Tác giả: Tổ Văn hóa The Epoch Times
[ChanhKien.org]
Hoàng đế Khang Hy đã thực thi một loạt chính sách thương dân, ban ân, an định lòng dân, giúp nền kinh tế nhanh chóng phục hồi, đặt nền móng vững chắc cho thời kỳ thịnh thế của Đại Thanh. Trong hình là Khang Hy Đại đế, người đã khai sáng thời kỳ Khang – Ung – Càn thịnh thế. (Ảnh: The Epoch Times chế tác)
Trong lịch sử Trung Hoa cổ đại, các bậc quân chủ thánh minh qua các triều đại nếu muốn làm nên sự nghiệp trị vì vĩ đại, thảy đều coi việc khuyến khích nông tang (nông nghiệp và trồng dâu nuôi tằm) là căn bản của Vương đạo. Hoàng đế Khang Hy từng viết một bài “Nông tang luận”, trong đó trình bày tầm quan trọng của nông nghiệp với quốc gia: Cày cấy ruộng đồng là nguồn cội của cái ăn, nếu bị tổn hại, bách tính sẽ phải chịu đói; trồng dâu dệt vải là nguồn cội của cái mặc, nếu bị tổn hại, bách tính sẽ phải chịu rét. Trong hoàn cảnh như vậy, bách tính sẽ không thể lấy nhân nghĩa đạo đức để tự ràng buộc bản thân, quốc gia cũng theo đó mà khó tránh khỏi những cuộc tranh chấp, biến loạn.
Nhưng vào đầu triều Thanh, do những nguyên nhân như chiến tranh loạn lạc, việc khoanh chiếm ruộng đất và sưu cao thuế nặng, đất canh tác trong nước bị bỏ hoang, bách tính tứ tán lưu vong, dẫn đến quốc khố thiếu hụt tiền thuế, dân sinh khốn cùng. Thêm vào đó, Hoàng đế Khang Hy vừa đích thân chấp chính chưa được bao lâu thì Tam Phiên làm loạn, khiến cho tình cảnh này càng thêm phần nghiêm trọng. Kể từ khi tự mình thính chính, Hoàng đế Khang Hy đã đặc biệt quan tâm đến nỗi thống khổ của dân gian, hết sức chú trọng đến tình hình nông nghiệp được mùa hay mất mùa ở khắp các địa phương. Có học giả thống kê rằng, trong hơn 40 năm dưới triều Khang Hy, trong số tấu chương của các đại thần trong và ngoài kinh thành còn lưu giữ được, có khoảng một nửa là những tấu báo liên quan đến khí hậu và tình hình thu hoạch lương thực.
Hoàng đế Khang Hy từng nói với các đại thần rằng: “Từ xưa đến nay, các bậc quân vương phần nhiều đều chán ghét việc nghe tấu báo về chuyện đạo tặc hay thủy tai hạn hán, mà đâu hiểu rằng nhìn mầm mà biết cây, nếu sớm biết trước tình hình thì sẽ có sự chuẩn bị, từ đó mới dễ dàng tìm ra được đối sách xử trí”. Trên cơ sở tìm hiểu tường tận tình hình nông nghiệp của quốc gia, Hoàng đế Khang Hy đã thực thi một loạt chính sách thương dân, ban ân, an định lòng dân, giúp nền kinh tế nhanh chóng hồi phục, tạo dựng nền tảng vững chắc cho thời kỳ Đại Thanh thịnh thế.
Khuyến khích khai hoang
“Mỗi lần Trẫm xuất tuần, đều đích thân đến nhiều nơi, cho dù là sinh kế của bách tính ở những vùng xa xôi hẻo lánh, cũng không điều gì là không thấu hiểu”. — Hoàng đế Khang Hy
(Nguồn: Trẫm mỗi thứ tuần hạnh, tuần lịch phương ngung, tuy cùng hương tích nhưỡng, tiểu dân chi sinh kế, tiên bất chu tri. — “Dụ Nội các”)
Tác phẩm “Canh chức đồ sách: Canh” do Lãnh Mai thời nhà Thanh vẽ. (Tư liệu công cộng)
Vào triều Minh có một số lượng lớn điền ấp của các phiên vương, đến triều Thanh đều trở thành đất hoang vô chủ, gọi là “phế phiên điền sản”. Bách tính nếu đến cày cấy, thì phải gánh chịu cả hai tầng tô thuế của đất phiên vương và đất dân, lại dễ nảy sinh tranh chấp về tài sản. Do đó, mặc dù dưới thời Thuận Trị, triều đình đã ra sức khuyến khích việc cày cấy, nhưng thành quả khai khẩn ruộng đất của dân lại vẫn không đạt được kết quả đáng kể. Trước tình hình đó, Hoàng đế Khang Hy đã nhanh chóng định ra phương sách ứng phó.
Trước tiên là xác định rõ quyền sở hữu, để người canh tác trở thành chủ sở hữu đất đai một cách danh chính ngôn thuận. Năm Khang Hy thứ 7 (năm 1668), Hoàng đế Khang Hy hạ lệnh điều tra làm rõ phần ruộng đất bị bỏ hoang của các phiên vương, căn cứ theo giá đất mà bán lại cho bách tính, sau đó mới trưng thu thuế lương thực. Về sau, xét thấy gánh nặng kinh tế của bách tính quá đỗi nặng nề, năm tiếp theo, ông lại đưa ra một quyết định quan trọng: ban không phần ruộng đất này cho bách tính sở hữu, gọi là “canh danh điền” (ruộng đổi tên). Sau này, Hoàng đế Khang Hy lại hạ lệnh: “Phàm là ruộng đất nhiều năm không có người cày cấy thu hoạch, thì đều được xem đất bỏ hoang, nếu bách tính đến khai khẩn, chủ cũ không được quyền can thiệp nữa”. Bằng vào cách này, ngày càng có nhiều bách tính sở hữu được ruộng đất, được an cư lâu dài, nhờ vậy tiền thuế của quốc gia cũng theo đó mà gia tăng qua từng năm.
Thời xưa, triều đình căn cứ theo diện tích và hướng mà trưng thu thuế ruộng từ đất canh tác, gọi là “khởi khoa”. Vào đầu triều Khang Hy, đất hoang phải 3 năm mới bắt đầu khởi khoa, từ năm Khang Hy thứ 10 (năm 1671) trở đi, thời hạn bắt đầu khởi khoa được nới rộng, từ 4 năm, 6 năm, có lúc kéo dài tới tận 10 năm. Một số khu vực thuộc vùng duyên hải Đông Nam, Tây Nam và Tây Bắc chủ yếu lấy thời hạn 5-6 năm làm chuẩn để bắt đầu khởi khoa, thậm chí có nơi còn được miễn thăng khoa vĩnh viễn.
Sau khi quốc gia đã giàu có sung túc, những vùng đất hoang đã được khai khẩn tuy chưa thăng khoa, nhưng Hoàng đế Khang Hy lại rộng lượng bày tỏ, đất canh tác không cần phải thu thêm thuế, ông cũng chưa từng cho tiến hành đo đạc đất đai trên quy mô lớn, việc thanh tra rà soát cũng không quá nghiêm ngặt. Đây chính là tấm lòng của Hoàng đế Khang Hy, mong muốn bách tính có thể hưởng trọn vẹn nhiều lợi ích thiết thực hơn từ việc khai khẩn đất hoang.
Tại các vùng biên cương, Hoàng đế Khang Hy sử dụng phương thức đồn điền của quân đội để tiếp tục mở rộng đất canh tác, kết hợp việc làm phồn thịnh vùng biên giới với việc trấn thủ và bảo vệ biên cương. Trong thời gian đàm phán với Nga La Tư, Hoàng đế Khang Hy đề xuất đóng quân lâu dài tại Hắc Long Giang và thành Hô Mã Nhĩ, duy trì thế đối đầu lâu dài với quân Nga, đồng thời yêu cầu: “Quân ta một khi đến nơi thì lập tức tiến hành canh tác, không để lâm vào cảnh thiếu thốn”. Về sau, khu vực Đông Bắc lấy Hắc Long Giang làm trung tâm đã mở rộng ra các vùng phụ cận thành một khu đồn điền rộng lớn, chẳng những đáp ứng đủ lương thực và quân nhu tiếp tế cho quân đội, mà còn có thể nộp về những khoản thuế ruộng lớn về cho triều đình.
Trong thời gian chinh phạt Cát Nhĩ Đan, Hoàng đế Khang Hy cũng áp dụng phương thức tương tự, cho xây dựng hai khu đồn điền lớn. Ông còn căn cứ theo đặc điểm khí hậu địa phương mà dặn dò các quan viên chỉ huy canh tác rằng: Đất phương Bắc gió lớn và lạnh giá, các loại lúa gạo thông thường khó cho thu hoạch, nhất định phải lựa chọn gieo trồng các loại hoa màu chín sớm. Tấm lòng chân thành quan tâm đến việc nông hiển hiện rõ qua từng lời nói.
Ngoài ra, phương thức khuyến canh của Hoàng đế Khang Hy lại vô cùng linh hoạt, đối với chủng loại và số lượng cây trồng tại các nơi trong cả nước, ông không đưa ra quy định thống nhất. Những chuyến xuất tuần và thân chinh (tự mình cầm quân chinh phạt) đã đưa dấu chân của Hoàng đế Khang Hy đến khắp các vùng miền từ Nam chí Bắc. Ông cũng thấu hiểu rằng, khí hậu một vùng tạo nên thổ nhưỡng một vùng, từ đó sản sinh ra sản vật mỗi nơi mỗi khác, vốn chẳng thể đồng nhất.
Ông từng nói với các vị Đại học sĩ rằng: “Khí hậu thổ nhưỡng, ẩm thực, y phục, khí cụ ở các vùng Đông, Tây, Nam, Bắc thảy đều khác biệt. Việc trồng trọt ngũ cốc, dâu tằm, bông vải, đay gai phải tùy theo điều kiện từng nơi mà tiến hành (nhân địa chế nghi), chứ không phải cứ dùng sức người là có thể cưỡng cầu. Nay quan lại địa phương có thể đốc thúc bách tính chăm chỉ cày cấy, không để đất đai bỏ hoang, thì đã là bậc hiền thần biết tận tâm tận lực vì nước vì dân rồi”.
Miễn giảm tô thuế
“Chính sách miễn giảm tô thuế là nền nhân chính đệ nhất cổ kim, ngay cả dân chúng ở những vùng nghèo khó, hẻo lánh cũng đều có thể được hưởng lợi như nhau.” — Hoàng đế Khang Hy
(Nguồn: Quyên tô nhất sự nãi cổ kim đệ nhất nhân chính, hạ chí cùng cốc hoang tâu, giai triêm thực huệ. — “Thánh Tổ Nhân Hoàng đế Ngự chế văn”)
Tác phẩm “Vạn khoảnh gia hòa” (Muôn dặm lúa tốt) của họa sĩ khuyết danh thời nhà Thanh. (Tư liệu công cộng)
Về phương diện khoan thư sức dân, Hoàng đế Khang Hy vô cùng tán thưởng nền nhân chính được thực thi vào thời Văn Đế và Cảnh Đế nhà Tây Hán. Ông khen ngợi Hán Văn Đế nhiều lần giảm thuế, miễn thuế, có thể nói là đệ nhất nhân chính; Hán Cảnh Đế nhiều lần hạ chiếu khuyến khích nông tang, lời lẽ cũng hết sức chân thành, thấu hiểu nỗi khổ của dân gian. Trước tình cảnh kinh tế suy kiệt vào đầu thời Thanh, bên cạnh chính sách trọng nông, Hoàng đế Khang Hy còn thực hiện chính sách giảm nhẹ lao dịch và sưu thuế, ưu đãi, chăm lo cho dân chúng, bồi dưỡng sức dân. Trong đó, một biện pháp quan trọng nhất chính là miễn giảm thuế ruộng.
Hoàng đế Khang Hy trị vì 61 năm, thực hiện miễn giảm tô thuế tới hơn 500 lần, chủ yếu bao gồm ba loại hình: tai quyên (miễn giảm do thiên tai), bô quyên (miễn giảm nợ thuế tồn đọng) và đại quyên (miễn giảm trên diện rộng). Miễn giảm do thiên tai là khi địa phương chịu phải các thảm họa như lũ lụt, hạn hán, nạn châu chấu, động đất, triều đình ngoài việc cứu tế còn có chính sách miễn giảm thuế ruộng đất. Quy định miễn giảm ban đầu dưới triều Khang Hy là 1/3 mức thuế, đến năm Khang Hy thứ 9 (năm 1670), ông ban lệnh cho các châu huyện bị thiên tai tàn phá nặng nề nhất được miễn toàn bộ thuế ruộng đất của năm đó, các khu vực nhẹ hơn được giảm một nửa mức thuế. Đến năm Khang Hy thứ 29 (năm 1690), Hoàng đế Khang Hy chấp thuận kiến nghị của các đại thần, tiến hành miễn giảm tương ứng cả thuế thân và tiền thuê ruộng cho các vùng bị thiên tai.
Miễn giảm nợ thuế tồn đọng chính là miễn giảm các khoản thuế thiếu hụt và tồn đọng qua nhiều năm. Sau khi bình định Tam Phiên và giành chiến thắng trong cuộc chiến chống Nga, việc miễn giảm các khoản thuế tồn đọng được thực hiện mạnh mẽ hơn. Chẳng hạn như vào năm Khang Hy thứ 27 (năm 1688), triều đình đã miễn trừ toàn bộ các khoản thuế đường thủy còn tồn đọng từ 10 năm trước của các tỉnh. Trong chuyến kinh lý phương Nam vào năm thứ 28, Hoàng đế Khang Hy đã vi hành khảo sát các châu huyện chịu thiên tai lũ lụt nghiêm trọng, thương xót trước nỗi gian truân của dân sinh mà cảm thán rằng: “Trẫm khi đi qua Phê Châu, tận mắt nhìn thấy phần lớn ruộng đất đều bị nước nhấn chìm. Nếu như bách tính đã không thể cày cấy, thì tô thuế biết trưng thu từ đâu?” Do đó, ông đã hạ lệnh miễn trừ toàn bộ các khoản thuế tồn đọng qua các năm cho những khu vực bị ngập lụt ở Giang Nam.
Đại miễn, tức là miễn giảm rộng khắp trên quy mô lớn. Sau khi bình định Tam Phiên, kể từ năm Khang Hy thứ 24 (năm 1685), Hoàng đế Khang Hy đã lần lượt miễn giảm các khoản thuế ruộng cho các tỉnh Trực Lệ, Hà Nam, Hỗ Bắc, Hồ Nam, Phúc Kiến, Tứ Xuyên, Quý Châu…, mỗi lần miễn giảm số tiền lên tới hàng triệu lạng. Gần như năm nào triều đình cũng có những đợt đại miễn, lại còn xuất hiện nhiều hình thức như nhiều tỉnh cùng được miễn giảm một lúc, hoặc luân phiên miễn giảm, hay một vùng được miễn giảm liên tục qua nhiều năm. Hoàng đế Khang Hy từng phán rằng: “Trẫm nóng lòng lo nghĩ cho dân sinh, dù miễn giảm bao nhiêu cũng không tiếc”. Chính là thông qua các phương thức miễn giảm tô thuế đa dạng này, ông đã giúp bách tính khắp chốn trong thiên hạ đều liên tục được hưởng lợi ích thiết thực, thực sự thụ hưởng ân trạch từ nền nhân chính của thời thịnh thế.
Ngoài ra còn một chính sách giảm nhẹ gánh nặng cho bách tính được Hoàng đế Khang Hy đề xuất vào những năm cuối đời, đó là “Tư sinh nhân đinh, vĩnh bất gia phú” (Dân số gia tăng, vĩnh viễn không tăng thuế). Cùng với sự phát triển của nhà Thanh, dân số gia tăng mạnh mẽ nhưng đất canh tác lại mở rộng chậm chạp, việc tăng thuế đinh đã trở thành gánh nặng kinh tế mới với bách tính. Thêm vào đó, số lượng nhân đinh lại liên quan trực tiếp đến việc khảo xét thành tích của quan lại địa phương, dẫn đến hiện tượng các châu huyện khai khống số đinh diễn ra nghiêm trọng, khiến bách tính phải bỏ trốn hàng loạt, gây ra hai tầng bất ổn cả về việc trưng thu thuế lẫn sự an định quốc gia.
Vào năm Khang Hy thứ 51 (năm 1712), Hoàng đế Khang Hy ban lệnh: Về sau, mỗi năm đều căn cứ theo số dân đã đăng ký trong sổ hộ tịch của năm Khang Hy thứ 50 để trưng thu thuế, bất luận dân số có tăng hay giảm thì ngạch thuế vẫn là cố định. Nếu nhân đinh trong sổ hộ tịch qua đời, sẽ do nhân đinh mới sinh ra thế vào chỗ trống, số nhân đinh mới sinh còn lại vẫn tiếp tục tấu báo lên triều đình nhưng không nằm trong phạm vi trưng thu thuế. Nhờ vậy, hiện tượng các châu huyện thuộc các tỉnh gian dối khai khống hay giấu giếm nhân đinh đã hoàn toàn bị ngăn chặn, gánh nặng kinh tế của bách tính cũng nhờ đó mà được giảm bớt đáng kể.
Việc vĩnh viễn không tăng thuế còn mang một ý nghĩa vô cùng trọng đại, đó là thúc đẩy việc thực thi chính sách “Thao đinh nhập mẫu” (Phân bổ thuế đinh vào tiền thuế ruộng) về sau, tức là đem thuế đinh chia đều nộp theo diện tích điền phú, người không có điền sản thì không phải nộp thuế. Chính sách này khởi xướng vào triều Khang Hy, định đoạt vào triều Ung Chính và cuối cùng được áp dụng rộng rãi vào triều Càn Long, có ý nghĩa quan trọng trong việc bãi bỏ thuế đinh, giảm bớt sự ràng buộc nhân thân cho bách tính và thúc đẩy ngành thủ công nghiệp phát triển.
Thương dân, ưu đãi thương nhân
“Đối nhân xử thế, quan lại lấy việc chính sự làm trọng, thợ thủ công lấy nghề thủ công làm trọng, thương nhân lấy việc kinh doanh làm trọng, nông dân lấy việc nông nghiệp làm trọng, người đọc sách lấy việc học hành làm trọng”. — Hoàng đế Khang Hy
(Nguồn: Phàm nhân xử thế, hữu chính sự giả chính sự vi vụ, hữu gia kế giả gia kế vi vụ, hữu kinh doanh giả kinh doanh vi vụ, hữu nông nghiệp giả nông nghiệp vi vụ, nhi độc thư giả độc thư vi vụ. — “Đình huấn cách ngôn”)
Thư pháp “Phú chính vu ngoại” (lan tỏa sự cai trị ra phạm vi bên ngoài, hàm ý việc triều đình thực thi các sắc lệnh, chính sách nhân từ hoặc các chủ trương quan trọng tới các địa phương và những vùng lãnh thổ xa xôi) của Hoàng đế Khang Hy. (Tư liệu công cộng)
Thời xưa, bình dân bách tính được chia làm 4 tầng lớp: sĩ, nông, công, thương; trong đó người đọc sách đứng đầu, cộng thêm chính sách “trọng nông ức thương” (coi trọng nông nghiệp, kiềm chế thương nghiệp) qua các triều đại, nên địa vị của thương nhân vốn dĩ luôn thấp kém. Tuy nhiên trong mắt Hoàng đế Khang Hy, 4 tầng lớp dân chúng ấy thảy đều bình đẳng, đều cần được bảo hộ và nâng đỡ. Ông từng nói: “Thương nhân và dân buôn cũng là con dân của Trẫm, sao Trẫm có thể nhẫn tâm để họ phải chịu đắng cay khổ sở?” Do đó, bên cạnh việc khuyến khích và đôn đốc việc nông tang, Hoàng đế Khang Hy cũng ban hành nhiều chính sách ưu đãi và tạo điều kiện cho công thương nghiệp.
Vào thời đầu nhà Thanh, thương nghiệp vốn chẳng mấy phồn thịnh, ngoài nguyên nhân do chiến sự thì điều quan trọng hơn chính là việc các thân vương Mãn Châu cùng Tam Phiên nắm giữ các tuyến đường sông, cửa khẩu khắp nơi, tiến hành độc quyền và bóc lột các hoạt động thương mại; quan phụ trách thu thuế lại vì quy định khen thưởng khi thu thuế vượt mức mà ra sức vơ vét hạch sách thương nhân và dân buôn. Bởi thế có quan lại từng ví von rằng: “Thương nhân và dân buôn không khổ vì cửa quan, mà khổ vì các cửa quan nằm ngoài cửa quan; không khổ vì tiền thuế, mà khổ vì những khoản thuế nằm ngoài tiền thuế”.
Trước khi đích thân chấp chính, Hoàng đế Khang Hy đã ban dụ cho các quan thu thuế địa phương, yêu cầu tuân thủ pháp luật, bảo đảm “thương nhân và dân buôn đi lại, buôn bán thuận tiện, địa phương được yên ổn”, nếu vi phạm sẽ bị xử tội nặng. Sau đó, ông nghiêm lệnh rằng thương nhân và dân buôn, người nhà của quan lại và những người khác thuộc quyền quản lý của các vương công không được lấy bất kỳ danh nghĩa nào để cậy thế, độc quyền thương mại; người vi phạm sẽ bị đánh bằng roi, phạt tiền hoặc bãi chức. Đối với hiện tượng quan thu thuế tự ý trưng thu vô độ, vào năm Khang Hy thứ 25 (năm 1686), Hoàng đế Khang Hy đã hạ lệnh bãi bỏ chế độ thưởng khi thu thuế vượt mức, đối với những trường hợp thu không đủ định ngạch cũng cố gắng hết sức xử nhẹ.
Ngoài ra, Hoàng đế Khang Hy còn đặt mình vào vị trí của thương nhân và dân buôn để lo nghĩ, dốc sức tạo dựng một môi trường thương mại cởi mở, bảo đảm đến mức tối đa lợi ích của thương nhân và dân buôn cũng như sự tiến hành thuận lợi các hoạt động thương mại. Cách làm của ông chủ yếu thể hiện ở những điểm sau:
Một là, bảo vệ thương nhân và dân buôn khỏi bị xâm hại và quấy nhiễu. Hoàng đế Khang Hy từng răn đe tướng sĩ đồn trú tại các địa phương, nghiêm cấm xâm chiếm các khu vực thương mại ở thành thị. Trên đường thân chinh, ông phản đối việc vây bắt săn bắn gần những thành thị nơi thương gia tụ hội, không cho phép gia nhân hầu cận quấy nhiễu các thương hộ. Trong những chuyến tuần du phương Nam, thấy ghe thuyền của thương dân bị thuyền tào vận bắt nạt, ông liền lệnh cho Tào vận Tổng đốc trừng trị nghiêm khắc việc này. Ông còn bãi bỏ các nha hành (trạm giao dịch buôn bán) do tư nhân tự lập, dập tắt nạn bắt chẹt hạch sách thương nhân và dân buôn trong dân gian.
Hai là, cấm thu thêm thuế thương mại. Quan lại địa phương từng nhiều lần dâng sớ xin tăng tiền thuế, nhưng Hoàng đế Khang Hy cho rằng việc tự ý thu thêm các khoản tiền thuế ngoài quy định là hành vi gây hại cho thương dân, do đó thảy đều bác bỏ. Trong chuyến tuần du phương Nam lần thứ 2, Hoàng đế Khang Hy còn đặc biệt vi hành tra xét xem thương nhân và dân buôn có bị thu thêm thuế quan hay không. Thương nhân và dân buôn tâu rằng, tuy không có vấn đề thu thêm thuế, nhưng thời gian họ làm thủ tục qua cửa quan luôn bị trì hoãn, nỗi khổ ấy chẳng kém gì việc bị thu thêm thuế quan. Vì vậy, Hoàng đế Khang Hy ra lệnh cho các quan lại ra sức chấn chỉnh hủ tục lâu đời này, phàm là thương nhân và dân buôn đến cửa quan nộp thuế thì phải lập tức cho qua, kẻ nào vi phạm sẽ bị xử phạt nặng.
Ba là, cắt giảm thuế thương mại. Chẳng hạn như, thuế thu tại Đồng Quan thuộc Thiểm Tây từng từ 7.000 lạng tăng vọt lên hơn 40.000 lạng, 2 năm sau Hoàng đế Khang Hy hạ lệnh thu theo mức cũ và không còn cử quan viên đến đốc thúc việc thu thuế. Còn tại Quảng Đông, thuế hải quan quá nặng khiến thuyền buôn thưa thớt, Hoàng đế Khang Hy bèn hạ lệnh cắt giảm hơn 30.000 lượng thuế quan.
Bốn là, thống nhất độ lượng hành (đơn vị đo lường). Năm Khang Hy thứ 43 (năm 1704), sau khi cùng các đại thần bàn bạc, Hoàng đế Khang Hy đã ban lệnh thống nhất dung tích và hình dáng của các dụng cụ đo lường như thăng, đẩu, hộc. Ông cho bãi bỏ các loại dụng cụ đong đếm trên thị trường như kim thạch, kim đẩu, Quan Đông đẩu; các tỉnh thống nhất sử dụng các loại thăng, đẩu có đáy bằng mặt phẳng; ông còn tự mình hiệu chuẩn dung tích của sắt hộc, căn cứ theo tiêu chuẩn 10 thăng bằng 1 đẩu, 5 đẩu bằng 1 hộc để chế tạo ra các loại đẩu đồng, thăng đồng kiểu mới. Đến năm Khang Hy thứ 57 (năm 1718), ông lại quy định mối quan hệ quy đổi lấy 16 lạng bằng 1 cân.
Dưới các chính sách của Hoàng đế Khang Hy, nền thương mại đầu thời nhà Thanh đã nhanh chóng phục hồi và phát triển, các khu thành thị xuất hiện khung cảnh phồn thịnh với ghe thuyền xe cộ nườm nượp, thương gia hội tụ đông đúc.
Đề xướng và thực hành tiết kiệm
“Thiên tử phải cai trị thiên hạ, chứ không phải để muôn dân trong thiên hạ cùng phụng dưỡng một mình Thiên tử.” — Hoàng đế Khang Hy
(Nguồn: Đương dĩ nhất nhân trị thiên hạ, bất dĩ thiên hạ phụng nhất nhân. — “Khang Hy chính yếu”)
Trong cuốn “Khang Hy truyện”, giáo sĩ Joachim Bouvet (Bạch Tấn) mô tả rằng thứ “xa hoa” duy nhất trên người Hoàng đế Khang Hy có lẽ là những viên ngọc trai trên vành mũ, mà điều này chẳng qua cũng chỉ vì phong tục của người Mãn Châu. Hình ảnh Hoàng đế Khang Hy đọc sách năm 1699 (45 tuổi). (Tư liệu công cộng)
Kể từ khi đích thân chấp chính, Hoàng đế Khang Hy nhiều lần xuất quân, dẹp yên các cuộc nổi loạn; 6 lần tuần du phương Nam, trùng tu thủy lợi, mỗi lần đều tiêu tốn khoản tiền lớn. Tuy nhiên, Hoàng đế Khang Hy không chỉ nhiều lần miễn giảm tiền lương và các loại thuế tạp, mà còn gây dựng nên thời kỳ hưng thịnh huy hoàng của vương triều nhà Thanh. Những công nghiệp ấy không thể tách rời khỏi đức tính tiết kiệm, thiết thực của Hoàng đế Khang Hy.
Trong tâm niệm của Hoàng đế Khang Hy, tiết kiệm là một cảnh giới cao quý gần với “Đạo”. Trong “Luận về cần kiệm”, ông viết: Việc chuộng cung điện xa hoa, ăn uống thịnh soạn, y phục đẹp đẽ… phản ánh mặt con người ham mê xa xỉ và dục vọng quá mức, khiến người ta đắm chìm trong đó, từ đó lơ là “Đạo tâm” là lòng kính Trời Đất, hiếu kính tổ tiên và cứu giúp đời sống dân chúng. Ông thường lấy các bậc Thánh vương như Nghiêu, Thuấn, Vũ và Chu Văn Vương làm tấm gương, thường xuyên tự xét lời nói, việc làm của bản thân, cắt giảm các khoản chi tiêu trong cung, loại bỏ tâm lý xa hoa hưởng lạc.
Ông còn đem đức tính tiết kiệm áp dụng vào việc trị quốc. Ngay từ năm Khang Hy thứ 9 (năm 1670), Hoàng đế Khang Hy đã ban bố “Thánh dụ thập lục điều”, khuyên bảo căn dặn thế nhân nên rèn luyện 16 phẩm hạnh, trong đó điều thứ 5 chỉ rõ: “Thượng tiết kiệm, dĩ tiếc tài dụng” (Coi trọng tiết kiệm để trân quý tiền tài vật dụng). Tiết kiệm cũng là một nội dung quan trọng mà Hoàng đế Khang Hy dùng để dạy dỗ các hoàng tử. Trong cuốn “Đình huấn cách ngôn”, ông lấy sinh kế của bách tính làm ví dụ để minh chứng tầm quan trọng của việc tiết kiệm: Người có ruộng đất bình thường biết thu xếp chi thu hợp lý, chú ý tích trữ lương thực để ứng phó với các tình huống bất ngờ như thiên tai lũ lụt hạn hán. Bằng cách này có thể “chi dùng có chừng mực, thịnh hay thiếu đều giữ mức vừa phải, an phận dưỡng phúc, con cháu đời đời tuân theo”.
Trong đời sống thường nhật, Hoàng đế Khang Hy cũng làm gương, hết sức tiết kiệm. Chẳng hạn như y phục của ông mặc qua nhiều năm vẫn không dính chút bụi bẩn, sạch sẽ như mới; bữa ăn hàng ngày ngoại trừ một số đồ cá biệt để ban thưởng ra, chưa từng ăn quá hai món; các vật dụng sinh hoạt trong cung như thảm lông trong cung thất, 30-40 năm đều không thay mới.
Những ghi chép của giáo sĩ Joachim Bouvet (Bạch Tấn) trong cuốn “Khang Hy truyện” cũng đã xác thực mỹ đức giản dị của Hoàng đế Khang Hy. Ông mặc áo bào da bình thường vào mùa đông, mặc áo vải đay vào mùa hè; thứ duy nhất gọi là “xa hoa” trên người ông có lẽ chính là viên ngọc trai trên vành mũ, mà chẳng qua cũng chỉ vì phong tục của người Mãn Châu. Về phương diện ăn uống, Hoàng đế Khang Hy không yêu cầu món ngon đặc thù, dụng cụ ăn uống cũng không cầu kỳ phô trương. Toàn bộ cách bài trí trong hoàng cung đều ngăn nắp chỉnh tề, giản dị, không có vẻ xa hoa thường thấy ở vị quân chủ của một đại quốc.
Hoàng đế Khang Hy cũng không quên bài học từ sự diệt vong của nhà Minh, quyết tâm loại bỏ lối sống xa hoa, phung phí như cuối thời Minh. Ông từng nói, chi phí của triều đình trong lĩnh vực quân sự và chính trị tương đương với thời nhà Minh, nhưng khoản chi tiêu trong nội cung suốt 36 năm lại chưa bằng mức chi dùng của cung đình nhà Minh trong 1 năm.
Ngoài ra, khi ra ngoài đi tuần, Hoàng đế Khang Hy không cho phép sửa sang đường sá, không sử dụng nghi thức, quy mô phô trương, cũng không cho quan lại tặng quà lẫn nhau, nhằm giảm tối đa các khoản chi tiêu và tránh gây phiền nhiễu cho quan lại và dân chúng địa phương. Ông cũng không khuyến khích các địa phương tiến cống vật phẩm, luôn lấy việc trân trọng sức dân và vật lực làm trọng. Ông cho rằng những vật phẩm kỳ lạ thực chất đều là “những thứ vô dụng”, còn cảnh tượng cát tường đích thực chính là “mùa màng bội thu, bách tính có cái ăn”.
Nhờ những chính sách coi trọng nông nghiệp, thương nghiệp, chăm lo và ban ân cho dân chúng mà Hoàng đế Khang Hy thực thi trong nhiều năm, cùng với đức tính tiết kiệm mà ông đề xướng, nền kinh tế và đạo đức xã hội vào đầu thời Thanh đều nhanh chóng phục hồi, chẳng bao lâu sau đã đón nhận một thời kỳ thịnh thế xưa nay chưa từng có.
Chịu trách nhiệm biên tập bản tiếng Trung: Vương Du Duyệt
(Còn tiếp)
(The Epoch Times)




