đã đe dọa ý đồ xâm lược của Hạm đội Viễn Đông của Nga. Sau khi chiến tranh Nhật Nga nổ ra tại vùng Đông Bắc Trung Quốc năm 1904, Nhật Bản đã giành được chiến thắng về cả lục quân và hải quân, giành được quyền kiểm soát phía Nam của khu vực Đông Bắc Trung Quốc, “quân Quan Đông” bắt đầu đóng ở Trung Quốc, từ đó Nhật Bản vươn lên trở thành cường quốc thế giới. Sau thất bại, nước Nga đã xảy ra cuộc cách mạng Nga lần thứ nhất, Lênin và các đảng viên Bolshevik đã tham gia vào chiến dịch này.
“Vốn dĩ nếu xét về năng lực hải quân khi ấy, thực lực của hải quân Trung Quốc mạnh hơn Nhật Bản nhiều, nhưng trong trận Hoàng Hải lần thứ nhất, các tàu như Lai Viễn, Dương Uy, Trí Viễn, Siêu Dũng và Quảng Giáp cùng các chiến hạm khác đã bị đánh chìm, từ đó toàn bộ quân đội bị tiêu diệt. Trong cuộc chiến tranh Trung Nhật 1894-1895, đường đường là một nước lớn như chúng ta, tại sao lại thất bại thảm hại, phải chịu khuất phục trước một nước Nhật nhỏ bé? Thứ nhất là do nội bộ không thể đoàn kết thành một khối”. “Thứ hai, cuộc chiến Giáp Ngọ thất bại là do sự yếu kém hủ bại của chính quyền Mãn Thanh cùng sự ngu muội vô tri của dân chúng. Hơn thế nữa, nguyên nhân thất bại còn là vì chính phủ không nhận thức được đúng tình hình của kẻ địch, thiếu các chính sách chiến lược hợp lý. Qua đó có thể thấy, nguyên nhân dẫn đến thất bại của Chiến tranh Giáp Ngọ 1894-1895 không phải là lực lượng vũ trang của Trung Quốc ta thua kém Nhật Bản, mà bắt nguồn từ trùng trùng những nguyên nhân phi vũ lực khác, những nguyên nhân các loại ấy, chính là những bài học quý giá nhất, thiết thực nhất trong công cuộc chống xâm lược cứu nước.” — (Trích tuyển Tưởng Giới Thạch “Đường lối quan trọng để Chính phủ và Nhân dân cùng cứu nước”, 1936).
Bắt đầu từ cuối thời Thanh, Nhật Bản đã chuẩn bị để làm chủ Trung Nguyên. “Mong muốn của tộc Yamato là đặt chân trên cả đại lục Châu Á”. Tưởng Giới Thạch nhận thức rất sáng suốt về Nhật Bản. Ông nói rằng nước Nhật “trước ngày 18/09, tức là sau chiến tranh Nga Nhật lần thứ nhất, đã chuẩn bị cho việc chiếm đóng vùng Đông Bắc, vì vậy họ sớm đã dành 30 năm để chuẩn bị cho sự việc này.” (Chống ngoại xâm và chấn hưng dân tộc, 1934).
“Cuộc xâm lược Trung Quốc của Nhật Bản trong thời cận đại, không bắt đầu từ ngày 18/09, cũng không phải bắt đầu từ sự kiện Hoa Bắc vào tháng 12 năm ngoái, mà là từ năm Đồng Trị thứ 13 triều Thanh (năm 1874) họ đã xâm lược Đài Loan của chúng ta, đến năm 1879 tức năm Quang Tự thứ 5 lại đánh chiếm Lưu Cầu, đến năm 1894 tức năm Giáp Ngọ lại xâm lược Triều Tiên của chúng ta, từ đó dẫn đến chiến tranh Trung Nhật, Trung Quốc hoàn toàn bị đánh bại! Thế nên Đài Loan và quần đảo Bành Hồ chính thức bị cắt cho Nhật Bản. Đến năm 1910, Triều Tiên bị Nhật Bản thôn tính toàn bộ, tính đến hiện tại, họ đã chiếm hết bốn tỉnh miền Đông, hơn nữa còn xâm lược vùng Hoa Bắc. Xem lại quá trình từng bước xâm lược Trung Quốc của Nhật Bản, đều không phải là những sự kiện ngẫu nhiên, mà ngay từ thời Minh Trị, đã sớm có một chính sách nhất quán, gọi là chính sách Bắc tiến Đại lục và Nam tiến hải dương.
“Cho nên, nếu Nhật Bản muốn đánh chiếm Đại Lục cần phải xâm lược Mãn Châu và Mông Cổ, một mặt ra sức đánh đuổi thế lực Nga Xô Viết ở Viễn Đông, mặt khác nắm quyền kiểm soát Trung Quốc, thì có thể với tư thế rắn dài trói heo, hoàn thành dã tâm thống trị Đông Á theo hai hướng từ lục địa và đại dương”.
“Dã tâm này chúng ta chỉ cần đọc vài đoạn trong tấu chương về chính sách đối với Mãn Thanh và Mông Cổ của nội các Tanaka, là có thể hiểu rõ. Tấu chương viết: ‘Tất cả những nội các đã cai quản Mãn Châu và Mông Cổ trước đây, không ai không nghe theo di huấn của Thiên hoàng Minh Trị, mở rộng quy mô và hoàn thành Chính sách Đại Lục Mới’, ‘Muốn chinh phục Trung Quốc, trước hết phải chinh phục Mãn – Mông, muốn chinh phục thế giới, trước hết phải chinh phục Trung Quốc’. ‘Nếu ta thực sự chiếm được quyền kiểm soát Mãn – Mông, liền có thể lấy Mãn – Mông làm căn cứ, giả danh thương mại để vươn đến hơn 400 tỉnh thành tại Trung Quốc. Lại lấy Mãn Châu làm tháp chỉ huy mà chiếm đoạt lấy mọi nguồn lợi ở Trung Quốc. Dựa vào nguồn tài nguyên phong phú của nơi ấy để chinh phục Ấn Độ và các đảo thuộc biển Nam, cho đến Trung Á và cả Châu Âu, mong muốn của tộc Yamato của ta là đặt chân trên cả đại lục châu Á, nắm được quyền lợi ở Mãn – Mông, chính là chuyện quan trọng đầu tiên’. Từ đó có thể thấy rằng cuộc xâm lược Mãn – Mông của Nhật Bản, không phải chỉ mới được phát động mà đã được xác định quyết tâm và lên kế hoạch từ trước. – (“Đường lối quan trọng để Chính phủ và Nhân dân cùng cứu nước”, 1936).
Tôn Trung Sơn cũng nhìn thấu dã tâm của Nhật Bản, ông từng nói: “Nước đầu tiên có thể đánh bại Trung Quốc chính là Nhật Bản”. “Nếu Trung Quốc cắt đứt mọi quan hệ với Nhật Bản, thì chỉ trong mười ngày thôi, họ sẽ tiêu diệt Trung Quốc” – (Trích bài giảng thứ 5, “Chủ Nghĩa Dân Tộc”, năm 1924).
Năm 1912, khi Tưởng Giới Thạch thành lập tạp chí “Quân Thanh” tại Nhật Bản, đã chỉ ra rằng mối đe dọa lớn nhất đối với Trung Quốc là hai nước Nhật Bản và Nga, đồng thời ông cho rằng Trung Quốc phải “có sức mạnh tự lực tự cường”. Chính vì Nhật Bản đất chật, người đông, tài nguyên nghèo nàn, nên sự phát triển về công nghiệp, hải quân hùng mạnh đều là động lực cho các chính sách bành trướng lãnh thổ. Nỗi lo của Tôn Trung Sơn và Tưởng Giới Thạch cũng chính là cơn ác mộng đuổi mãi không đi của Trung Quốc.
(Còn tiếp)
Dịch và chỉnh lý từ:
https://www.epochtimes.com/gb/16/12/15/n8595226.htm
https://w3.etviet.com/thien-co-anh-hung-tuong-gioi-thach-9-da-tam-cua-nhat-ban_201031.html