Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật Thiên cổ anh hùng của văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm

[ChanhKien.org]

Quan Công nghĩa khí ngất trời. Bức họa ‘Quan Vũ cầm tướng đồ’ của Thương Hỉ thời nhà Minh. (Ảnh: Wikipedia)

VI. Tấn phong Ngụy Vương, mất Hán Trung, bại Quan Vũ

Trương Lỗ tự là Công Kỳ, người huyện Phong, nước Phái. Ông nội là Trương Lăng, làm khách ở đất Thục, học Đạo ở núi Hạo Minh, theo Đạo Ngũ Đẩu Mễ. Sau khi ông nội và cha qua đời, Trương Lỗ tiếp tục kế thừa và thực hành Đạo này. Trương Lỗ chiếm cứ Hán Trung, dùng Đạo Ngũ Đẩu Mễ để giáo hóa dân chúng, tự hiệu là “Sư Quân”.

Tháng Ba năm Kiến An thứ 20 (năm 215), Ngụy Công Tào Tháo đích thân dẫn đại quân tiến đánh Trương Lỗ. Tháng Bảy, quân đến Dương Bình. Trương Lỗ muốn đem cả vùng Hán Trung ra hàng, nhưng em trai là Trương Vệ không chịu. Tào Tháo tiến binh bình định và giành thắng lợi. Trương Lỗ phải chạy vào đất Thục, hướng về phía Nam Sơn, lẩn trốn vào vùng Ba Trung.

Tả hữu (thuộc hạ) muốn đốt sạch kho tàng bảo vật, nhưng Trương Lỗ nói: “Ta vốn có ý quy thuận triều đình nhưng chưa đạt được tâm nguyện. Nay phải rời đi là để tránh mũi nhọn (của quân địch), chứ không có ác ý. Kho tàng bảo vật là tài sản của quốc gia.” Nói rồi sai người niêm phong kỹ lưỡng các kho rồi mới rời đi.

Khi Tào Tháo tiến vào Nam Trịnh, rất khen ngợi hành động này. Lại vì thấy Trương Lỗ vốn có thiện ý, nên đã sai người tới an ủi, dụ hàng. Trương Lỗ cuối cùng với tâm thế “thà làm nô bộc cho Ngụy Công”, giương cao ngọn cờ “Áo vàng đương Vương” (người mặc áo vàng sẽ làm Vua) mà về hàng doanh trại họ Tào. Trương Lỗ đưa toàn bộ gia quyến ra hàng, Tào Tháo phong cho Lỗ làm Trấn Nam tướng quân, đãi theo lễ thượng khách, phong làm Lãng Trung hầu, hưởng thực ấp vạn hộ. Năm người con trai của Trương Lỗ cùng Diêm Phổ đều được phong làm Liệt hầu, Tào Tháo còn cho con trai là Tào Bành Tổ lấy con gái của Trương Lỗ. Khi Trương Lỗ qua đời, được ban thụy hiệu là Nguyên hầu, con là Trương Phú kế vị.

Chủ bộ Thừa tướng là Tư Mã Ý nói với Tào Tháo rằng: “Lưu Bị dùng mưu kế và sức mạnh để bắt Lưu Chương, lòng dân đất Thục chưa phục, mà hắn lại còn đi xa để tranh giành Giang Lăng, đây chính là cơ hội không thể bỏ lỡ. Nay ta đã hạ được Hán Trung, đất Ích Châu đang chấn động, nếu tiến quân áp sát, ắt sẽ tan rã. Bậc Thánh nhân không thể làm trái thời cơ, cũng không thể bỏ lỡ thời cơ vậy”. Tào Tháo đáp: “Con người khổ vì không biết đủ, đã có được vùng Lũng (Cam Túc) lại còn muốn trông mong chiếm thêm đất Thục sao!” Lưu Diệp cũng khuyên can, nói rằng “nay không đánh lấy, tất sẽ là mối họa về sau”. Tào Tháo không nghe, bổ nhiệm Hạ Hầu Uyên làm Đô hộ tướng quân, đốc thúc Trương Cáp, Từ Hoảng trấn giữ Hán Trung; bổ nhiệm Trường sử Thừa tướng là Đỗ Tập làm Phụ mã đô úy, ở lại trông coi các việc tại Hán Trung.

Tháng Chạp, Tào Tháo từ Nam Trịnh trở về, để Hạ Hầu Uyên ở lại đóng giữ Hán Trung. Trong chuyến đi này, Thị trung Vương Sán có làm bài thơ ngũ ngôn để ca tụng sự việc ấy rằng:

“Theo quân có khổ có vui, Cốt xem người lĩnh là ai ở đời. Tướng quân thần võ sáng ngời, Lẽ đâu để mãi quân thời lao đao? Tướng quốc dẹp loạn phương Tây, Oai trời chấn động, giận đầy tầng không. Một phen diệt lũ Hung Nô, Hai phen khiến tộc Khương Di phục tùng. Đất biên quét sạch quân thù, Dễ như nhặt vật đánh rơi bên đường. Ban thưởng cao tựa núi non, Rượu thịt đầy ắp, tràn trề bến sông. Trong quân no đủ thảnh thơi, Người no ngựa béo, rạng ngời sắc xuân. Đi bộ khi đến, lúc về cưỡi xe, Đi tay không, lúc về dư dật của tiền. Mở mang bờ cõi ba ngàn dặm, Đi về nhanh chóng tựa như bay. Ca múa tưng bừng vào Nghiệp Thành, Mọi nguyện ước xưa nay đã vẹn toàn”.

Khi Trương Lỗ chạy sang Ba Trung, Hoàng Quyền nói với Lưu Bị rằng: “Nếu mất Hán Trung, thì vùng Tam Ba sẽ không thể giữ vững, việc này chẳng khác nào chặt đứt chân tay của đất Thục vậy.” Lưu Bị bèn bổ nhiệm Hoàng Quyền làm Hộ quân, dẫn các tướng đi đón Trương Lỗ. Nhưng lúc đó Trương Lỗ đã hàng Tào Tháo, Hoàng Quyền liền chuyển sang tấn công Phác Hồ, Đỗ Hoạch, Nhâm Ước và phá tan quân bọn họ. Tào Tháo sai Trương Cáp đốc thúc các quân đánh chiếm vùng Tam Ba, ý muốn dời dân ở đó về Hán Trung, rồi tiến quân đến Đặng Cừ. Lưu Bị sai Thái thú Ba Tây là Trương Phi đem quân kháng cự Trương Cáp. Sau hơn 50 ngày cầm cự, Trương Phi dùng kế tập kích Trương Cáp, đại phá quân địch. Trương Cáp phải bỏ chạy về Nam Trịnh, Lưu Bị cũng dẫn quân trở về Thành Đô.

Tháng Hai năm Kiến An thứ 21 (năm 216), Tào Tháo trở về Nghiệp Thành. Tháng Năm, Hán Hiến Đế thăng tước cho Tào Tháo từ Ngụy Công lên Ngụy Vương.

Tào Tháo dâng sớ ba lần từ chối, Vua lại ba lần ban chiếu không cho phép, nói rằng: “Nay khanh hết lần này đến lần khác trái mệnh Trẫm, một mực từ chối, đó không phải là cách để thuận lòng Trẫm và làm gương cho hậu thế. Hãy nén bớt chí tiết, chớ có khăng khăng từ chối nữa.” Thế là Tào Tháo lên làm Ngụy Vương, hưởng thực ấp ba vạn hộ, địa vị ở trên các chư hầu vương. Khi tấu sự không phải xưng thần, nhận chiếu chỉ không phải bái lạy; được dùng mũ miện có tua, xe cộ, trang phục, cờ xí, lễ nhạc của Thiên tử để tế lễ Trời đất; khi ra vào được hộ quân dẹp đường (cảnh tất); các nghi lễ tông miếu, cúng tổ, cúng lạt đều theo chế độ nhà Hán; đóng đô tại Nghiệp Thành. Các con trai của Ngụy Vương đều được phong làm Liệt hầu.

Tháng Giêng năm Kiến An thứ 22 (năm 217), Ngụy Vương Tào Tháo dẫn quân đóng tại Cư Sào. Tôn Quyền giữ cửa sông Nhu Tu, tháng Hai, Tào Tháo tiến công. Mùa đông, tháng Mười, Hiến Đế mệnh cho Ngụy Vương Tào Tháo được dùng mũ miện có 12 tua, đi xe Kim Căn, dùng sáu ngựa kéo, có năm xe ngựa theo hầu.

Năm Kiến An thứ 23 (năm 218), mùa hạ, tháng Tư, các bộ tộc Ô Hoàn ở quận Đại và Thượng Cốc là Vô Thần Đê làm phản. Tào Tháo bổ nhiệm con trai là Yên Lăng hầu Tào Chương làm Kiêu kỵ tướng quân, thống lĩnh quân đi dẹp loạn. Tào Chương từ nhỏ đã giỏi bắn cung, cưỡi ngựa, sức mạnh hơn người. Tào Tháo răn dạy Chương rằng: “Ở nhà là cha con, nhận việc là quân thần, mọi động thái đều phải theo vương pháp mà làm, con phải tự răn mình lấy đó!”

Tào Chương tấn công Ô Hoàn ở quận Đại, tự mình xông pha trận mạc, áo giáp trúng mấy mũi tên nhưng ý chí càng thêm mạnh mẽ; thừa thắng đuổi giặc về phía Bắc, đến tận phía Bắc sông Tang Càn, đại phá quân địch, chém đầu và bắt sống hàng ngàn tên. Bấy giờ, thủ lĩnh tộc Tiên Ti là Kha Tỉ Năng dẫn mấy vạn kỵ binh đứng ngoài quan sát bên nào mạnh yếu, thấy Tào Chương chiến đấu dũng mãnh, đánh đâu thắng đó, bèn xin quy phục, vùng phương Bắc từ đó đều bình định xong.

Đến năm Kiến An thứ 24 (năm 219), Hạ Hầu Uyên và Lưu Bị cầm cự nhau hơn một năm. Lưu Bị từ Dương Bình đi về phía Nam vượt sông Miện Thủy, men theo núi tiến dần lên, đóng trại tại núi Định Quân. Hạ Hầu Uyên dẫn quân tới tranh giành. Pháp Chính nói: “Có thể đánh được rồi.” Lưu Bị sai Thảo lỗ tướng quân Hoàng Trung thừa thế xông xuống từ trên cao, đánh trống hò reo vang trời, đại bại quân của Uyên, chém chết Hạ Hầu Uyên cùng Thứ sử Ích Châu là Triệu Ngung.

Trước đó, Hạ Hầu Uyên tuy đánh thắng nhiều trận, nhưng Ngụy Vương Tào Tháo thường răn rằng: “Làm tướng phải có lúc biết khiếp sợ (cẩn trọng), không thể chỉ cậy vào lòng dũng cảm. Tướng lấy dũng làm gốc, nhưng phải hành bằng trí kế; nếu chỉ biết dùng dũng, thì cũng chỉ địch lại được một kẻ thất phu mà thôi.” Sau khi Hạ Hầu Uyên tử trận trong chiến dịch núi Định Quân, Tào Tháo đã ban bố “Quân sách lệnh” nói rằng: “Tháng này giặc đốt hàng rào sừng hươu của Hạ Hầu Uyên. Rào sừng hươu cách bản doanh 15 dặm, Uyên dẫn 400 quân đi xem xét, rồi sai lính sửa chữa. Giặc từ trên núi nhìn thấy, từ trong thung lũng đột ngột xông ra, Uyên sai binh đấu với giặc, giặc bèn vòng ra phía sau, quân rút lui mà Uyên chưa về kịp, thật đáng thương thay. Uyên vốn không giỏi dùng binh, trong quân gọi là ‘Bạch địa tướng quân’ ; làm quan Đốc soái vốn không nên tự mình ra trận, huống hồ là đi sửa rào sừng hươu sao?”

Trương Cáp dẫn binh rút về Dương Bình. Lúc bấy giờ quân Ngụy mới mất đi nguyên soái (Hạ Hầu Uyên), trong quân hỗn loạn, không biết nên làm gì. Đốc quân Đỗ Tập cùng Quách Hoài người Thái Nguyên thu thập tàn binh, tùy cơ ứng biến mà tôn Trương Cáp lên làm chủ soái. Trương Cáp ra mặt, chỉnh đốn quân đội, dàn trận nghiêm chỉnh, chư tướng đều chịu sự điều động của Cáp, lòng quân nhờ đó mới định. Lại dùng mưu lược của Quách Hoài mà giữ vững phòng tuyến. Sự việc được báo lên Ngụy Vương Tào Tháo, Tháo hết lời khen ngợi động viên, sai sứ giả tới biểu dương tiết tháo của Trương Cáp, đồng thời bổ nhiệm Quách Hoài làm Tư mã.

Tháng Ba, Ngụy Vương Tào Tháo từ Trường An xuất quân qua đường Tà Cốc, tiến sát Hán Trung. Lưu Bị nói: “Tào Tháo tuy đến nhưng cũng chẳng làm gì được, ta nhất định sẽ chiếm được Hán Xuyên.” Bèn tập trung quân lực giữ các nơi hiểm yếu, nhất quyết không giao chiến. Tào Tháo và Lưu Bị cầm cự nhau nhiều tháng, trong thời gian đó chỉ xảy ra trận chạm trán bất ngờ với bộ phận quân đội của Dực quân tướng quân Triệu Vân. Đến mùa hạ, tháng Năm, Tào Tháo rút toàn bộ các cánh quân từ Hán Trung về lại Trường An, Lưu Bị từ đó chiếm trọn Hán Trung.

Tào Tháo lo ngại Lưu Bị sẽ tiến lên phía Bắc thu phục người Đê ở Vũ Đô để uy hiếp Quan Trung, bèn dùng kế của Thứ sử Ung Châu là Trương Ký, sai Ký đến Vũ Đô, di dời hơn năm vạn hộ người Đê ra cư trú tại vùng ranh giới Phù Phong và Thiên Thủy. Đồng thời phái Tào Chân đến Vũ Đô đón nhóm Tào Hồng cùng rút về đóng quân tại Trần Thương, nhằm kiềm chế Lưu Bị và Gia Cát Lượng.

Mùa thu, tháng Bảy, Lưu Bị tự xưng là Hán Trung Vương, phong Quan Vũ làm Tiền tướng quân, ban tiết việt (quyền thay mặt Vua điều hành quân đội).

Quan Vũ sai Thái thú Nam Quận là Mi Phương trấn giữ Giang Lăng, Tướng quân Phó Sĩ Nhân trấn giữ Công An; còn bản thân Quan Vũ tự dẫn đại quân đi tấn công Tào Nhân tại Phàn Thành. Tào Nhân lệnh Tướng quân Vu Cấm và Lập nghĩa Tướng quân Bàng Đức đóng quân ở phía Bắc Phàn Thành.

Tháng Tám, mưa lớn liên miên, nước sông Hán Thủy dâng cao tràn bờ, mặt đất ngập sâu tới vài trượng; bảy đạo quân của Vu Cấm đều bị nước nhấn chìm. Vu Cấm cùng các tướng leo lên chỗ cao lánh nước, Quan Vũ thừa thế cưỡi thuyền lớn tới tấn công. Vu Cấm lâm vào đường cùng, bèn xin hàng.

Bàng Đức ở trên đê, mình mặc giáp, tay cầm cung, bắn phát nào trúng phát đó. Từ lúc bình minh dốc sức chiến đấu cho tới quá trưa, quân Quan Vũ tấn công càng gấp; Bàng Đức hết tên, phải đánh giáp lá cà. Đức càng đánh càng hăng, khí thế càng thêm mạnh mẽ, nhưng nước dâng mỗi lúc một cao, binh sĩ dưới quyền đều đã đầu hàng. Bàng Đức cưỡi thuyền nhỏ định quay về doanh trại của Tào Nhân, nhưng nước dữ làm lật thuyền, mất cả cung tên, một mình ôm lấy mạn thuyền nổi trôi trong nước, sau đó bị Quan Vũ bắt được. Khi bị giải đến, Bàng Đức đứng thẳng không quỳ.

Quan Vũ bảo rằng: “Huynh của ngươi đang ở Hán Trung , ta cũng muốn dùng ngươi làm tướng, sao không sớm hàng đi!”

Bàng Đức mắng rằng: “Thằng ranh con! Sao dám bảo ta hàng! Ngụy Vương có quân đội triệu người, uy chấn thiên hạ. Lưu Bị nhà ngươi chỉ là kẻ tài năng tầm thường, sao có thể đối địch! Ta thà làm ma của quốc gia, chứ không thèm làm tướng của lũ giặc!” Quan Vũ bèn lệnh giết Bàng Đức.

Bàng Đức khiêng hòm quyết chiến Quan Vũ, Quan Vân Trường uy chấn Hoa Hạ. Hình minh họa trong bản in ‘Tam Quốc Chí’ thời đầu nhà Thanh (bản lưu giữ của Đại Khôi Đường). (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)

Tào Tháo nghe tin ấy, rơi lệ nói rằng: “Ta quen biết Vu Cấm đã 30 năm, ngờ đâu khi lâm nguy gặp nạn, ông ta lại chẳng bằng được Bàng Đức!” Sau đó, Tháo phong cho hai con của Bàng Đức làm Liệt hầu.

Quan Vũ tấn công gấp rút Phàn Thành. Thành bị nước ngâm lâu ngày, nhiều chỗ bắt đầu sụp đổ, lòng quân dân đều kinh sợ. Có người nói với Tào Nhân rằng: “Cái nguy hôm nay, không phải sức người có thể chống đỡ được. Nên nhân lúc vòng vây của Quan Vũ chưa khép chặt, hãy cưỡi thuyền nhỏ trốn đi trong đêm”. Thái thú Nhữ Nam là Mãn Bàng nói: “Nước lũ dâng nhanh thì cũng rút nhanh, hy vọng sẽ không kéo dài lâu. Nghe nói Quan Vũ đã phái riêng một toán quân đến phía dưới huyện Giáp, từ Hứa Xương về phía Nam, lòng dân đang nhiễu loạn. Sở dĩ Quan Vũ chưa dám tiến quân tiếp là vì lo sợ quân ta sẽ đánh tập hậu đó thôi. Nay nếu ông bỏ chạy, thì vùng phía Nam Hoàng Hà không còn thuộc về quốc gia nữa, xin ông hãy nán lại trấn giữ”. Tào Nhân nói: “Phải!”. Bèn đem dìm ngựa trắng xuống nước làm lễ minh thệ cùng quân sĩ, đồng lòng quyết giữ thành. Trong thành lúc này cả người và ngựa chỉ còn vài ngàn, mặt nước dâng lên chỉ còn cách mặt thành vài gang tay (mấy tấc gỗ). Quan Vũ cưỡi thuyền sát bờ thành, lập vòng vây nhiều tầng, trong ngoài cắt đứt liên lạc. Từ Hứa Xương trở về phía Nam, không ngừng có người hưởng ứng Quan Vũ, Quan Vũ uy chấn khắp Hoa Hạ.

Ngụy Vương Tào Tháo bàn bạc việc dời đô khỏi Hứa Xương để tránh nhuệ khí của Quan Vũ. Quân tư mã Thừa tướng là Tư Mã Ý và Tây Tào thuộc Tưởng Tế thưa với Tháo rằng: “Bọn Vu Cấm bị nước nhấn chìm, đó là do thiên tai chứ không phải lỗi lầm trong chiến đấu, đối với đại kế quốc gia chưa đủ để gây tổn hại. Lưu Bị và Tôn Quyền bên ngoài tuy thân thiết nhưng bên trong lại xa cách; nay Quan Vũ đắc chí, Tôn Quyền chắc chắn không cam lòng. Có thể sai người khuyên Quyền đánh lén sau lưng Vũ, hứa cắt vùng Giang Nam phong cho Quyền, thì vòng vây tại Phàn Thành tự khắc sẽ giải.” Tào Tháo nghe theo.

Đến khi Quan Vũ đánh Phàn Thành, tướng trấn giữ Lục Khẩu của Tôn Quyền là Lữ Mông cáo bệnh nặng, lấy Lục Tốn thay thế. Lục Tốn vốn chưa có danh tiếng lẫy lừng nên không bị Quan Vũ dè chừng. Tốn đến Lục Khẩu, viết thư cho Quan Vũ, hết lời ca tụng công đức, tỏ vẻ khiêm nhường hết mực, bày tỏ ý muốn tận trung gửi gắm vào Vũ. Quan Vũ rất đỗi yên lòng, không còn nghi kỵ gì nữa, bèn dần dần rút bớt quân để chi viện cho Phàn Thành. Quan Vũ bắt được hàng vạn nhân mã của Vu Cấm, lương thực cạn kiệt, bèn tự ý lấy gạo ở kho Tương Quan của Tôn Quyền. Tôn Quyền nghe tin, liền xuất binh đánh tập kích Quan Vũ.

Lữ Mông đến Tầm Dương, giấu hết tinh binh trong thuyền, sai quân mặc áo trắng chèo thuyền, giả làm thường dân đi buôn, ngày đêm đi gấp. Các trạm quan sát ven sông do Quan Vũ đặt ra đều bị bắt trói sạch, vì thế Quan Vũ không hề hay biết gì. Các bộ tướng của Quan Vũ là Mi Phương, Phó Sĩ Nhân vốn luôn oán hận Vũ vì bị coi thường. Khi Quan Vũ xuất quân, Phương và Nhân cung cấp quân nhu không đầy đủ, Vũ nói: “Khi về sẽ trị tội!”. Cả hai đều sợ hãi, bèn mở cửa thành Nam Quận đầu hàng Lữ Mông.

Quan Vũ nghe tin Nam Quận đã thất thủ, lập tức rút khỏi vòng vây tại Phàn Thành để quay về phía Nam. Quan Vũ mấy lần sai người tới đưa tin qua lại với Lữ Mông, Mông đều hậu đãi sứ giả, cho đi dạo khắp trong thành, đến từng nhà hỏi thăm, có người còn tự tay viết thư gửi gắm tin tức. Khi sứ giả của Quan Vũ trở về, binh lính thầm hỏi thăm nhau, đều biết gia đình mình vẫn bình an vô sự, lại còn được đối đãi tử tế hơn cả lúc bình thường, vì thế quân sĩ của Quan Vũ không còn lòng dạ nào để chiến đấu nữa.

Quan Vân Trường đại chiến Từ Hoảng, Lữ Tử Minh dùng mưu chiếm Kinh Châu. Hình minh họa trong bản in ‘Tam Quốc Chí’ thời đầu nhà Thanh (bản lưu giữ của Đại Khôi Đường). (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)

Tôn Quyền bổ nhiệm Lữ Mông làm Thái thú Nam Quận, phong tước Triền Lăng hầu, ban tặng một trăm triệu tiền cùng năm trăm cân vàng; bổ nhiệm Lục Tốn làm Thái thú Nghi Đô.

Quan Vũ rút về phía Tây để giữ Mạch Thành. Tôn Quyền sai Chu Nhiên và Phan Chương chặn đứt các con đường rút lui. Tháng Chạp, Tư mã của Phan Chương là Mã Trung đã bắt sống được Quan Vũ và con trai là Quan Bình tại Chương Hương. Cả hai sau đó đều bị chém đầu, vùng Kinh Châu từ đó được bình định xong. Tôn Quyền chuyển thủ cấp của Quan Vũ đến cho Tào Tháo. Tào Tháo đã dùng lễ nghi dành cho tước Hầu để an táng ông, cũng là để khép lại một mối nhân duyên về chữ “Nghĩa” vốn được truyền tụng ngàn đời giữa Tào Tháo và Quan Vũ — mối quan hệ của những người anh hùng biết quý trọng nhau, hiểu rõ tài năng của nhau; anh hùng kết cỏ (nhận đại ân, sau khi chết vẫn báo đáp), dũng tuyền tương báo (nhận ân một giọt nước, báo đáp một dòng sông).

(Còn tiếp)

Dịch từ:

https://www.epochtimes.com/gb/16/4/28/n7783328.htm