Tác giả: Tần Chính
[ChanhKien.org]
Lời của Ban biên tập: Loạt bài này được viết dựa trên lý giải của tác giả đối với luận thuật trong “Kim Cương Kinh”. Chúng tôi cho rằng bài viết này có giá trị tham khảo nhất định đối với việc giảng chân tướng cho các nhân sĩ trong giới tôn giáo nên đã đăng lại tại đây. Đối với các đệ tử Đại Pháp không có liên quan đến việc giảng chân tướng cho các nhân sĩ tôn giáo thì không cần thiết phải đọc. Hy vọng mọi người dĩ Pháp vi Sư, làm tốt ba việc mà Sư phụ yêu cầu chúng ta làm.
(Theo Ban biên tập báo Nhân Dân: “Luận giải Kim Cương Kinh” là những tâm đắc thảo luận nghiên cứu Kinh Kim Cương giữa tiên sinh Tần Chính với bạn bè trong giới Phật giáo).
Đàm luận thứ 7
1. Chúng ta hãy xem “Đệ thập thất phẩm cứu kính vô ngã phân” (đoạn 17 Tột cùng không có ngã). Kết hợp các câu từ và ý nghĩa bắt đầu từ đoạn trước (đoạn 16), đều có liên quan đến sưu tập kinh điển Phật giáo, cũng có liên quan đến bản dịch của các dịch giả và bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Vì kinh điển Phật giáo mãi 500 năm sau khi Thích Ca Mâu Ni không còn tại thế mới được chỉnh lý, lúc đó đã qua ba lần biên tập, trong đó các đệ tử của Phật giáo Thượng Tọa Bộ và Phật giáo Hạ Tọa Bộ đã phân nhau ghi chép lại những lời dạy của Đức Phật và truyền từ đời này sang đời khác, mà đây chỉ là những lời dạy mà các đệ tử thời đó cho rằng khá quan trọng nên họ mới ghi nhớ. Mặc dù người xưa có trí nhớ tốt nhưng vẫn khó tránh khỏi có một số sai lầm và thiếu sót. Ngay cả sau 500 năm truyền bá, vẫn không có gì đảm bảo tính nhất quán. Để giữ nguyên tối đa ý nghĩa ban đầu lời giảng Pháp lúc đó của Đức Phật, khi biên tập người ta đã cân nhắc đến việc kết hợp nội dung bài giảng Pháp tại cùng một sự kiện được nhiều người khác nhau nhớ lại. Vào thời điểm đó, nó cũng được gọi là “Sách Gioan” hoặc “Sách của XX” giống như Kinh Thánh. Nó đã được XX ghi chép lại. Bởi vì Đức Phật đã giảng cho Ananda “Kinh Đại Bát Niết Bàn” trước khi Ngài nhập diệt (Kinh này rất ngắn gọn và nói về quá trình thành, trụ, hoại của Phật giáo, “Lấy Giới làm Thầy” và việc quản lý tăng đoàn sau khi nhập diệt. Vì tâm danh lợi, tâm hiển thị, các thế hệ sau đã biên soạn bộ kinh này thành 36 quyển, khiến nó trở nên cực kỳ đồ sộ, tất cả đều giả danh lời của Đức Phật).
Trước khi qua đời, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đặt ra một quy tắc: bất cứ khi nào trích dẫn lời Ngài, người ta phải thêm “Như thị ngã văn” (Tôi nghe như vậy), lấy Giới làm Thầy và im lặng loại trừ những kẻ phá hoại Pháp. Tôi nghe như vậy, cũng tương đương với “Tử viết” của Nho Giáo. Nếu suy nghĩ kỹ một chút, ta sẽ thấy kỳ lạ là Khổng Tử, Chúa Jesus và Thích Ca Mâu Ni không để lại bất kỳ bài giảng nào, nhưng chỉ có Lão Tử tự mình đã viết 5.000 từ, nhưng chúng lại không rõ ràng và ngàn đời cũng không giải thích được vẫn khó hiểu. Tại sao chân Đạo lại khó đạt được đến vậy? Bởi vì chân Đạo vốn rất trân quý. Kỳ thực, những lời từ đoạn 16 và những lời trong đoạn 17 đại khái giống nhau. Chúng được ghi lại ở đây để kiểm chứng và bổ sung cho nhau. Do sự mê tín dị đoan của các thế hệ sau, dẫn đến nhiều ý kiến khác nhau đã xuất hiện. Kỳ thực lúc đầu, thuật lại ở đây chính là sợ bỏ sót.
Một số người cho rằng người Ấn Độ thời đó nói chuyện rất dài dòng. Điều này thật đâu có thế được. Đức Phật là đấng Giác Giả tối cao và hoàn hảo, vậy tại sao lời nói của Ngài lại thiếu mạch lạc như vậy? Tuyệt đối không thể. Nguyên nhân là do thế hệ sau đã lẫn lộn và thậm chí giải nghĩa sai trong khi chỉnh lý và diễn giải lời của Phật. Bởi vì ba tôn giáo Nho, Phật và Đạo đều đã đấu tranh và hòa nhập vào lịch sử Trung Quốc trong hàng ngàn năm, trong sự phát triển lâu dài, yếu tố môi trường này cũng sẽ dẫn đến sự pha trộn và nhầm lẫn trong kinh điển Phật giáo, các đồ đệ Phật giáo qua nhiều thế hệ trong quá trình truyền thừa này cũng trộn lẫn quan niệm tự ngã và yêu ghét cá nhân vào kinh điển, làm cho kinh sách Phật giáo vô cùng rối loạn. Cái gọi là “Tam Tạng Kinh, Luật và Luận” là một bộ kinh đồ sộ, nhưng ngoại trừ giáo lý của chính Thích Ca Mâu Ni có thể được gọi là kinh điển Phật giáo ra, những giáo lý khác không thể được xếp ngang hàng với Kinh. Đại Đạo vốn là chí giản chí dị, Thích Ca Mâu Ni năm đó đã từng giảng về “Giới, Định, Huệ”, bản thân sự diễn hóa của công ấy và sự đề cao của tầng thứ cũng rất huyền diệu, vì chính Đức Phật đã làm điều đó, nên không cần phải giảng cho các đệ tử của Ngài. Con người ta khi lẫn lộn những quan niệm, yêu ghét và cảm xúc của mình, thì khiến con đường của họ trở nên vô cùng phức tạp, tạo ra vô số lối rẽ sai lầm. Người tu Đạo ngày nay đã không còn phân biệt được rõ nữa. Những con đường bắt đầu bằng hoa tươi và tiếng vỗ tay có thể dẫn đến địa ngục. Những ai thực sự chịu trách nhiệm về sinh mệnh của mình và muốn đạt được sự khai ngộ viên mãn chân chính, nhất định phải nhìn nhận việc tu luyện và Pháp của quá khứ một cách lý trí.
Năm đó Thích Ca Mâu Ni thuyết Pháp, Ngài cũng bị Bà La Môn giáo công kích. Khi Chúa Jesus thuyết Pháp, Ngài bị đóng đinh vào thập tự giá bởi những tín đồ Do Thái giáo biến dị bại hoại thời mạt Pháp, người Do Thái đã phải chịu sự bức hại trong 300 năm. Người xưa nói: Người đời sau sẽ nhìn vào hiện tại cũng như hôm nay nhìn vào ngày hôm qua. Từ xa xưa đến nay, con người dường như đã học được nhiều bài học kinh nghiệm, nhưng vẫn luôn giẫm lên những vết xe đổ. Đỗ Mục có câu thơ nổi tiếng: “Hậu nhân ai chi nhi bất giám chi, diệc sử hậu nhân nhi phục ai hậu nhân dã” (tạm dịch: Người đời than thở cho họ mà không biết lấy đó làm gương, khiến người đời sau lại than thở cho người đời sau). Tình hình hiện nay chẳng phải giống với lịch sử một cách kinh ngạc sao? Thế nhưng, chúng sinh trong mê chỉ vì chút danh lợi như mây khói thoáng qua ấy, vẫn muốn đo lường Đại Pháp, giao kèo với Đại Pháp!
2. Chúng ta hãy xem Kinh văn mà Thích Ca Mâu Ni đã giảng vào thời đó: “Nhĩ thời, Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: ‘Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân, phát A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm, vân hà ưng trụ, vân hà hàng phục kỳ tâm?’ Phật cáo Tu-bồ-đề: ‘Thiện nam tử, thiện nữ nhân phát A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm giả, đương sanh như thị tâm, ngã ưng diệt độ nhất thiết chúng sanh, diệt độ nhất thiết chúng sanh dĩ, nhi vô hữu nhất chúng sanh thật diệt độ giả. Hà dĩ cố? Tu-bồ-đề! Nhược Bồ-tát hữu ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, tức phi Bồ-tát’”. (Tạm dịch: Khi ấy ngài Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Người thiện nam, người thiện nữ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác làm sao an trụ, làm sao hàng phục tâm kia? Phật bảo Tu-bồ-đề: Người thiện nam, người thiện nữ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nên sanh tâm như thế này: Ta nên diệt độ tất cả chúng sanh, diệt độ tất cả chúng sanh rồi mà không có một chúng sanh thật diệt độ. Vì cớ sao? Tu-bồ-đề, nếu Bồ-tát còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả ắt không phải là Bồ-tát). Đây là sự lặp lại hoàn toàn của bài giảng thứ hai và kỳ thực là hồi ức do một người khác viết.
“Sở dĩ giả hà? Tu-bồ-đề! Thật vô hữu pháp phát A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm giả”. (Tạm dịch: Vì cớ sao? Tu-bồ-đề, thật không có Pháp (đây là nói loạn bậy được người đời sau dịch và thêm vào) phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác). Ở đây rõ ràng là người này có một số lỗi về trí nhớ. Điều này có thể thấy rõ khi tham khảo phần trước. Rõ ràng là người nghe giảng lúc đó không nhớ hết mọi thứ hoặc đã có một số lỗi xảy ra trong quá trình lưu truyền.
“Tu-bồ-đề! Ư ý vân hà? Như Lai ư Nhiên Đăng Phật sở, hữu Pháp đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề phủ?” “Phất dã Thế Tôn! Như ngã giải Phật sở thuyết nghĩa, Phật ư Nhiên Đăng Phật sở, vô hữu Pháp đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề”. Phật ngôn: Như thị, như thị! Tu-bồ-đề! Thật vô hữu Pháp Như Lai đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Tu-bồ-đề! Nhược hữu Pháp /Như Lai/ đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề giả, Nhiên Đăng Phật tắc bất dữ ngã thọ ký: Nhữ ư lai thế đương đắc tác Phật, hiệu Thích-ca Mâu-ni. Dĩ thật vô hữu Pháp đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, thị cố Nhiên Đăng Phật dữ ngã thọ ký, tác thị ngôn: Nhữ ư lai thế, đương đắc tác Phật, hiệu Thích-ca Mâu-ni’”. (Tạm dịch: Bạch Thế Tôn, không vậy! Như chỗ hiểu của con qua nghĩa Phật nói, Phật ở nơi Phật Nhiên Đăng không có Pháp được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Phật bảo: Như thế, như thế! Tu-bồ-đề, thật không có Pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này Tu-bồ-đề! Nếu có Pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì Đức Phật Nhiên Đăng ắt không thọ ký cho ta: Ở đời sau, ông sẽ được thành Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni. Do thật không có Pháp được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thế nên Đức Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho ta, nói thế này: Ở đời sau, ông sẽ được thành Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni).
Chúng tôi đã nói ở phần trước rằng trong thời kỳ tu luyện bình thường, đặc biệt là phương pháp tu luyện Niết Bàn này của Phật giáo, phương pháp được áp dụng là “diệt độ”, tức là không còn mang theo bản thể, không thay đổi trạng thái của sinh mệnh hậu thiên của anh ta mà chỉ là từ bỏ nó, khai ngộ chính là nhớ lại bản ngã ban đầu của mình, tất nhiên, sự viên mãn của tự tính này không phải được thêm vào từ bên ngoài, cũng không phải truy cầu từ bên ngoài. Cho nên Thích Ca Mâu Ni đã dùng sự khai ngộ của chính mình làm ví dụ để minh họa cho điểm này. Đây không phải là “không có Pháp” mà người ta nói xằng bậy, mà là ý nghĩa chân thực của sự công thành viên mãn. Chính Pháp ngày nay hoàn toàn không giống với điều này.
“Hà dĩ cố? Như Lai giả, tức chư pháp như nghĩa. Nhược hữu nhân ngôn: Như Lai đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Tu-bồ-đề! Thật vô hữu Pháp, Phật đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Tu-bồ-đề! Như Lai sở đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, ư thị trung vô thật vô hư. Thị cố Như Lai thuyết: Nhất thiết Pháp giai thị Phật Pháp”. (Tạm dịch: Vì cớ sao? Như Lai tức là nghĩa Như của các Pháp. Nếu có người nói Như Lai được Pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này Tu-bồ-đề! Thật không có Pháp, Phật được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này Tu-bồ-đề! Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, ở trong ấy không thật, không hư. Thế nên Như Lai nói tất cả Pháp đều là Phật pháp). Ở đây câu này khá khó hiểu đối với người bình thường. Và nó sẽ dẫn tới rất nhiều sự vô tri và cuồng loạn. Năm đó khi Khổng Tử dạy bắn cung cho các đệ tử, có người tranh luận về độ nông sâu của mũi tên nên bắn trúng đích, Khổng Tử đã sửa lại và nói: “Trong cuộc thi bắn cung, điều quan trọng nhất không phải là có thể xuyên thủng tấm bia da hay không, vì mỗi người có sức lực mạnh yếu khác nhau. Đây chính là quy tắc từ thời cổ đại”. Nghĩa là, trong bắn cung, người ta chỉ quan tâm đến việc có bắn trúng đích hay không, chứ không quan tâm đến độ sâu của mũi tên xuyên qua đích. Điều này cũng giống như đề cao tầng thứ tu luyện, chỉ quan tâm đến việc mình đã đạt đến tiêu chuẩn của tầng thứ đó hay chưa, chứ không chủ trương đối xử khác nhau dựa trên sự cao thấp của tầng thứ. Khi anh ta đạt đến tầng thứ của anh ta nên có thì anh ta sẽ có cuộc sống tốt đẹp trong vũ trụ. Mọi môn học và nghề nghiệp trên thế gian, kỳ thực nguồn gốc khởi đầu của nó đều từ con đường tu luyện của người xưa và là con đường tắt đặc biệt để trở về chốn cũ.
“Tu-bồ-đề! Sở ngôn nhất thiết Pháp giả, tức phi nhất thiết Pháp, thị cố danh nhất thiết Pháp. Tu-bồ-đề! Thí như nhân thân trường đại.” “Tu-bồ-đề ngôn: Thế Tôn! Như Lai thuyết nhân thân trường đại tắc vi phi đại thân, thị danh đại thân.” (Tạm dịch: “Này Tu-bồ-đề! Nói tất cả Pháp đó tức không phải tất cả Pháp, nên gọi là tất cả Pháp. Này Tu-bồ-đề thí như có người thân cao lớn.” “Tu-bồ-đề thưa: Bạch Thế Tôn! Như Lai nói thân người cao lớn ắt không phải thân lớn, ấy là cái tên gọi là thân lớn.”) Thân thể là thân thể của Đạo. Đạo vốn vô hình, giống như gió thổi, cờ bay phấp phới. Ngày nay, nó được mô tả là bồng bềnh trôi về hướng Đông. Làm sao chúng ta có thể dùng tất cả ngôn từ của con người để diễn tả bản thể của gió? Biểu đạt của cơn gió đó, tận cùng muôn vàn lời biểu đạt, cũng chỉ là biểu hiện của cơn gió, chứ không phải bản thân cơn gió. Chính là ý nghĩa này. Cho nên, ở tầng thứ Như Lai, người ta không thể thấy được căn bản của vũ trụ. Tất cả các Pháp mà Ngài nói đến đều không phải là căn bản của Pháp vũ trụ. Điều này giống như nói rằng “thân thể của một người trưởng thành”, đây chỉ là mô tả về những gì mắt nhìn thấy được, nhưng mô tả về “thân thể lớn lên” không phải là “thân thể lớn lên” thực sự. Lấy lá cờ để mô tả cơn gió càng khiến việc nhìn thấy nguồn gốc vô hình trở nên khó thực hiện được. Vì vậy, điều rất quan trọng là không nên xem lời giảng Pháp của Như Lai thành điều cố định bất biến. Bởi vì đây là Pháp mà Thích Ca Mâu Ni đã truyền dạy vào những năm cuối đời, giống như Khổng Tử đã nói trong những năm cuối: “Ngũ thập nhi tri thiên mệnh” (Tạm dịch: Năm mươi tuổi, mới hiểu được ý Trời), nên Ông đã dừng chân du hành, trở về nước Lỗ để biên soạn thi thư, sắp xếp lại các sách cổ, và viết nên Kinh Xuân Thu. Thích Ca Mâu Ni cũng đã chứng ngộ quả vị của Như Lai và biết được sứ mệnh của Ngài khi đến. Để giúp các đệ tử có thể đắc Pháp lúc mạt kiếp mạt Pháp, và để cho phó nguyên thần có thể đạt đến quả vị cao hơn vào thời điểm đó không bị ràng buộc bởi những Pháp lý mà Ngài đã giảng, đặc biệt là những Pháp lý vốn không cao lắm mà Ngài đã giảng vào thời kỳ đầu, không thể xem nó là những thứ gì đó bất biến, vì vậy Ngài mới liên tục nói về đạo lý “phi Pháp Pháp dã”, nghĩa là “Pháp vô định Pháp”, Ngài cũng nói rõ rằng Ngài không hề giảng về Pháp của vũ trụ, ngay cả thực chất của Như Lai Pháp ở tầng thứ của Ngài cũng chỉ là một sự miêu tả, và Ngài cũng không giảng, hơn nữa Pháp của vũ trụ chẳng phải vượt xa hơn hẳn Pháp căn bản của vũ trụ mà Ngài đã nhận thức sao?
“Tu-bồ-đề! Bồ-tát diệc như thị”. (Tạm dịch: “Này Tu-bồ-đề! Bồ-tát cũng như thế”). Lời dịch này không chính xác, ý nghĩa là tâm Bồ Tát cũng phải đặt vào đó. “Nhược tác thị ngôn: Ngã đương diệt độ vô lượng chúng sanh, tức bất danh Bồ-tát”. (Tạm dịch: “Nếu nói lời thế này: Ta sẽ diệt độ vô lượng chúng sanh, ắt không gọi là Bồ-tát”). Các vị Bồ Tát ở tầng thứ này của Như Lai chưa thành tựu ở thế gian, Bà chỉ giúp Đức Phật cứu độ chúng sinh, bản thân Bà cũng không độ được con người. Vì vậy, Bồ Tát không thể nói rằng họ cứu độ chúng sinh như Như Lai. “Hà dĩ cố? Tu-bồ-đề! Vô hữu Pháp danh vi Bồ-tát”. (Tạm dịch: “Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề! Không có Pháp tên là Bồ-tát”). Điều này có nghĩa là Pháp của Bồ Tát không phải là Pháp của Phật. “Thị cố Phật thuyết: nhất thiết Pháp vô ngã, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả. Tu-bồ-đề! Nhược Bồ-tát tác thị ngôn, ‘Ngã đương trang nghiêm Phật độ’, thị bất danh Bồ-tát”. (Tạm dịch: Thế nên Phật nói: Tất cả Pháp không ngã, không nhân, không chúng sanh, không thọ giả. Này Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát nói lời thế này: ‘Ta sẽ trang nghiêm cõi Phật’, ấy chẳng gọi là Bồ-tát”). Những người như vậy vẫn còn ôm giữ quan niệm của con người, còn tâm danh lợi mà nghĩ đến những việc cao tầng, lại còn có ý tưởng khoe khoang, kỳ thực là tranh công của người khác làm công của mình, làm sao họ có thể trở thành Bồ Tát được? Đó nhất định là giả tướng của tùy tâm nhi hóa. Bởi vì thành tựu của Bồ Tát chính là đặc tính của vũ trụ, và Pháp môn tu luyện đã diễn hóa thành một cái gì đó cụ thể, hơn nữa, Bồ Tát nhớ lại và chứng ngộ được bản lai chân thật của mình và phản bổn quy chân, quy vị tức là trở về với chính mình trước đây, làm sao Bồ Tát có thể có ý niệm về một cõi Phật trang nghiêm? Ồ, tôi đã thành tựu rồi vậy là tôi đã cống hiến cho đất Phật rồi sao? Giống như bạn đã trở về nhà sau một hành trình dài, trở về với bản lai của mình mà thôi. Chỉ có con người mới có những suy nghĩ như vậy, vì con người bị hãm trong cái tình mà suy nghĩ.
Đây là duyên cớ gì vậy? (Hà dĩ cố?) Như Lai nói trang nghiêm cõi Phật tức chẳng phải trang nghiêm, chỉ lấy danh là trang nghiêm. Này Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát thông đạt Pháp vô ngã, Như Lai gọi đó là chân thật Bồ-tát. Ngã của vô ngã là chân ngã. Điều này chứng tỏ nó hòa hợp với Trời. Không tướng vô tướng là nói thực tướng thành tựu tính không minh mẫn của vô chấp trước. Đó là một vị Bồ Tát chân chính đã đạt được quả vị. Khi nói điều này, kỳ thực Thích Ca Mâu Ni đã chỉ ra sự chân thực này cho Tu Bồ Đề thành tựu bộ phận này rồi. Về phần này, hãy xem bài viết “Giới Chi Thôi bất ngôn lộc” trong Tả Truyện, được đăng lại trong “Cổ Văn Quan Chỉ”, cái gọi là “tham thiên chi công dĩ vi kỷ công” có nghĩa là con người không hiểu rằng mọi trí tuệ, của cải và năng lực đều đến từ tình yêu thương và ân huệ của Thần, từ sức mạnh của tạo hóa. Do đó Thánh nhân “thuật nhi bất tác” (tức là thuật lại chứ không sáng tác) coi là hiểu về lễ nghĩa. Trang Tử nói: “Cố chí nhân vô kỷ, Thần nhân vô công, Thánh nhân vô danh” (Tạm dịch: Cho nên bậc Chí nhân không cần bản ngã, bậc Thần nhân không cần công đức, và bậc Thánh nhân không cần danh xưng). Người xưa nói: “Tự phạt giả vô công” (Tạm dịch: Kẻ khoe khoang thành tựu của mình thì không có công đức). Tức là chỉ điều này. Một người sắp thành tựu không có suy nghĩ danh lợi; tất cả những gì họ sở hữu là nhận thức thanh tịnh tự nhiên, thật tường tận yên bình.
3. “Đệ thập bát phẩm nhất thể đồng quán phân” (Đoạn 18: đồng quán có một thể) trên thực tế là điều giảng về sự phân biệt của Phật gia về tầng thứ “thiên mục”, về sinh mệnh đạt được đến tầng thứ đó, thiên mục được khai mở ở tầng thứ đó. Trong Phật giáo, thiên mục được chia thành năm tầng thứ lớn: “Nhục Nhãn (thông), Thiên Nhãn (thông), Huệ Nhãn (thông), Pháp Nhãn (thông), và Phật Nhãn (thông)”. Kỳ thực mỗi một tầng thứ lại được chia thành thượng, trung và hạ. Đây chỉ là giảng khái quát ngắn gọn về phép thần thông của Phật thông qua thiên mục, một công năng rất quan trọng, tu luyện Phật Pháp là một hình thức thực chứng. Trước đây giảng về “tín, giải, hành, chứng” (tín ngưỡng, lý giải, tu hành, chứng ngộ), sự chứng minh này không phải là một sự chứng minh lý thuyết, mà là một sự chứng ngộ chân chính, thực sự có năng lực này. Do đó, chúng ta có thể hiểu ngược lại luận thuật về tính không của “Kim Cương Kinh”, kỳ thực không phải là không có. Ví dụ, mắt trần của người thường không thể nhìn thấy các không gian khác. Không chỉ vậy, họ thậm chí còn không nhìn thấy tia hồng ngoại hay tia cực tím. Vậy làm sao bạn có thể giảng về thế giới Phật quốc với anh ta? Liệu họ có dựa trên quan niệm và cảm xúc của mình để suy nghĩ không? Theo quan điểm vật lý lượng tử hiện đại này cho rằng mọi rung động đều tạo ra vật chất, liệu việc tạo ra huyễn cảnh giả tướng trái lại có thực sự che giấu được sự thật không? Khẳng định là có thể. Cho nên mới khuyên bảo người tu luyện không nên dùng quan niệm của con người để suy nghĩ để truy cầu. Vì vậy, Ngài đã giảng về một Pháp “phi Pháp Pháp dã” (Pháp không phải là Pháp mà là Pháp), nhưng các thế hệ sau đã truyền bá thông tin sai lệch, dẫn đến sự hiểu lầm tràn lan và khiến người ta không thể hiểu được ý nghĩa thực sự mà Thích Ca Mâu Ni muốn truyền đạt.
“Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Như Lai hữu nhục nhãn phủ?”
“Như thị Thế Tôn! Như Lai hữu nhục nhãn”.
“Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Như Lai hữu thiên nhãn phủ?”
“Như thị Thế Tôn! Như Lai hữu thiên nhãn”.
“Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Như Lai hữu tuệ nhãn phủ?”
“Như thị Thế Tôn! Như Lai hữu tuệ nhãn”.
“Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Như Lai hữu Pháp nhãn phủ?”
“Như thị Thế Tôn! Như Lai hữu Pháp nhãn”.
“Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Như Lai hữu Phật nhãn phủ?”
“Như thị Thế Tôn! Như Lai hữu Phật nhãn”.
Tạm dịch:
Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Như Lai có nhục nhãn chăng?
Bạch Thế Tôn, như thế! Như Lai có nhục nhãn.
Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Như Lai có thiên nhãn chăng?
Bạch Thế Tôn, như thế! Như Lai có thiên nhãn.
Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Như Lai có tuệ nhãn chăng?
Bạch Thế Tôn, như thế! Như Lai có tuệ nhãn.
Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Như Lai có Pháp nhãn chăng?
Bạch Thế Tôn, như thế! Như Lai có Pháp nhãn.
Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Như Lai có Phật nhãn chăng?
Bạch Thế Tôn, như thế! Như Lai có Phật nhãn.
Như đã đề cập ở trên, việc trình bày và phân tích về năm tầng thứ của thiên mục cũng đã rõ rồi. Chỉ Phật là có đầy đủ cả năm tầng. Tên gọi đầy đủ trọn vẹn được sử dụng trong Phật giáo là “Cụ túc tượng” (hình ảnh của sự trọn vẹn tuyệt đối), đó chính là sự viên mãn vô ngại vô lậu khi Phật thực sự thành tựu. Vì Như Lai có nhục nhãn thông nên có thể thấu thị nhân thể và có thần thông khiến cho ma nữ hiện rõ ra trò hề nhục thân bẩn thỉu của mình và khiến ma nữ cảm thấy xấu hổ. Như Lai có thiên nhãn thông, có thể nhìn xa vạn dặm; Như Lai có huệ nhãn thông, có thể nhìn thấu thời không khác; Như Lai có Pháp nhãn thông, có thể biết “vạn vật đều có linh” và biết được tâm tư của mọi vật. Như Lai có Phật nhãn thông, có thể biết được quá khứ, hiện tại và tương lai.
“Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Như Hằng hà trung sở hữu sa, Phật thuyết thị sa phủ? – Như thị Thế Tôn! Như Lai thuyết thị sa. – Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Như nhất Hằng hà trung sở hữu sa, hữu như thị sa đẳng Hằng hà, thị chư Hằng hà sở hữu sa số, Phật thế giới như thị ninh vi đa phủ?” (Tạm dịch: “Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Như trong sông Hằng có bao nhiêu cát, Phật nói là cát chăng? – Bạch Thế Tôn, như thế! Như Lai nói là cát. – Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Như trong một sông Hằng có bao nhiêu cát, có những sông Hằng bằng số cát như thế, có các thế giới của Phật bằng số cát của những sông Hằng ấy, như thế thật là nhiều chăng?”). Ở đây Thích Ca Mâu Ni nói rằng có nhiều Phật như cát sông Hằng, và các thế giới Phật quốc cũng nhiều như vậy. Hiểu được điều này, đạo lý “phi Pháp Pháp dã”, sẽ không sinh ra luận thuyết xằng bậy kiến giải vô lý nực cười rằng chỉ có Pháp trong Phật giáo mới là Phật Pháp duy nhất. Những kẻ thậm chí còn chưa hiểu nguyên văn Pháp của Thích Ca Mâu Ni, mà cứ liên tục nói về Phật, có thể không nói gì về Phật nhưng lại phỉ báng chính Pháp, thì đó chỉ là mượn cờ hiệu của Thích Ca Mâu Ni để làm bại hoại Ngài và Pháp của Ngài mà thôi. Kỳ thực mọi điều Phật dạy đều là sự chứng ngộ của Ngài đối với các Pháp lý của vũ trụ, làm sao tất cả có thể giống nhau được!
“‘Thậm đa Thế Tôn!’” “Phật cáo Tu-bồ-đề: ‘Nhĩ sở quốc thổ trung, sở hữu chúng sanh, nhược can chủng tâm, Như Lai tất tri.’” (Tạm dịch: “Bạch Thế Tôn, rất là nhiều! Phật bảo Tu-bồ-đề: Trong các cõi nước đầy rẫy như thế, có tất cả chúng sanh có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai thảy đều biết”. Bởi vì mọi thứ đều là biểu đạt của các tâm ấy trong một cơ chế. Vì sự khác biệt về thời không, nhân tâm động một niệm, khắp cả thế giới mười phương đều biết rõ. Người tu luyện không cần phải bày tỏ gì với người khác. Chỉ cần bạn thành tâm thực lòng, Phật sẽ tự nhiên hiểu. Có thể biết “Nhân tâm động nhất niệm, Thiên địa tận giai tri” (Lòng người động một niệm, Trời đất đều biết hết) không phải là lời nói suông? Đạt đến cảnh giới của Như Lai, Ông có thể thấy rõ tất cả chúng sinh bên dưới mình, vì là Phật nhãn thông nên biết hết mọi việc trong mười phương, nhưng Ngài không đi vào bất kỳ loại ý nghĩ nào. Biết mọi thứ là có trí tuệ toàn diện. Tất nhiên, một khi đạt đến cảnh giới đó, trạng thái chân thân cũng không phải dùng cảm xúc và trí tưởng tượng thấp kém của họ để có thể lý giải rõ ràng.
“Hà dĩ cố? Như Lai thuyết: Chư tâm giai vi phi tâm, thị danh vi tâm”. (Tạm dịch: Vì cớ sao? Như Lai nói các tâm đều không phải tâm, ấy gọi là tâm). Những kẻ gọi là tâm anh tâm tôi chỉ là những cái tên cưỡng ép. Chúng chẳng qua chỉ là cái vẻ ảo tưởng về sự khác biệt ở tầng thứ con người. “Sở dĩ giả hà? Tu-bồ-đề! Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc”. (Tạm dịch: “Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề, tâm quá khứ không thể được, tâm hiện tại không thể được, tâm vị lai không thể được”). Các sinh mệnh không thể tự biết. Không có sinh mệnh nào không được quản. Các sinh mệnh được trao cho sự lựa chọn tự chủ ở nhiều mức độ khác nhau, nhưng những lựa chọn này cũng bị giới hạn bởi những cấp có tầng thứ cao hơn. Thích Ca Mâu Ni đã nhìn thấy được điều gì vào thời điểm đó? Khi đạt đến tầng Như Lai ấy, Ngài thấy rằng tất cả mọi hoạt động của sinh mệnh đều được an bài hết sức tinh tế tỉ mỉ, và cái gọi là quá khứ, hiện tại và tương lai, kỳ thực đang diễn ra cùng một lúc ở những nơi “quán trọ” khác nhau. Ngay cả khi bản thân các sinh mệnh muốn tự chủ thì vào thời điểm đó điều đó cũng là không thể. Vì vậy, Ngài đã yêu cầu Tu-bồ-đề và các đệ tử của Ngài phải dập tắt mọi ảo vọng ngông cuồng, vì mọi thứ đều là sự diễn biến của số mệnh, và ảo vọng chỉ dẫn đến sự suy đồi của sinh mệnh, khiến cơ hội được đắc cứu càng trở nên xa vời hơn. Đây là trạng thái theo Pháp lý của vũ trụ cũ, điều này khác với yêu cầu trong quá trình Chính Pháp.
4. “Đệ thập cửu phẩm Pháp giới thông phân phân (Đoạn thứ 19: “Pháp giới thông suốt không bị ngăn trở”): “Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Nhược hữu nhân mãn tam thiên đại thiên thế giới thất bảo, dĩ dụng bố thí, thị nhân dĩ thị nhân duyên đắc phước đa phủ? – Như thị Thế Tôn! Thử nhân dĩ thị nhân duyên đắc phước thậm đa. Tu-bồ-đề! Nhược phước đức hữu thật, Như Lai bất thuyết đắc phước đức đa, dĩ phước đức vô cố, Như Lai thuyết đắc phước đức đa. (Tạm dịch: Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Nếu có người đem thất bảo đầy rẫy cả tam thiên đại thiên thế giới dùng bố thí, người ấy do nhân duyên này được phúc đức nhiều chăng? Bạch Thế Tôn! Như thế! Người này do nhân duyên đó được phúc đức rất nhiều. Này Tu-bồ-đề! Nếu phúc đức có thật, Như Lai không nói rằng phúc đức nhiều, do phúc đức không có nguyên do, nên Như Lai nói được phúc đức nhiều”). Điều đó có nghĩa là gì? Bởi vì từ những ngày đầu Thích Ca Mâu Ni đã dạy các đệ tử của Ngài về luật nhân quả, hơn nữa truyền thống tu khổ hạnh và bố thí trong Bà La Môn giáo của Ấn Độ, những đệ tử Thượng Tọa Bộ (Theravada) tu đến hiện nay đã hình thành một tục lệ đó chính là khổ hạnh và bố thí là tinh tấn nhất môn. Nhưng sau khi chấp trước vào hữu vi sẽ hình thành những chướng ngại và chấp trước mạnh mẽ.
Giải Pháp của Thích Ca Mâu Ni ở đây nhắm vào trạng thái “hữu vi” mà vào thời điểm đó khắp nơi chưa ý thức được, Ngài nhiều lần nhấn mạnh không phải hữu vi để tích lũy phúc đức mà nên “buông bỏ” để “đạt được” “vô vi”. Đồng hóa với “vô vi”. Bởi vì “tất cả các bậc Thánh hiền đều dựa vào Pháp vô vi mà có sự phân biệt”. Về cơ bản là buông bỏ vô lậu những chấp trước trong tâm mình một cách kiên định, chứ không phải hữu vi làm được bao nhiêu công đức. Nhưng do vì quá trình truyền bá hỗn loạn sai sót, những ý nghĩa văn bản như thế khiến con người rất khó hiểu.
5. Chúng ta hãy tiếp tục với “Đệ nhị thập phẩm ly sắc ly tướng” (“Đoạn thứ 20: lìa sắc lìa tướng”): “Tu-bồ-đề! ư ý vân hà? Phật khả dĩ cụ túc sắc thân kiến phủ? – Bất dã Thế Tôn! Như Lai bất ưng dĩ sắc thân kiến”. (Tạm dịch: Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Phật có thể do đầy đủ sắc thân mà thấy chăng? Bạch Thế Tôn, không vậy! Như Lai không nên do đầy đủ sắc thân mà thấy). Đoạn Kinh này giảng về một thiên lý. Phật Chủ đã từng nêu rõ đạo lý trong kinh văn:
“Vô luận là Phật Đạo Thần khi cứu độ thế nhân nhất định sẽ hạ thế gian, dùng hình tướng con người mà hành sự, dùng ngôn ngữ con người mà hiển thị Pháp lý…” (Tinh Tấn Yếu Chỉ 2 – Các thệ ước của chư Thần đang thực hiện).
Bởi vì nơi này của con người là không gian của cõi mê, và bởi vì những sinh mệnh nào đã biến thành không tốt rồi mới rớt đến tầng này, nên phải ngộ ra từ trong mê.
Tất cả các trạng thái của xã hội nhân loại và các thành phần cấu tạo nên cơ thể con người đều đang hình thành nên cái mê này. Anh ta không nhìn thấy được không gian khác, vì cặp mắt thịt sẽ cố định vật chất trong không gian tầng này ở trạng thái này, như thế anh ta mới có thể ở lại đây. Vậy, khi Phật đến truyền bá Phật Pháp, làm sao Ngài có thể xuất hiện trước thế gian với thần thông vĩ đại và sự hiện diện uy nghiêm? Một hình ảnh sáng chói như vậy, một sự Thần thánh vô lượng như vậy, không cân xứng với con người, hơn nữa như thế là vi phạm luật Trời, và chính ông ta sẽ rớt xuống trước, bởi vì ông đã vi phạm giới luật của Trời. Vì vậy, ông không thể để người ta nhìn thấy nơi thế gian với đầy đủ sắc thân như con người. Đã như thế nên ở tầng thứ tương sinh tương khắc, sẽ có nhiều việc thoạt nhìn thì giống như người thường nhưng kỳ thực lại không phải vậy. Làm sao một người trần mắt thịt và không có chính niệm lại có thể bức hại Phật được? Một khi sứ mệnh của họ đã hoàn thành, những người đáng được cứu độ đã được cứu độ, thế thì những kẻ còn lại đang làm bại hoại thế giới cũng không cần phải giữ lại. Xưa nay, mỗi lần trước khi xã hội nhân loại bị hủy diệt, đều luôn có một đợt đào thải, đồng thời chính trong họa nạn đó, những người có thể thành tựu mới được thành tựu. “Hà dĩ cố? Như Lai thuyết cụ túc sắc thân, tức phi cụ túc sắc thân, thị danh cụ túc sắc thân”. (Tạm dịch: “Vì cớ sao? Như Lai nói đầy đủ sắc thân tức chẳng phải đầy đủ sắc thân ấy gọi là đầy đủ sắc thân”). Như Lai có Phật Pháp thần thông trí huệ vô lượng, trong thế giới Phật quốc của mình, Ngài đương nhiên có đầy đủ sắc thân nghiêm trang mỹ hảo, Pháp của Ngài cũng viên dung với tầng thứ sở tại của Ngài và thấp hơn, Pháp thân của Ngài tùy duyên mà biểu hiện tùy theo hoàn cảnh, nhưng tư tưởng và hành động của Pháp thân cũng phù hợp và tuân theo nguyên lý của vũ trụ. “Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Như Lai khả dĩ cụ túc chư tướng kiến phủ?” “Phất dã Thế Tôn! Như Lai bất ưng dĩ cụ túc chư tướng kiến. Hà dĩ cố? Như Lai thuyết chư tướng cụ túc tức phi cụ túc, thị danh chư tướng cụ túc”. (Tạm dịch: “Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Như Lai có thể do đầy đủ các tướng mà thấy chăng?” “Bạch Thế Tôn, không vậy! Như Lai không nên do đầy đủ các tướng mà thấy. Vì cớ sao? Như Lai nói các tướng đầy đủ tức chẳng phải đầy đủ, ấy gọi là các tướng đầy đủ”). Nhìn vào bản dịch của Cưu Ma La Thập, có thể được coi là đã để lại họa loạn và khổ nạn cho người đời sau. Bộ kinh này vốn ban đầu đã khải thị những đạo lý rất rõ ràng, nhưng ông ấy đã biến nó thành những câu vè khó phát âm. Nhiều học giả sau này đã dành cả cuộc đời để nghiên cứu kinh này nhưng vẫn chưa đạt được sự hiểu biết chân chính, khắp nơi đều xuất hiện hiểu sai và hiểu không đúng. Kỳ thực ý nghĩa của lời nói này chỉ đơn giản là nếu bạn muốn thấy diện mạo ban đầu của Như Lai, thì phải tu luyện để trở thành một vị Phật. Bạn không thể nhìn thấy Như Lai hay hiểu biết về thần thông của Ngài khi chấp trước vào trạng thái của nhân tướng. Vốn dĩ các bậc Chân nhân của Đạo gia cũng giảng “Đạo thuận theo tự nhiên”. Đức Phật chân chính và Đại Đạo duy hộ đặc tính của vũ trụ và bảo vệ các yếu tố thuần chính của vũ trụ, công lao tham gia vào việc tạo hóa trời đất này lại không phải như người ta nghĩ, mà là “Vô vi nhi nhậm tự nhiên” (tạm dịch: Vô vi và tùy theo tự nhiên).
(Còn tiếp)
Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/48516