Tác giả: Tổ Văn hóa The Epoch Times
[ChanhKien.org]
Kể từ khi Tần Thủy Hoàng sáng lập đế quốc Trung Hoa, hầu như mỗi triều đại thống nhất đều sinh ra một vị minh quân thánh chủ có tài thao lược xuất chúng, khai sáng hoặc đặt nền móng cho một thời kỳ toàn thịnh về kinh tế, quân sự và văn hóa cho thần dân thiên hạ. Trong hình là Khang Hy Đại Đế, người đã khai sáng nên thời kỳ Khang – Ung – Càn thịnh thế. (Ảnh: The Epoch Times chế tác)
Tục ngữ có câu: “Loạn thế trị binh, thịnh thế trị thủy”. Nước sông Hoàng Hà trong thì thánh nhân xuất hiện; Hoàng Hà yên ổn thì thiên hạ thái bình. Đó là lý tưởng trị quốc an dân của các bậc đế vương qua nhiều triều đại. Sau khi cuộc nổi loạn của Cát Nhĩ Đan được dẹp yên, triều Thanh bước vào thời kỳ thái bình ổn định, Hoàng đế Khang Hy cũng có thể một lần nữa dồn tinh lực trị quốc vào công cuộc trị thủy.
Từ năm Khang Hy thứ 38 (năm 1699), công cuộc trị lý sông Hoàng Hà chuyển từ giai đoạn do các chuyên gia đảm trách sang giai đoạn đích thân Hoàng đế chỉ đạo sửa sang. Cũng từ đó, Hoàng đế Khang Hy đã thực hiện 4 chuyến Nam tuần vĩ đại sau này.
Trong thời gian này, Hoàng đế Khang Hy đã có những kiến giải mới với việc trị thủy. Ông cho rằng xử lý thượng nguồn là điều khẩn yếu nhất, đúng như câu “thượng lưu đã yên thì hạ lưu tự trị vậy”. Mà thượng nguồn sông Hoàng Hà lại chính là mấu chốt giải quyết nạn nước Hoàng Hà chảy ngược. Do mực nước hồ Hồng Trạch thấp, thế nước sông Hoài yếu, không đủ sức ngăn dòng chảy mạnh của Hoàng Hà nên chỉ có thể cùng nước Hoàng Hà đổ vào Đại Vận Hà, khiến khu vực hạ lưu thường xuyên xảy ra lũ lụt nghiêm trọng. Vì vậy, quan điểm trị thủy của Hoàng đế Khang Hy là: “Chỉ khi để ba phần nước sông Hoài chảy vào Đại Vận Hà và bảy phần chảy vào Hoàng Hà thì dòng chảy của Đại Vận Hà mới có thể ổn định”.
Đích thân chỉ đạo công trình trị thủy
“Nay cho đóng sáu đập chắn nước, làm cho mực nước hồ Hồng Trạch dâng cao, thế nước sông Hoài tương đương với sông Hoàng Hà, kênh Vận Hà không còn mối lo chảy ngược, đây chính là nguyên nhân công trình trị thủy có thể hoàn thành”. — Hoàng đế Khang Hy
(Nguồn: Kim tương lục bá đổ bế, Hồng Trạch hồ thủy cao, lực năng địch Hoàng, tắc Vận Hà bất trí hữu đảo quán chi hoạn. Thử hà công sở dĩ năng cáo thành dã. — “Khang Hy triều thực lục”)
Từ năm Khang Hy thứ 38 (năm 1699), công cuộc trị lý sông Hoàng Hà chuyển từ giai đoạn do các chuyên gia đảm trách sang giai đoạn đích thân hoàng đế chỉ đạo sửa sang. Cũng từ đó, Hoàng đế Khang Hy đã thực hiện 4 chuyến Nam tuần vĩ đại sau này. Trong hình là một phần bức tranh Khang Hy Nam tuần đồ quyển do Vương Huy và các họa sĩ triều Thanh thực hiện. (Tư liệu công cộng)
Năm Khang Hy thứ 38, Hoàng đế Khang Hy thực hiện chuyến Nam tuần lần thứ ba, tập trung khảo sát các công trình dọc sông và đưa ra 4 biện pháp cụ thể:
Thứ nhất, khơi thẳng dòng sông Hoàng Hà để tăng khả năng cuốn trôi bùn cát, hạ thấp mực nước.
Thứ hai, dời cửa Thanh Khẩu – nơi hợp lưu giữa sông Hoàng Hà và sông Hoài – về phía đông nhằm ngăn nước Hoàng Hà chảy ngược vào sông Hoài.
Thứ ba, tháo dỡ con đập ngăn Hoàng Hà vốn xây dựng sai vị trí để tạo dòng chảy xiết cuốn trôi bùn cát.
Thứ tư, dẫn nước từ vùng hạ lưu qua sông Mang Đạo và sông Nhân Tự đổ vào Trường Giang.
Trên đường hồi kinh, Hoàng đế Khang Hy đích thân lên bờ nam sông Hoàng Hà gần Thanh Khẩu, đóng một cọc gỗ và ban chỉ dụ từ vị trí này xây dựng đập thoát nước về hướng đông nhằm ngăn ngừa tình trạng nước chảy ngược. Con đập này về sau được gọi là “Ngự Bá” (đập do hoàng đế chỉ định xây dựng).
Về việc di dời cửa Thanh Khẩu, Hoàng đế Khang Hy càng thể hiện tư duy sáng tạo và phát huy vai trò không thể thay thế. Ông cho rằng các bản đồ sông do các quan viên trị thủy phác thảo trước đó đều là bản đồ phẳng, không thể hiện được địa hình cũng như độ cao thấp của mực nước. Vì vậy, ông đã vận dụng kiến thức hình học không gian của phương Tây, lệnh cho người chế tạo một mô hình lập thể về phương án di dời cửa Thanh Khẩu. Nhờ đó, hướng chảy của dòng sông và thế nước trở nên rõ ràng, giúp xây dựng phương án trị thủy sát với thực tế hơn.
Do Tổng hà Vu Thành Long lâm bệnh nặng nên không thể triển khai những biện pháp mà Hoàng đế Khang Hy đã đề ra. Sau khi ông qua đời, người kế nhiệm là Trương Bằng Cách trở thành trợ thủ đắc lực nhất của Hoàng đế Khang Hy. Nhà vua nhiều lần căn dặn Trương Bằng Cách rằng việc trị thủy ngày nay không còn giống thời xưa, bởi tình hình dòng chảy của sông đã thay đổi rất nhiều. Vì vậy, nhất định phải đích thân khảo sát, điều tra kỹ lưỡng thì mới có thể tìm ra phương pháp trị thủy chính xác.
Bản thân Trương Bằng Bách không tinh thông về thủy lợi, nhưng ông nghiêm túc tuân theo chỉ dụ của hoàng đế, tận tâm tận lực thi hành chức trách. Theo sự chỉ dẫn của Hoàng đế Khang Hy, ông lần lượt tháo dỡ các đập ngăn sông và nạo vét sâu tuyến sông đổ ra biển. Sau đó, sông Hoàng Hà lại xảy ra một trận đại hồng thủy, nước lũ dâng cao suốt nhiều ngày liền. Hoàng đế Khang Hy theo dõi sát sao khả năng chống lũ của từng công trình, còn Trương Bằng Cách ngày đêm túc trực trên đê, tuần tra những nơi có nguy cơ xảy ra sự cố.
Kết quả thật đáng khích lệ. Một số đoạn đê có xuất hiện những tình huống nguy hiểm nhỏ, nhưng không xảy ra vụ vỡ đê nào. Sau hàng chục năm nỗ lực của Hoàng đế Khang Hy cùng các đại thần, công trình trị thủy cuối cùng đã đứng vững trước thử thách của đại hồng thủy. Trí tuệ của Hoàng đế Khang Hy kết hợp với sức hành động của Trương Bằng Cách đã tạo nên một kỳ tích mới trong lịch sử trị thủy.
Đầu năm Khang Hy thứ 42 (năm 1703), Hoàng đế Khang Hy tiếp tục thực hiện chuyến Nam tuần lần thứ tư kéo dài 2 tháng để thị sát các công trình sắp hoàn thành. Kết quả khiến ông hết sức hài lòng. Hoàng đế Khang Hy đã ban tặng Trương Bằng Cách hai bài thơ văn nhằm biểu dương công lao của ông. Một trong số đó là bài “Hà Thần Châm” (Lời răn dành cho quan trị thủy):
“Tự cổ thủy hoạn, duy Hà vi đại. Trì chi hữu phương, dân nãi vô hại. Vũ sơ nhi cửu, bình thành du lại. Hàng cập Hán Đường, quyết phục vị ngả. Tiệm tỷ nhi nam, Tống Nguyên tư dật. Kim Hà tích Hà, nghị bất khả nhất. Tích chỉ hà phòng, kim kiêm tào pháp. Ký nhị kỳ hoạn, phục tư kỳ lực. Thẩn thử nhất phương, canh tạc thất chức. Trạch quốc ba thần, đỗng quan dĩ cực. Kiên tư cự nhâm, hạt dung đãi dật. Vô tỷ kim đê hội vu nghĩ huyệt, vô sử điền lư luân vi giao quật. Vô đồ mi quốc nô nhi thế nan chung nhật. Vô hư động bổn trúc nhi công tiên hạch thực. Vụ đồ tiên sự tẫn lợi đạo sách, mạc hối hậu thì sức bổ tư thuật. Vật tức tư nhi bối công, vật từ lao nhi tựu dật. Duy khiết thanh nhi tự trì, kiêm tập tư nhi nghiễm ích. Tắc hoạn vô bất trừ, tích khả quang sách. Kỳ ngã hà thần, kính tai dĩ úc”.
Tạm dịch:
Từ xưa, trong các nạn lũ lụt, hiểm họa lớn nhất là sông Hoàng Hà. Có phương pháp trị thủy đúng đắn thì dân mới tránh được tai họa. Đại Vũ khai thông sông ngòi, chia dòng chín nhánh, nhờ đó thiên hạ được yên ổn. Đến các triều Hán, Đường, nạn vỡ đê vẫn chưa chấm dứt. Sau này dòng sông dần chuyển xuống phía nam, đến thời Tống, Nguyên thì lũ lụt càng thêm nghiêm trọng. Sông Hoàng Hà ngày nay đã khác xưa, vì vậy không thể áp dụng nguyên gốc những phương pháp cũ. Trước kia chỉ cần phòng chống lũ, nay còn phải bảo đảm giao thông đường thủy. Phải vừa dập tắt thủy họa, vừa phát huy lợi ích của dòng sông. Huống chi vùng đất này, người dân cày cấy, khai khẩn đều bị ảnh hưởng. Người dân vùng sông nước đã chịu cảnh khốn khổ đến cùng cực. Gánh vác trọng trách lớn lao ấy, sao có thể lơ là biếng nhác? Chớ để đê lớn vỡ từ một tổ kiến; chớ để ruộng đồng, nhà cửa chìm thành hang ổ của thuồng luồng. Chớ chỉ hao tổn quốc khố mà sự việc vẫn không thể giải quyết; chớ chỉ huy động nhân lực đắp đê mà hiệu quả lại không thực chất. Phải lo liệu từ trước, tận dụng mọi biện pháp dẫn dòng có lợi; đừng đợi đến khi quá muộn mới vội vàng vá víu, sửa chữa. Đừng vì tư lợi mà quên việc công; đừng ngại gian khổ mà chỉ tìm an nhàn. Hãy giữ mình thanh liêm trong sạch, đồng thời biết lắng nghe ý kiến để thu nhận điều hay. Có như vậy mới trừ được thủy họa, lập nên công lao lưu danh sử sách. Nay ban lời này cho các quan trị thủy, hãy kính cẩn ghi nhớ và lấy đó làm điều răn.
Một bài khác là “Lãm Hoài Hoàng thành” (Ngắm công trình trị thủy sông Hoài và Hoàng Hà hoàn thành), có đoạn:
“Ân khúc cửu hĩ lý Hoài Hoàng, kỷ độ phong trần thụ trì phương.
Cửu khúc tố xưng thiên hạ hiểm, tứ lai thực vi triệu dân thương.
Sử thanh dẫn trọc tu cần thận, phân thế khai lưu tại bất hoang.
Tuy tấu an lan khoan cán thực, giới tiền thiện hậu điện kim thang.”
Tạm dịch:
Bao năm nay luôn canh cánh việc trị thủy sông Hoài, sông Hoàng Hà,
Đã mấy bận trải qua phong trần để ban truyền phương lược trị thủy.
Chín khúc Hoàng Hà vốn nổi tiếng hiểm trở khắp thiên hạ,
Nước lũ bốn bề từ lâu đã gây tai họa cho muôn dân.
Dẫn dòng nước trong, điều tiết dòng nước đục cần hết sức cẩn trọng,
Phân dòng, khai thông dòng chảy cốt ở chỗ không được lơ là.
Bài thơ kết thúc bằng hai câu:
Dẫu đã tấu báo dòng nước yên bình, giúp trẫm vơi nỗi lo đến quên ăn,
Vẫn phải răn mình, lo chu toàn trước sau để nền phòng hộ mãi vững như thành đồng.
Hoàng đế Khang Hy còn ngự bút viết bốn chữ “Đạm bạc, Ninh tĩnh” trên một bức hoành và đặc biệt ban tặng cho Trương Bằng Cách. Chuyến Nam tuần lần thứ tư cũng đúng dịp Hoàng đế Khang Hy mừng thọ 50 tuổi. Lúc bấy giờ, thiên hạ thái bình, dân sinh sung túc, lại thêm niềm vui lớn khi công trình trị thủy hoàn thành, nên Hoàng đế Khang Hy vô cùng phấn khởi. Ông chiêu cáo và ban ân khắp thiên hạ để muôn dân cùng chung vui trước sự phồn vinh và tốt đẹp của thời thịnh thế.
Những năm cuối đời trị thủy
“Hoàng thượng luôn lo nghĩ đến nỗi khổ của người dân vì thiên tai lũ lụt, nhiều lần đích thân đến bờ sông để chỉ dẫn sách lược chỉnh trị sông Hoài và sông Hoàng Hà. Nhờ vậy, các công trình trị thủy mới có thể hoàn thành thắng lợi, từ đó không còn nỗi lo lũ lụt gây vỡ đê nữa”. — Người dân vùng Giang Nam
(Nguồn: Giang Nam thân khâm quân dân, giáp đạo quỵ nghênh. Tấu xưng: “Hoàng thượng chẩn niệm vạn dân ly vu thủy hoạn, lũ lâm hà thượng chỉ thị tu trúc Hoài Hoàng phương lược. Cố năng phi cáo thành công, vĩnh vô xung quyết chi ngu”. — “Khang Hy triều thực lục”)
Một phần bức “Phỏng Đường nhân Đại Vũ trị thủy đồ” của họa sĩ Tạ Toại triều Thanh (Tư liệu công cộng)
Hai năm sau, công trình trị thủy bước vào giai đoạn hoàn tất. Khi đã ngoài 50 tuổi, Hoàng đế Khang Hy thực hiện chuyến Nam tuần lần thứ năm, đích thân thị sát việc cải tạo cửa nam Trung Hà và công tác hoàn thiện toàn bộ công trình. Trên đường đi, vị hoàng đế uyên bác này còn sáng tác nhiều tác phẩm như “Xuân nhật điền gian” (Ngày xuân trên đồng ruộng), “Nam tuần từ” (Lời ca chuyến tuần du phương Nam) và “Hoàng thuyền ký” (Ghi chép trên thuyền rồng). Suốt hành trình, người dân không kể già trẻ đều quỳ đón hai bên đường, tiếng hò reo vang dội. Mỗi ngày đều có vô số người đến dập đầu tạ ơn, tạo nên quang cảnh vô cùng tráng lệ.
Đến vùng Giang Nam, các hương thân, quân dân cung kính nghênh đón giá ngự và tâu rằng Hoàng đế Khang Hy luôn canh cánh nỗi khổ của bách tính khi chịu cảnh lũ lụt, không ngại nhiều lần đích thân đi thị sát địa phương, nghiên cứu phương án trị thủy. Tinh thần tận tụy vì dân ấy thật sự là “xưa nay chưa từng có”. Cảm thấy được an ủi trước tấm lòng của dân chúng, Hoàng đế Khang Hy cũng nghĩ đến việc lúc này đang vào vụ xuân bận rộn, e ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp nên ra lệnh cho quan địa phương miễn việc người dân phải quỳ lạy tạ ơn.
Khi thấy đoạn đê đá ở Cao Gia Yển vẫn chưa hoàn thành, Hoàng đế Khang Hy lập tức triệu Trương Bằng Cách đến hỏi. Trương Bằng Cách rất tin tưởng vào các “đê cỏ” hiện có nên không mấy chú trọng công trình đê đá. Hoàng đế Khang Hy thì nói rằng sau 2-3 năm, cỏ sẽ mục nát, không thể chống chọi với lũ lớn, vì vậy nhất định phải “ngày đêm cẩn trọng canh giữ”. Ông tiếp tục tận tình căn dặn:
“Các khanh chỉ thấy nước ở Thanh Khẩu đã được dẫn đi thì cho rằng đại công đã hoàn thành, mà không nghĩ đến việc phòng ngừa. Nếu nước ở Cao Gia Yển tràn bờ thì Hoàng Hà nhất định sẽ lại chảy ngược. Vì thế Cao Gia Yển là nơi then chốt, phải hết sức thận trọng phòng giữ, tuyệt đối không được lơ là”.
Sau đó, Hoàng đế Khang Hy đến khu vực gần đền Huệ Tế để đích thân thị sát các tuyến đê xung quanh. 5-6 năm trước, nơi đây vẫn còn là vùng nước Hoàng Hà cuồn cuộn, mực nước gần như ngang bằng với bờ. Nay sau khi được tu sửa, dòng nước trong chảy thông suốt, đủ sức trụ được thế nước Hoàng Hà; còn Hoàng Hà chỉ cuồn cuộn chảy trong lòng sông của mình, mặt nước thấp hơn bờ hơn một trượng. Sau hàng chục năm vua tôi Khang Hy cùng nỗ lực trị thủy, thành quả lúc này đã vô cùng rõ rệt.
Thế là, Hoàng đế Khang Hy bèn ngồi ngay trên đê, cùng các quan phụ trách trị thủy ôn lại chặng đường đã qua và phấn khởi nói:
“Xem tình thế hôm nay, đại nghiệp trị thủy của trẫm đã thành công rực rỡ. Lòng trẫm vô cùng vui mừng!”
Ông còn sáng tác bài thơ “Dương gia trang tân khai trung hà đắc thuận phong quan dân cư mạn vịnh nhị thủ”, phần thứ hai viết:
“Xuân vũ sơ khai lộng liễu ti, ngư chu xướng vãn thốn âm di. Miếu đường thì chú Hoài Hoàng sự, kim nhật an lan thiên hạ tri.”
Tạm dịch:
“Mưa xuân vừa dứt, liễu non lay gió,
Thuyền chài ca khúc lúc chiều buông, bóng ngày dần chuyển.
Nơi triều đường luôn dõi theo việc trị thủy Hoài – Hoàng,
Hôm nay thiên hạ đều biết dòng nước đã yên bình.”
Bài thơ thể hiện niềm vui sướng của Hoàng đế Khang Hy.
Hai năm sau, vào năm Khang Hy thứ 46 (năm 1707), các quan phụ trách trị thủy tranh luận không ngớt về việc có nên đào thêm một tuyến sông mới gần hồ Hồng Trạch để bảo vệ đập Cao Gia Yển hay không, nên đã dâng tấu xin Hoàng đế Khang Hy đích thân đến khảo sát. Khi ấy, Hoàng đế Khang Hy đã ngoài 50 tuổi, vốn không muốn thêm một lần điều động sử dụng nhân lực lớn. Tuy nhiên, do công cuộc trị thủy đều dựa vào quyết sách của ông, lại thêm các đại thần nhiều lần khẩn cầu, Hoàng đế Khang Hy quyết định thực hiện chuyến Nam tuần lần thứ sáu.
Tại Thanh Khẩu, Hoàng đế Khang Hy đến công trường Lưu Hoài Sáo, nơi dự định đào tuyến sông mới. Phóng tầm mắt quan sát, ông nhận thấy địa thế nơi này quá cao, dù có đào sông thì nước cũng không thể chảy đến Thanh Khẩu. Hơn nữa, tuyến sông mới còn đi qua nhiều phần mộ, ảnh hưởng đến đời sống của người dân. Vì vậy, ông lập tức hạ chỉ ngừng thi công, khẳng định: “Con sông này tuyệt đối không được đào”, đồng thời nghiêm khắc quở trách Trương Bằng Cách cùng các quan phụ trách trị thủy.
Đồng thời, Hoàng đế Khang Hy cũng đưa ra phương án xử lý:
“Chi bằng nạo vét cửa thoát nước của hồ Hồng Trạch, mở rộng và đào sâu thêm, như vậy nước trong sẽ có thể chảy thông suốt”.
Ông còn đưa ra những kiến nghị cụ thể đối với các công trình khác, sau đó mới trở về kinh thành.
Trong hơn 10 năm sau đó, sông Hoàng Hà, sông Hoài và Đại Vận Hà đều chảy ổn định trong lòng sông của mình. Ngay cả khi xảy ra lũ lớn, nhờ sự canh phòng cẩn trọng của các quan phụ trách trị thủy, các tuyến đê khắp nơi đều đứng vững trước thử thách của nước lũ, bảo đảm cho cơ nghiệp quốc gia.
Năm Khang Hy thứ 60 (1721), dù tuổi đã cao, Hoàng đế Khang Hy vẫn luôn quan tâm đến công việc trị thủy. Ông nói với các đại thần:
“Sông Hoàng Hà có tầm ảnh hưởng lớn nhất. Thời Nguyên và Minh thường xuyên xảy ra vỡ đê, chưa từng có thời bình yên nào như hôm nay, hơn 20 năm liên tiếp dòng sông yên ổn. Tuy công trình trị thủy đã hoàn thành, nhưng phải ‘mưu việc trị khi đã trị, giữ yên khi đã yên’. Các khanh phải tiếp tục tăng cường tuần tra, tuyệt đối không được lơ là”.
Hồn Hà Vĩnh Định
“Quan lại chẳng thanh liêm ấy là tai họa cho trăm họ, nước sông không xanh trong cũng chẳng lợi lộc gì cho dân chúng, mọi điều ô trọc trong thiên hạ đều là như vậy”. — Khang Hy Đế
(Nguồn: Quan bất thanh tắc vi dân hại, thủy bất thanh diệc vô lợi vu dân. Thiên hạ chi trọc giả giai như thử dã. — “Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế Thánh Huấn”)
Cần mẫn lo việc triều chính, hết lòng vì dân, suốt hơn 40 năm Hoàng đế Khang Hy luôn thức khuya dậy sớm, không quên chí nguyện ban đầu, dốc biết bao tâm huyết cho công cuộc trị thủy, cuối cùng mở ra thời kỳ trời yên biển lặng, thái bình thịnh trị. Trong hình là một phần bức tranh “Cô Tô phồn hoa đồ” do họa sĩ Từ Dương triều Thanh vẽ. (Tư liệu công cộng)
Ngoài việc chỉnh trị sông Hoàng Hà, sông Hoài và Đại Vận Hà, Hoàng đế Khang Hy cũng đặc biệt coi trọng việc trị thủy các dòng sông khác. Trong đó, công cuộc chỉnh trị sông Vĩnh Định được coi là một kiệt tác khác trong sự nghiệp trị thủy của ông.
Sông Vĩnh Định trước đây có tên là Vô Định Hà, bắt nguồn từ dãy Thái Hành, chảy qua Nội Mông, Sơn Tây, Hà Bắc và Bắc Kinh. Từ thời Minh, con sông này được gọi là Hồn Hà. Thượng nguồn là sông Tang Cán, khi chảy qua Bắc Kinh lại được gọi là sông Lư Câu. Dòng sông chảy xiết, mang theo lượng lớn phù sa, khiến lòng sông bồi lắng nghiêm trọng và hạ lưu thường xuyên đổi dòng. Vì vậy, nó còn được mệnh danh là “Vô Định Hà” hay “Tiểu Hoàng Hà”.
Dòng sông này hợp lưu với các con sông ở phía nam phủ Bảo Định, thường xuyên dâng lũ gây ngập lụt. Điều này không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc vận chuyển lương thực bằng đường thủy vào kinh thành mà còn gây tai họa cho các châu, huyện dọc hai bờ sông. Năm Khang Hy thứ 37 (năm 1698), Hoàng đế Khang Hy hạ chỉ cử quan viên đến khảo sát thực địa, lập phương án chỉnh trị, mở đầu công cuộc trị lý Hồn Hà.
Ngay trong năm đó, Vu Thành Long được lệnh xây dựng tuyến đê dài 180 dặm, nạo vét 145 dặm lòng sông và hoàn thành công trình dẫn nước Hồn Hà ra biển. Hoàng đế Khang Hy đích thân ban tên mới cho Hồn Hà là Vĩnh Định Hà, đồng thời cho xây miếu, dựng bia để ghi dấu. Hai chữ “Vĩnh Định” thể hiện hoài bão lớn lao của Hoàng đế Khang Hy trong việc trị thủy.
Năm Khang Hy thứ 38, Hoàng đế Khang Hy Đế đích thân thị sát đê Vĩnh Định Hà đến tận phía nam cầu Lư Câu. Ông chỉ bảo Tổng hà Vương Tân Mệnh:
“Con sông này không ổn định, dòng chảy xiết, dễ bồi lắng phù sa. Khi mực nước dâng cao, đê sẽ thành tương đối thấp, khiến dòng sông rất dễ vỡ bờ”.
Đồng thời, ông chỉ ra sách lược trị thủy: đào sâu và thu hẹp lòng sông để tăng sức chảy, cuốn trôi bùn cát. Có như vậy, dòng nước mới chảy đúng lòng sông, không còn nguy cơ tràn lũ. Hoàng đế Khang Hy cũng nhiều lần căn dặn phải nghiêm túc xây dựng hệ thống đê điều ở cả hai bờ và kiểm tra từng hạng mục một cách cẩn trọng.
Ngay sau đó, Hoàng đế Khang Hy tiếp tục thị sát nhiều công trình khác. Trên tuyến đê ở thôn Quách Gia Vụ, ông còn đích thân sử dụng dụng cụ đo đạc để phân tích tính khả thi của phương án chỉnh trị. Với tinh thần thực tiễn, Hoàng đế Khang Hy gần như đi khắp mọi tuyến đê của Vĩnh Định Hà, căn cứ tình hình thực tế để đưa ra những chỉ đạo và quy hoạch cụ thể.
Sau đó, Hoàng đế Khang Hy tiếp tục theo sát tiến độ công trình Vĩnh Định Hà, nhiều lần đến hiện trường kiểm tra. Đến năm Khang Hy thứ 39 (năm 1700), phần lớn công trình đã hoàn thành. Hai năm sau (năm 1702), nhận thấy phương pháp trị lý Vĩnh Định Hà rất thành công, Hoàng đế Khang Hy dự định áp dụng phương pháp này để chỉnh trị sông Hoàng Hà. Đến năm Khang Hy thứ 55 (năm 1716), đê điều Vĩnh Định Hà vẫn kiên cố, dòng sông chảy ổn định. Những làng quê ven sông vốn quanh năm ngập nước và đầy bùn lầy trước kia đã trở thành nơi nhà cửa khang trang, ruộng lúa bạt ngàn, người dân an cư lạc nghiệp, thực sự đạt được sự ổn định lâu dài.
Suốt cuộc đời, Hoàng đế Khang Hy luôn canh cánh việc trị thủy, coi đây là đại sự quốc gia quan trọng ngang với quân sự. Ông không chỉ là một bậc minh quân mà còn là một chuyên gia trị thủy. Quan viên phụ trách trị thủy đều do chính ông tuyển chọn theo năng lực; việc khảo sát và nghiệm thu công trình được ông trực tiếp thực hiện qua sáu chuyến Nam tuần, đích thân kiểm tra tỉ mỉ; các phương án xây dựng cũng đều do ông trực tiếp chỉ đạo, cẩn trọng và chu đáo. Đặc biệt, trong các chuyến Nam tuần, ông nhiều lần tự mình lên đê, đi bộ khảo sát đường dài, một lòng vì dân, không quản nhọc nhằn.
Cần mẫn lo việc triều chính, hết lòng vì dân, suốt hơn 40 năm Hoàng đế Khang Hy luôn dậy sớm thức khuya, không quên chí nguyện ban đầu, dốc biết bao tâm huyết cho công cuộc trị thủy, cuối cùng mở ra thời kỳ “trời yên biển lặng”, thái bình thịnh trị. Sau Đại Vũ, Hoàng đế Khang Hy cũng trở thành một vị quân vương khác được lưu danh sử sách nhờ những thành tựu to lớn trong công cuộc trị thủy.
Chịu trách nhiệm biên tập bản tiếng Trung: Vương Du Duyệt
(Còn tiếp)
(The Epoch Times)
Dịch từ:



