Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật Thiên cổ anh hùng của văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm

[ChanhKien.org]

Ngụy Vũ Đại Đế Tào Tháo. (Ảnh: The Epoch Times chế tác)

Phần III: Binh pháp Tào Tháo

Trong đại khung vũ trụ, đông đảo chúng sinh từ các cõi thiên quốc đều hy vọng có thể chuyển sinh xuống Trung thổ để kết duyên và diễn dịch. Khi duyên phận đã hoàn tất, chúng sinh của triều đại đó sẽ tiếp tục chuyển sinh sang các bang quốc khác. Ở nhân gian khi ấy gọi triều đại đó là “khí số đã tận”, đã đến lúc thay triều đổi đại. Lúc này thường xuất hiện nhiều thiên tượng cảnh báo: thiên tai nhân họa, tình hình chính trị hủ bại, cho đến cuối cùng đa số đều dùng chiến tranh để kết thúc triều đại cũ. Một triều đại mới, những con người mới lại sẽ tiến vào làm chủ đất Thần Châu. Chiến tranh, cũng giống như thiên tai, dịch bệnh, tật nguyền và quy luật sinh – lão – bệnh – tử, đã trở thành một phần cấu thành quan trọng không thể thiếu của xã hội và văn hóa nhân loại. Binh pháp, dùng để bày mưu lập kế, chỉ huy chiến tranh, nhằm đạt được mục đích của các cuộc chinh chiến mà Thần đã ban cho nhân gian, cũng tất nhiên hợp thời mà ra đời.

Vào thời thượng cổ, chiến tranh xảy ra nhưng binh pháp do không được kế thừa hiệu quả nên phần lớn đã bị thất truyền. Đến thời Xuân Thu Chiến Quốc, trong giai đoạn “Chư tử Bách gia”, Binh gia đã xuất hiện tại thế gian với tư cách là một trong Bách gia đó. Thời Chiến Quốc, quy mô chiến tranh lớn chưa từng có, nhiều bộ binh thư, binh pháp được lưu truyền và ứng dụng rộng rãi. Trong số đó, những nhân vật như Tôn Vũ, Ngô Khởi, Tôn Tẫn, Úy Liêu đều có binh pháp và binh thư lưu lại cho đời, nhưng đa số đã bị thất lạc dần qua các triều đại sau này. Bộ binh pháp do Tôn Vũ truyền lại, sau khi được Tôn Tẫn bổ sung, có độ dài lên tới hàng chục vạn chữ, xứng đáng là kiệt tác hàng đầu trong binh pháp cổ đại. Riêng Hàn Tín – người được hậu thế tôn vinh là “Binh Tiên”, “Chiến Thần” – là bậc kỳ tài một thân đảm đương đủ mọi vai trò “Vương, Hầu, Tướng (người cầm binh), Tướng (tể tướng)”. Thời Sở Hán, người đời đánh giá ông là “Quốc sĩ vô song”, “Công cao không ai bằng, mưu lược đời hiếm thấy”. Ông cũng từng viết binh pháp gồm ba chương, nhưng cũng đã bị thất truyền từ quá sớm.

Tào Tháo cầm quân hơn 30 năm, chinh chiến hơn 50 trận, sách chẳng rời tay; ngày thì giảng bàn võ sách, đêm lại suy ngẫm kinh truyện. Tùy sự việc mà bày ra mưu kế kỳ ảo, lường thế địch để chế thắng, biến hóa như thần. Ông tự viết binh thư hơn mười vạn chữ; các tướng khi đi chinh phạt đều căn cứ theo “Tân Thư” (tức “Mạnh Đức Tân Thư”) mà làm việc; ai tuân lệnh thì thắng lợi, ai làm trái lời dạy thì bại vong. Tào Tháo có thể “chuyển yếu thành mạnh, không chỉ do thiên thời mà còn nhờ vào mưu lược con người” (lời Gia Cát Lượng). “Đến như việc điều binh khiển tướng, từ xưa hiếm có ai bằng” (lời Tôn Quyền); “Trí kế của Tào Tháo vượt xa người thường” (lời Gia Cát Lượng).

Tào Tháo để lại nhiều bộ binh thư như: “Mạnh Đức Tân Thư”, “Tôn Tử Lược Giải”, “Binh Thư Tiếp Yếu”, “Ngụy Vũ Đế Binh Pháp”, “Tư Mã Pháp Chú”, “Thái Công Âm Mưu Giải”, “Tiếp Tôn Tử Binh Pháp”… nhưng nay chỉ còn duy nhất bộ “Tôn Tử Lược Giải” (tức “Tôn Tử Binh Pháp Chú”) là được bảo tồn nguyên vẹn. Đỗ Mục thời Đường từng nói: “Sách của Tôn Vũ vốn có hàng chục vạn chữ, Ngụy Vũ Đế (Tào Tháo) đã lược bỏ những phần rườm rà, chép lại những phần tinh túy nhất mà thành cuốn sách này.” Bộ “Tôn Tử Lược Giải” của Tào Tháo đã lưu truyền lại cho hậu thế những ý chủ yếu của binh pháp Tôn Tử cùng mưu lược, binh pháp của chính ông, trở thành tài liệu tham khảo và chuẩn mực cho các bậc vương giả trị quốc và các cuộc chinh chiến thiên hạ suốt các triều đại.

TÔN TỬ LƯỢC GIẢI (Tức TÔN TỬ BINH PHÁP CHÚ)

LỜI TỰA

Tháo nghe rằng từ thời thượng cổ đã có cái lợi của cung tên. Sách “Luận Ngữ” có câu: “Túc binh” (Đủ binh khí), kinh “Thượng Thư” bàn về tám chính sự (bát chính) có nhắc đến “Sư” (quân đội), kinh “Dịch” chép: “Sư trinh, trượng nhân cát” (Sư phải trung trinh, bậc già cả cầm quân thì tốt lành), kinh “Thi” viết: “Vương hách tư nộ, viên chinh kì lữ” (Vua bừng bừng nổi giận, chỉnh đốn quân lữ xuất chinh). Các bậc Thánh quân như Hoàng Đế, vua Thang, vua Vũ đều dùng đến thuẫn rìu để tế thế giúp đời. Sách “Tư Mã Pháp” có nói: “Nhân cố sát nhân, sát chi khả dã”. (Vì người ta giết người, nên giết kẻ đó đi cũng là lẽ phải). Kẻ ỷ vào võ lực sẽ bị diệt vong, kẻ quá dựa vào văn đức cũng sẽ lụi tàn, Phù Sai và Từ Yển Vương chính là những minh chứng đó. Bậc Thánh nhân dùng binh, tích trữ sức mạnh mà chờ thời mới động, cực chẳng đã mới phải dùng đến.

Ta đã xem qua nhiều binh thư chiến sách, thấy sách của Tôn Vũ viết là sâu sắc nhất. Tôn Tử người nước Tề, tên Vũ, vì vua Ngô là Hạp Lư mà viết ra mười ba thiên Binh Pháp. Từng đem phụ nữ ra thử nghiệm đội ngũ, cuối cùng được bổ nhiệm làm tướng; phía Tây đánh tan nước Sở mạnh vào tận kinh thành Sính, phía Bắc uy hiếp nước Tề, nước Tấn. Hơn một trăm năm sau có Tôn Tẫn, chính là hậu duệ của Tôn Vũ. Việc tính toán kỹ lưỡng rồi mới hành động, mưu kế rõ ràng, tầm nhìn sâu rộng (trong binh pháp Tôn Tử) là điều không thể phủ nhận; thế nhưng người đời chưa hiểu thấu đáo ý nghĩa và lời giáo huấn, lại thêm văn chương rườm rà, kẻ truyền bá ở đời làm mất đi cái tôn chỉ yếu lược. Bởi vậy, ta soạn ra bản Lược Giải này.

Trong bài tựa này, Tào Tháo đã đặc biệt chỉ ra rằng: “Bậc Thánh nhân dùng binh, tích trữ sức mạnh mà chờ thời mới động, cực chẳng đã mới phải dùng đến.” Sách Kinh Thi – Chu Tụng có câu: “Xếp gọn giáo gươm, bỏ cung tên vào túi”. Các chữ “Trấp” (戢 – cất giữ) và “Thác” (橐 – túi đựng) đều ý nói là đem binh khí cất đi chứ không phải là hủy bỏ chúng. Chiến tranh thực chất là một sự tất nhiên của lịch sử. Từ xưa, các bậc Thánh nhân không những không phản đối chiến tranh, mà còn cho rằng phải chuẩn bị sẵn sàng cho chiến tranh, phải “đủ binh khí” (túc binh), dự phòng “quân đội” (sư), thậm chí chủ trương “chỉnh đốn quân lữ” để thảo phạt kẻ bất tuân. Tào Tháo đưa ra quan điểm: “Kẻ ỷ vào võ lực sẽ bị diệt vong, kẻ quá dựa vào văn đức cũng sẽ lụi tàn”. Nếu chỉ dựa vào chiến tranh mà không thương xót dân, không giảng nhân nghĩa thì sẽ mất nước; ngược lại, nếu chỉ nói đạo đức nhân nghĩa mà không chuẩn bị cho chiến tranh thì cũng sẽ dẫn đến vong quốc.

Tào Tháo đã khẳng định tính tất yếu và tác dụng lịch sử của chiến tranh khi dẫn lại hai câu trong sách “Tư Mã Pháp”: “Vì người ta cố ý giết người, nên giết kẻ đó đi cũng là lẽ phải”. Nghĩa là đối với kẻ cố tình giết hại người khác, ta có thể giết chết hắn để thuận theo thiên nghĩa, từ đó mới có thể ổn định quốc gia, cứu giúp thứ dân.

Câu chuyện về sự vong quốc của Ngô Vương Phù Sai và Từ Yển Vương đã minh chứng cho đạo lý: phải chuẩn bị sẵn sàng cả “văn” lẫn “võ” nhưng không được phép ỷ lại vào một bên. Sử sách ghi lại rằng, Ngô Vương Phù Sai sau khi đánh bại nước Việt đã không biết tu chỉnh quốc chính, không lo an dân trị quốc, mà trái lại còn cậy vào vũ lực để hướng lên phía Bắc tranh bá. Ông đánh bại quân Tề, hội họp chư hầu, tranh giành vị thế với nước Tấn; kết quả là Việt Vương Câu Tiễn đã thừa cơ đánh úp, diệt gọn nước Ngô, Phù Sai phải tự sát mà chết. Ở một thái cực khác, Từ Yển Vương lại chỉ biết tu sửa văn đức mà không mưu tính việc quân sự. Thiên “Ngũ Đố” trong sách Hàn Phi Tử có chép: “Từ Yển Vương ở phía Đông sông Hán, đất đai rộng năm trăm dặm, thực hành nhân nghĩa, khiến cho ba mươi sáu nước phải cắt đất đến triều cống. Kinh Văn Vương (vua nước Sở) lo ngại Từ Yển Vương sẽ gây hại cho mình, bèn dấy binh phạt Từ, cuối cùng tiêu diệt nước này”.

Bộ “Tôn Tử Lược Giải” của Tào Tháo dài tới vạn chữ, do giới hạn khuôn khổ nên không thể đăng lại toàn bộ tại đây. Tuy nhiên, tư tưởng quân sự của ông luôn được các binh gia đời sau hết mực ca ngợi. Ông nhấn mạnh việc “binh dấy lên vì nghĩa” (Tam quốc chí – Vũ Đế kỷ), “chỉ ra hình thế thiên hạ, dùng cái thuận tiêu diệt cái nghịch”. Để giành thế chủ động trong chiến tranh, ông đã “phụng thờ Thiên tử để hiệu lệnh chư hầu”, dấy nghĩa binh để trừ bạo loạn, bảo vệ nhà Hán. Sau khi chiếm được vùng Hà Bắc, ông miễn thuế cho nạn dân, lại ban lệnh ức chế hào cường thôn tính ruộng đất, nhờ đó mà “bách tính thân cận phục tùng, binh giáp cường thịnh”.

Tào Tháo luôn nhất quán thực hiện chính sách chọn lựa tinh binh, giản chính (tối giản bộ máy hành chính), đồng thời hết lòng quan tâm và thể xót tướng sĩ, binh lính. Trong bản “Cổ Xúy Lệnh”, ông nói: “Cô sở dĩ năng thường dĩ thiểu binh thắng địch giả, thường niệm tăng chiến sĩ, hốt dư sự, thị dĩ vãng giả hữu cổ xuy nhi sử bộ hành, vi chiến sĩ ái mã dã; bất nhạc đa thự lại, vi chiến sĩ ái lương dã.” Tạm dịch là: Ta sở dĩ thường có thể dùng ít quân mà thắng được địch, là vì luôn tâm niệm việc tăng cường sức chiến đấu cho chiến sĩ mà xem nhẹ các việc khác. Thế nên, trước đây dù là quân nhạc (đội cổ xúy) cũng phải đi bộ, ấy là để dành ngựa cho chiến sĩ; ta không thích lập ra quá nhiều chức quan, ấy là để dành lương thảo cho chiến sĩ vậy.” Mỗi khi chiến sự tại một vùng kết thúc, Tào Tháo đều yêu cầu tướng sĩ phải dẹp sạch biên cảnh, đưa dân chúng trở lại ruộng đồng, chuyên cần khuyến khích việc nhà nông; mệnh lệnh được thực thi nghiêm minh, khắp nơi đều ca ngợi.

Về yêu cầu đối với bậc làm “Tướng”, Tào Tháo cho rằng: “Người làm tướng nên hội đủ ngũ đức (Trí, Tín, Nhân, Dũng, Nghiêm); đồng thời phải am hiểu cả thiên thời và địa lợi”.

Tào Tháo trong việc chọn tướng dùng người luôn chủ trương phá bỏ quy cách để cầu lấy thực tài. Ông cho rằng “Tướng hiền thì nước an”, và “Nay thiên hạ vẫn chưa định, đây chính là lúc cấp bách phải cầu người hiền”. Do đó, ông chủ trương “cất nhắc người hiền không nên câu nệ đức hạnh”, “Tiến cử kẻ sĩ chớ vì khuyết điểm nhỏ mà bỏ rơi” (Tam quốc chí – Vũ Đế kỷ), cốt sao “duy tài thị cử” (chỉ dựa vào tài năng mà trọng dụng). Mỗi khi cần quyết định đại kế sách lược chung, Tào Tháo đều cùng các tướng sĩ bàn bạc, chọn lấy ý kiến hay nhất mà làm theo; thậm chí ông còn yêu cầu cấp dưới phải tìm ra những điểm thiếu sót và tích cực can gián. Năm Kiến An thứ mười một, Tào Tháo hạ lệnh rằng: “Phàm là trị đời quản người, thiết lập bộ máy phò tá, điều kiêng kỵ nhất là việc cấp dưới chỉ biết vâng dạ trước mặt (diện tòng). Kinh Thi có câu: ‘Nghe theo mưu kế của ta, mong sao không có hối hận lớn’, đó thực sự là mong muốn khẩn thiết của vua tôi. Ta gánh vác trọng trách, luôn sợ mất đi sự công bằng chính trực. Nhiều năm trở lại đây, ta không nghe được những mưu kế hay, há chẳng phải là do ta chưa đủ cần mẫn trong việc mở rộng cửa đón lời can gián sao? Từ nay về sau, các chức Duyện thuộc (một chức quan phó), Trị trung, Biệt giá (một chức quan giúp việc cho Thứ sứ), mỗi người cứ vào ngày mùng một hàng tháng phải trình bày những sai sót mà mình thấy”.

Tào Tháo cho rằng “Lễ không thể dùng để trị quân”, ông nhấn mạnh: “Ta ở trong quân, lấy việc giữ nghiêm pháp luật làm trọng”, đặc biệt chú trọng việc dùng pháp luật để quản lý quân đội. Nhận thấy tình trạng chính sự nhà Hán thời cuối suy yếu vì quá lỏng lẻo, ông đã dùng “phép trị nghiêm khắc” (củ chi dĩ mãnh) để giúp “trên dưới biết rõ khuôn phép”. Ông chế định luật pháp quân đội như: Quân Lệnh, Bộ Chiến Lệnh, Thuyền Chiến Lệnh, Luận Lại Sĩ Hành Năng Lệnh, Bại Quân Đốc Tội Lệnh… nhằm duy trì sự thống nhất trong chỉ huy quân đội.

“Ngụy Vũ Quân Lệnh”

Ngô tương sĩ vô trương cung nỗ vu quân trung. Kỳ tùy đại quân hành, kỳ dục thí điều cung nỗ giả đắc trương chi, bất đắc trứ tiến. Phạm giả tiên nhị bách, một nhập lại. Bất đắc vu doanh trung đồ sát mại chi, phạm lệnh một sở mại bì. Đô đốc bất củ bạch, trượng ngũ thập. Thủy xuất doanh, thụ mâu kích, thư phiên kỳ, minh cổ; hành tam lý, ích mâu kích, kết phiên kỳ, chỉ cổ; tương chí doanh, thư phiên kỳ, minh cổ; chí doanh cật, phục kết phiên kỳ, chỉ cổ. Vi lệnh giả, khôn tiễn dĩ tuẫn. Quân hành, bất đắc chước phạt điền trung ngũ quả, tang, chá, cức, tảo.

Tạm dịch là:

Tướng sĩ của ta không được tự ý giương cung nỗ (nỏ) trong quân. Khi đạo quân lớn hành quân, những ai muốn thử hoặc điều chỉnh cung nỗ thì được phép giương dây, nhưng tuyệt đối không được lắp tên. Kẻ nào phạm lệnh sẽ bị phạt 200 roi, sung làm nô lệ cho quan. Không được phép đồ sát (giết mổ gia súc) và bán thịt trong doanh trại; kẻ phạm lệnh sẽ bị tịch thu số da thú định bán. Nếu Đô đốc không kiểm tra và tố giác, sẽ bị phạt 50 trượng. Khi bắt đầu rời doanh trại: phải dựng đứng mâu kích, mở cờ xí, đánh trống; hành quân được ba dặm thì hạ mâu kích xuống, thu cờ xí lại, ngừng đánh trống. Khi sắp đến nơi đóng trại: phải mở cờ xí, đánh trống; khi đã vào trại xong: lại thu cờ xí, ngừng đánh trống. Kẻ nào làm trái lệnh sẽ bị cạo trọc đầu bêu trước mọi người. Quân hành đến đâu, tuyệt đối không được chặt phá các loại cây ăn quả (ngũ quả), cây dâu, cây thác, cây gai và cây táo ở trong ruộng của dân.

“Bộ Chiến Lệnh”

“Trống nghiêm hồi thứ nhất, bộ binh và kỵ binh tất cả chuẩn bị trang bị; hồi thứ hai, kỵ binh lên ngựa, bộ binh kết thành đội; hồi thứ ba, lần lượt xuất quân theo hướng cờ chỉ. Kẻ ở lại phải kết thành đội đứng sau cờ. Nghe tiếng trống dồn dập thì chỉnh đốn đội hình. Quân trinh sát phải xem địa hình rộng hẹp, lập mốc (biểu) ở bốn góc để chế định trận thế cho phù hợp. Các bộ khúc phải tự ổn định đội hình, sắp xếp binh lính thưa hay dày, quan Binh Tào phải kiểm tra và báo cáo. Kẻ nào làm trái lệnh đều bị chém. Nếu muốn dàn trận đối diện trại địch, trước hết phải cắm mốc làm dấu, sau đó mới dẫn binh đến mốc mà dàn trận. Khi lâm trận, tất cả không được hò hét ồn ào, phải lắng tai nghe tiếng trống, nhìn cờ hiệu: phất về trước thì tiến, phất về sau thì lùi, phất sang trái thì sang trái, phất sang phải thì sang phải. Nếu không nghe lệnh cờ mà tùy tiện thì trước sau trái phải đều bị chém. Trong ngũ (nhóm năm người) có kẻ không tiến, Ngũ trưởng giết kẻ đó; Ngũ trưởng không tiến, Thậm trưởng (quản hai ngũ) giết Ngũ trưởng; Thậm trưởng không tiến, Đô bá giết Thậm trưởng. Tướng đốc chiến bộ khúc cầm đao tuốt trần đứng sau, quan sát kẻ nào trái lệnh không tiến thì chém. Một bộ phận bị địch tấn công, các bộ phận còn lại không đến cứu viện thì bị chém. Khi lâm trận, binh sĩ và cung nỏ không được rời khỏi trận. Nếu rời trận mà Ngũ trưởng, Thậm trưởng không tố giác thì cùng chịu tội. Không có lệnh của tướng quân, kẻ nào tự ý đi lại giữa các hàng quân đều bị chém. Khi lâm trận, kỵ binh dàn trận phải ở hai đầu quân; kỵ binh đột kích phía trước, kỵ binh dàn trận tiếp theo, kỵ binh cơ động (du kỵ) ở sau cùng. Vi phạm lệnh này bị cạo tóc và phạt 200 roi. Binh lính đang tiến mà thối lui vào trong trận để hỏi han thì bị chém. Nếu bộ binh và kỵ binh đối trận với giặc, tùy địa thế lúc đó mà muốn cho kỵ binh độc lập tiến đánh, thì khi nghe ba hồi trống, kỵ binh từ hai đầu tiến lên chiến đấu, nhìn theo hướng cờ chỉ, nghe ba tiếng chiêng (kim) thì rút về. Đây là lệnh khi kỵ binh đánh riêng lẻ; còn khi bộ kỵ đại chiến thì việc tiến lui theo phép chung. Quan lại hay binh sĩ nào phóng ngựa về phía trận kỵ binh đều bị chém. Kẻ nào tự ý kêu la lớn tiếng bị chém. Khi truy kích giặc không được lẻ loi đi trước hoặc rớt lại sau, phạm lệnh phạt bốn lượng vàng. Quân sĩ sắp chiến đấu không được lo chiếm đoạt trâu bò hay quần áo, phạm lệnh bị chém. Khi tiến đánh, binh sĩ phải theo đúng số hiệu của mình. Không theo số hiệu, dù có công cũng không thưởng. Khi tiến đánh, quân phía sau vượt lên trước, quân phía trước tụt lại sau, dù có công cũng không thưởng. Khi lâm trận, Nha môn tướng và Kỵ đốc nhận mệnh lệnh từ cấp trên; các Đô đốc, Tướng lĩnh, quan lại của bộ khúc phải đốc thúc quân sĩ lúc chiến đấu. Đốc quân đứng sau trận để quan sát kẻ nào vi phạm lệnh hoặc khiếp nhược. Khi có việc khẩn, nghe tiếng trống sấm dứt, sau khi sáu loại âm (lục âm) xong xuôi, phải báo cáo rõ ràng rồi mới xuất quân. Binh lính trốn về nhà thì bị chém. Trong vòng một ngày nếu người nhà không bắt giữ hoặc không báo quan thì cả nhà cùng chịu tội.” (Trích “Thông điển”, Quyển 149)

“Thuyền Chiến Lệnh”

“Trống sấm hồi thứ nhất, quan lại và binh sĩ đều nghiêm chỉnh chuẩn bị; hồi thứ hai, các đơn vị thậm, ngũ đều xuống thuyền. Chỉnh tề cầm sẵn chèo lái, binh sĩ chiến đấu tay cầm binh khí tiến vào thuyền, ai nấy vào đúng vị trí của mình. Cờ xí, trống trận đều phải theo đúng thuyền của tướng lĩnh cai quản. Trống hồi thứ ba vang lên, các chiến thuyền lớn nhỏ lần lượt xuất phát, cánh trái không được sang cánh phải, cánh phải không được sang cánh trái, trước sau không được hoán đổi vị trí. Kẻ nào làm trái lệnh đều bị chém.” (Trích “Thông Điển”, Quyển 149)

Để quán triệt tư tưởng dùng pháp luật trị quân, Tào Tháo đặc biệt chú trọng đến việc tuyển chọn quan lại tư pháp trong quân đội. Ông cho rằng: “Hình pháp vốn là mệnh mạch của bách tính. Thế mà kẻ giữ việc hình án trong quân có lúc không chọn đúng người, lại đem việc sinh tử của ba quân phó thác cho họ, ta rất lấy làm lo sợ. Vậy nên phải chọn những kẻ thông hiểu pháp lý, sáng suốt để giao cho nắm giữ việc sử dụng hình phạt”. (Trích Tam quốc chí – Vũ Đế kỷ)

“Bại Quân Lệnh”

Lệnh rằng: “Sách Tư Mã Pháp có câu: ‘Tướng quân chết không lùi bước’ (tử tuy), cho nên mẹ của Triệu Quát mới cầu xin không bị liên lụy vì tội của Quát. Ấy là vì các tướng thời xưa, hễ quân thua ở ngoài thì gia đình chịu tội ở trong. Từ khi ta bổ dụng tướng lĩnh đi chinh chiến đến nay, chỉ mới khen thưởng người có công mà chưa xử phạt kẻ có tội, như thế là không đúng với điển lệ quốc gia. Nay ra lệnh: Các tướng xuất chinh, kẻ nào làm quân bị tiêu diệt thì phải đền tội, kẻ nào để thất lợi (thua trận nhưng quân chưa tan) thì bãi miễn quan tước.” (Trích Ngụy chí – Vũ Đế kỷ)

Tào Tháo dùng binh cực kỳ giỏi việc thưởng phạt. Ông nói: “Thưởng phạt phân minh, thì dù dùng cả vạn quân cũng điều khiển dễ như dùng một người.” “Thưởng cho điều thiện thì không để qua ngày khác.” “Ân và tín đã rộng khắp, nhưng nếu không có hình phạt thì quân sĩ sẽ kiêu căng, lười biếng mà khó dùng vậy.” “Từ khi lệnh cho tướng chinh chiến, chỉ thưởng công mà không phạt tội là trái phép nước. Nay lệnh cho các tướng: bại quân thì đền tội, thất lợi thì miễn chức.” Ông không ban quan chức cho bề tôi không có công, không ban thưởng cho binh sĩ không chiến đấu; chủ trương: “Thời bình thì trọng đức hạnh, thời loạn thì thưởng công lao.” Thưởng phạt phân minh.

Tào Tháo hiểu rất rõ rằng kinh tế tốt xấu quan hệ trực tiếp đến thành bại của chiến tranh. Quân đội mà không có quân nhu, lương thảo, tích trữ thì đó là “con đường dẫn đến diệt vong”. Do đó, ông đã rút ra kinh nghiệm từ việc “Người Tần nhờ dốc sức cho nông nghiệp mà gom cả thiên hạ, vua Hán Vũ Đế nhờ đồn điền mà bình định Tây Vực” (Trích chú giải của Bùi Tùng Chi trong Tam quốc chí – Vũ Đế kỷ), từ đó triển khai rầm rộ đồn điền (đóng binh làm ruộng), đạt được mục đích lương thực đầy đủ, quân đội cường thịnh.

(Còn tiếp)

Dịch từ:

https://www.epochtimes.com/gb/16/4/28/n7783342.htm