Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật Thiên cổ anh hùng của văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm
[ChanhKien.org]
Ngụy Vũ Đại Đế Tào Tháo. (Ảnh: The Epoch Times chế tác)
VII. Thành hồng nghiệp, không xưng Đế, danh lưu vạn cổ
Từ thời Hán Vũ Đế, tư tưởng Nho gia cùng học thuyết sấm vĩ ngoài Nho trong Đạo bắt đầu thịnh hành suốt thời kỳ hai nhà Hán (Tây Hán và Đông Hán). Việc thông hiểu kinh sách, giữ lòng nhân hiếu đã trở thành căn cứ chính để triều đình tuyển chọn nhân tài. Đến thời Linh Đế và Hiến Đế gặp lúc nhà Hán suy vong, đạo đức xã hội ngày càng xuống cấp, những kẻ hủ Nho và tục đạo tràn lan khắp thế gian. “Cử tú tài, bất tri thư, sát hiếu liêm, phụ biệt cư, hàn tố thanh bạch trọc như nê, cao đệ lương tương khiếp như kê” (trích Bào Phác Tử – Ngoại thiên, quyển 15), tạm dịch là: Bao nhiêu Tú tài không biết chữ, bấy nhiêu Hiếu liêm để cha ở riêng; kẻ thanh bạch thì bẩn tựa bùn, bậc lương tướng lại nhát như gà. Câu nói này đã mô tả phong khí của thời bấy giờ: kẻ làm sĩ phu thì thiếu tài, kẻ làm con thì bất hiếu, kẻ làm quan thì tham nhũng, kẻ làm tướng thì hèn nhát. Trước tình cảnh đó, Tào Tháo đã ba lần ban bố “Cầu hiền lệnh”, không câu nệ phẩm hạnh, chỉ cốt tìm người có tài (duy tài thị cử), thu phục anh hùng thiên hạ rồi dùng đạo mà chế ngự họ.
Cầu hiền lệnh (năm Kiến An thứ 15, tức năm 210 sau công nguyên)
Tự cổ thụ mệnh cập trung hưng chi quân, hạt thường bất đắc hiền nhân quân tử dữ chi cộng trì thiên hạ giả hồ! Cập kỳ đắc hiền dã, tằng bất xuất lư hạng, khởi hạnh tương ngộ tai? Thượng chi nhân cầu thủ chi nhĩ. Kim thiên hạ thượng vị định, thử đặc cầu hiền chi cấp thì dã. “Mạnh công xước vi triệu, ngụy lão tắc ưu, bất khả dĩ vi đằng, tiết đại phu.” Nhược tất liêm sĩ nhi hậu khả dụng, tắc Tề Hoàn kỳ hà dĩ phách thế! Kim thiên hạ đắc vô hữu bị hạt hoài ngọc nhi điếu vu vị tân giả hồ? Hựu đắc vô hữu đạo tẩu thụ kim nhi vị ngộ vô tri giả hồ? Nhị tam Tử Kỳ tá ngã minh dương trắc lậu, duy tài thị cử, ngô đắc nhi dụng chi.
Đại ý là: Từ xưa các bậc khai quốc và trung hưng đều nhờ hiền tài mà trị nước. Nhân tài không tự nhiên ngẫu nhiên xuất hiện trước mặt quân vương, mà cần chủ động tìm kiếm. Nay thiên hạ chưa yên, càng phải khẩn thiết cầu hiền. Không nên câu nệ chỉ dùng người có thanh danh hoàn mỹ; như Tề Hoàn Công nếu chỉ dùng người “hoàn toàn liêm khiết” thì sao có thể xưng bá. Trong đời hẳn vẫn còn những bậc đại tài ẩn dật như Khương Thượng, hoặc những người tài từng mang tiếng như Trần Bình mà chưa gặp minh chủ. Vì vậy kêu gọi mọi người tiến cử nhân tài đang mai một ở tầng dưới, không câu nệ xuất thân, chỉ lấy tài năng làm chuẩn để bổ nhiệm và sử dụng, để ta có thể có được mà bổ nhiệm bọn họ.
Sắc lệnh cho các quan phụ trách khi lấy người không được bỏ sót kẻ có khuyết điểm (năm Kiến An thứ 19, tức năm 214 sau công nguyên)
Phu hữu hành chi sĩ, vị tất năng tiến thủ, tiến thủ chi sĩ, vị tất năng hữu hành dã. Trần Bình khởi đốc hành, Tô Tần khởi thủ tín tà? Nhi Trần Bình định Hán nghiệp, Tô Tần tể nhược Yến. Do thử ngôn chi, sĩ hữu thiên đoản, dong khả phế hồ! Hữu ti minh tư thử nghĩa, tắc sĩ vô di trệ, quan vô phế nghiệp hĩ.
Đại ý là: Những người có đức hạnh vẹn toàn chưa chắc đã có tài năng để làm nên đại nghiệp; ngược lại, những người có tài kinh bang tế thế chưa chắc phẩm đức đã hoàn hảo. Trần Bình phẩm đức có thực sự hoàn hảo không? Tô Tần khi thuyết khách há có giữ chữ tín? Nhưng chính Trần Bình đã lập công lớn dựng xây nhà Hán, và Tô Tần đã giúp nước Yên nhỏ yếu trở nên vững mạnh. Qua đó mới thấy, kẻ sĩ dẫu có đoản khúc (điểm yếu), lẽ nào vì thế mà không dùng! Mong các quan phụ trách hãy thông hiểu đạo lý này, có như vậy mới không vùi lấp nhân tài và giúp cho việc nước được vận hành trôi chảy.
Lệnh tiến cử người hiền không câu nệ phẩm hạnh (năm Kiến An thứ 22, tức năm 217 sau công nguyên)
Tích Y Chí, Phó Duyệt xuất vu tiện nhân, Quản Trọng, Hoàn Công tặc dã, giai dụng chi dĩ hưng, Tiêu Hà, Tào Tham, huyền lại dã, Hàn Tín, Trần Bình phụ ô nhục chi danh, hữu kiến tiếu chi sỉ, tốt năng thành tựu vương nghiệp, thanh trứ thiên tái. Ngô Khởi tham tương, sát thê tự tín, tán kim cầu quan, mẫu tử bất quy, nhiên tại Ngụy, Tần nhân bất cảm Đông hướng, tại Sở, tắc Tam Tấn bất cảm Nam mưu. Kim thiên hạ đắc vô hữu chí đức chi nhân phóng tại dân gian, cập quả dũng bất cố, lâm địch lực chiến; nhược văn tục chi lại, cao tài dị chất, hoặc kham vi tương thủ; phụ ô nhục chi danh, kiến tiếu chi hành, hoặc bất nhân bất hiếu, nhi hữu trì quốc dụng binh chi thuật: Kỳ các cử sở tri, vật hữu sở di.
Đại ý là: Thời xưa, Y Chí và Phó Duyệt đều xuất thân từ hàng dân hèn mọn; Quản Trọng vốn là kẻ đối địch với Tề Hoàn Công, nhưng tất cả đều nhờ được trọng dụng mà giúp quốc gia hưng thịnh. Tiêu Hà và Tào Tham vốn chỉ là quan lại nhỏ nơi huyện phủ; Hàn Tín và Trần Bình từng mang danh ô nhục, chịu nỗi nhục bị người đời cười chê, nhưng cuối cùng đều có thể giúp bậc Đế Vương thành tựu đại nghiệp, tiếng thơm lưu truyền ngàn năm. Ngô Khởi vì cầu làm tướng mà giết thê để lấy lòng tin, vung tiền bạc để cầu quan chức, mẹ chết không về chịu tang; thế nhưng khi ông ta ở nước Ngụy, quân Tần không dám nhìn về hướng Đông; lúc ở nước Sở, quân Tam Tấn (Hàn, Triệu, Ngụy) không dám mưu tính phương Nam. Nay thiên hạ lẽ nào lại không có bậc đại đức đang ẩn dật trong dân gian? Những kẻ quả cảm dũng mãnh, gặp địch liều chết; hoặc những quan lại mẫn cán, tài cao cốt cách ưu tú, có thể đảm đương chức tướng lĩnh phòng thủ; hoặc có kẻ mang danh ô nhục, hành vi bị chê cười, hay dẫu có bất nhân bất hiếu nhưng lại có bản lĩnh trị quốc dụng binh. Mọi người đều phải tiến cử những người như vậy, tuyệt đối không được để sót.
Sử sách chép rằng Tào Tháo là người “biết người, khéo quan sát, khó lòng dùng những lời giả dối để đánh lừa ông. Ông đề bạt Vu Cấm, Nhạc Tiến từ trong hàng ngũ binh lính; thu nạp Trương Liêu, Từ Hoảng từ trong đám hàng tướng bại trận; tất cả họ đều phò tá vâng mệnh lập nên công trạng, được liệt hàng danh tướng”.
Năm Kiến An thứ 24 (năm 219), Ngụy Vương Tào Tháo dâng biểu tôn Tôn Quyền làm Phiêu kỵ Tướng quân, ban tiết, lĩnh chức Kinh Châu mục, phong làm Nam Xương hầu. Tôn Quyền sai Hiệu úy Lương Ngụ vào triều cống, lại sai bọn Chu Quang trở về, dâng sớ xưng thần với Tào Tháo, lời lẽ còn nhắc đến thiên mệnh (ý khuyên Tào Tháo lên ngôi Vua). Tào Tháo đưa thư của Quyền cho các thuộc hạ xem rồi nói: “Thằng ranh này muốn đặt ta ngồi trên bếp lửa hay sao!”
Thị trung Trần Quần và Thượng thư Hoàn Giai khuyên Tào Tháo rằng vận khí nhà Hán đã cạn, hoàng gia (nhà có đức màu vàng) đang lúc hưng thịnh, không nên khiêm nhường mà hãy tiếp nhận thiên hạ của nhà Hán. Họ dâng tấu nói: “Nhà Hán từ đời An Đế trở lại đây, quyền lực đã rời xa hoàng tộc, quyền lực nhà nước mấy lần đứt đoạn. Cho đến nay, Hán triều chỉ còn cái danh hão, từ tấc đất đến người dân đều không còn thuộc về nhà Hán nữa; vận số đã hết từ lâu, chẳng phải mới đến ngày hôm nay. Bởi vậy từ thời Hoàn Đế, Linh Đế, các bậc am hiểu sấm vĩ đều nói: ‘Vận khí nhà Hán đã tận, hoàng gia tất sẽ hưng’. Điện hạ ứng mệnh trời, thiên hạ mười phần đã có đến chín, vậy mà vẫn phục tùng nhà Hán, điều này khiến mọi người mong mỏi, xa gần oán thán. Nay Tôn Quyền ở nơi xa xôi cũng xưng thần, đó chính là sự ứng thuận giữa trời và người, dù ở vị thế khác nhau nhưng cùng chung tiếng nói. Thần trộm nghĩ vua Ngu (Thuấn), vua Hạ (Vũ) chẳng vì khiêm nhường mà từ chối ngôi báu, vua nhà Ân, nhà Chu cũng chẳng ngại việc đánh dẹp quân vương cũ để cứu dân. Nay nên thuận theo mệnh trời, chẳng có gì phải nhường cả.”
Đại tướng Hạ Hầu Đôn cũng nói với Ngụy Vương: “Thiên hạ đều biết vận số nhà Hán đã hết, triều đại mới sắp bắt đầu. Từ xưa đến nay, ai có thể trừ hại cho dân, được trăm họ hướng về thì đó chính là chủ của dân vậy. Nay điện hạ chinh chiến hơn 30 năm, công đức hiển hách trong dân chúng, là chỗ dựa cho thiên hạ, ấy là thuận trời hợp lòng dân, còn nghi ngại chi nữa!” Tào Tháo rốt cuộc vẫn không nghe theo, nói rằng: “Kinh Thư có câu: Đem đạo hiếu đễ áp dụng vào việc cai trị, như thế cũng chính là làm chính trị rồi. Nếu mệnh trời thuộc về ta, ta nguyện làm Chu Văn Vương thôi.” Tào Tháo một lòng giữ vững phận bề tôi, phò trì nhà Hán.
Tào Tháo vâng theo ý Trời, cả đời chinh chiến, đã diễn giải một cách hoàn mỹ quy luật “Binh chinh thiên hạ, vương giả trị quốc”, hoàn thành đại nghiệp vẻ vang. Ông cẩn trọng tuân theo thiên mệnh, kiên quyết không xưng Đế, cùng các anh hùng đương thời chia ba thiên hạ, chung tay diễn giải nội hàm của chữ “Nghĩa” đến mức cực hạn, viết nên chương sử rực rỡ nghìn thu cho hậu thế!
Tháng Giêng mùa xuân năm Kiến An thứ 25 (năm 220), Tào Tháo đến Lạc Dương; ngày Canh Tử, Tào Tháo tạ thế tại Lạc Dương, hưởng thọ 66 tuổi.
Trước đó, Tào Tháo đã hạ lệnh về việc hậu sự của mình như sau: “Bậc vương giả thời xưa khi an táng tất phải chọn nơi đất đai khô cằn, nghèo nàn. Hãy chọn vùng đất cao ở phía Tây đền thờ Tây Môn Báo để làm Thọ lăng (lăng mộ chuẩn bị trước), lấy gò cao làm nền, không đắp thêm nấm mồ, không trồng thêm cây cối. Theo sách Chu Lễ, chức Chủng nhân cai quản đất công mộ, phàm các vị chư hầu thì táng ở hai bên phía trước, các bậc khanh đại phu táng ở phía sau, chế độ nhà Hán gọi đó là bồi lăng. Các bậc công khanh, đại thần và liệt tướng có công lao, đều nên được táng cùng tại Thọ lăng, hãy mở rộng khu vực mộ địa sao cho đủ chỗ cho tất cả mọi người”.
Lại nói: “Ta ở trong quân giữ nghiêm phép tắc, đó là điều đúng đắn; còn như những lúc nóng giận nhất thời hay những sai lầm lớn, thì các ngươi không nên bắt chước. Thiên hạ nay vẫn chưa được bình yên, chưa thể theo hoàn toàn lệ cổ. Sau khi chôn cất xong, tất cả đều được xả tang (cởi bỏ đồ tang). Những ai đang cầm quân đóng giữ nơi biên thùy đều không được rời khỏi biên quan, các quan hữu ty hãy tự làm tốt chức trách của mình. Khi khâm liệm hãy dùng quần áo thường dùng lúc sinh thời, an táng tại gò đất phía Tây thuộc Nghiệp Thành, gần với đền thờ Tây Môn Báo, tuyệt đối không được chôn theo vàng bạc, ngọc ngà hay trân bảo.”
Con trai trưởng do Tào Tháo và Biện thị sinh ra là Tào Phi lên kế vị tước Vương, ban thụy hiệu cho Tào Tháo là Vũ Vương. Tháng Hai ngày Đinh Mão, vâng theo di lệnh của Tào Tháo, triều đình đem an táng ông tại Cao Lăng.
Con trai trưởng do Tào Tháo và Biện thị sinh ra là Tào Phi kế vị tước Vương. Hình minh họa trong bản in ‘Tam Quốc Chí’ thời đầu nhà Thanh (bản lưu giữ của Đại Khôi Đường). (Ảnh: Phạm vi công cộng)
Lưu Bị viết thư gửi lời chia buồn: “Lưu Bị nghe tin Tào Công qua đời, bèn phái thuộc cấp là Hàn Nhiễm dâng thư phúng viếng”, “Đồng thời dâng cúng gấm vóc”.
Tháng Mười Một, ngày Quý Dậu, Tào Phi tôn phong Hán Đế làm Sơn Dương Công, cho phép dùng lịch pháp nhà Hán, sử dụng lễ nhạc của bậc Thiên tử; đồng thời truy tôn Tào Tháo là Vũ Hoàng Đế, miếu hiệu là Thái Tổ.
Hậu thế đã đưa ra những lời nhận định như sau về bậc anh hùng thiên cổ Tào Tháo:
Trần Thọ (tác giả Tam quốc chí):
“Hán mạt, thiên hạ đại loạn, hùng hào tịnh khởi, nhi viên thiệu hổ sưu tứ châu, cường thịnh mạc địch. Thái Tổ vận trù diễn mưu, tiên thát vũ nội, khuých thân, thương chi pháp thuật, cai Hàn, Bạch chi kỳ sách, quan phương thụ tài, các nhân kỳ khí, kiểu tình nhâm toán, bất niệm cựu ác, chung năng tổng ngự hoàng ky, khắc thành hồng nghiệp giả, duy kỳ minh lược tối ưu dã. Ức khả vị phi thường chi nhân, siêu thế chi kiệt hĩ.”
Tạm dịch là:
Cuối đời nhà Hán, thiên hạ đại loạn, các bậc hào kiệt cùng nhau trỗi dậy mà Viên Thiệu lúc ấy chiếm giữ bốn châu, thế lực mạnh mẽ không ai địch nổi. Thái Tổ đã vận dụng mưu lược, đánh dẹp khắp trong thiên hạ; vận dụng Pháp thuật của Thân, Thương, bao quát cả kỳ kế của Hàn Tín, Bạch Khởi; bổ nhiệm quan lại đúng với tài năng, tùy tài mà sử dụng; nén tình riêng để dùng mưu tính toán, không để bụng chuyện cũ. Cuối cùng có thể nắm giữ vận mệnh quốc gia, hoàn thành nghiệp lớn, ấy là nhờ minh lược (mưu lược sáng suốt) của ông vượt trội hơn cả. Có thể gọi ông là bậc người phi thường, là bậc hào kiệt siêu thế vậy.
La Quán Trung (Trích Tam quốc chí thông tục diễn nghĩa):
“Hùng tai Ngụy Thái Tổ, thiên hạ tảo lang yên. Động tĩnh giai tồn trí, cao đê thiện dụng hiền. Trường khu bách vạn chúng, thân chú ‘thập tam thiên’. Hào kiệt đồng thì khởi, thùy nhân cảm tặng tiên?”
Tạm dịch là:
Hùng vĩ thay Ngụy Thái Tổ, Quét sạch khói lửa khắp thế gian. Mọi động tĩnh đều chứa đựng trí tuệ, Dù cao hay thấp đều khéo dùng người hiền. Tiến quân thần tốc hàng triệu quân, Tự tay chú giải ‘Mười ba thiên’ (Binh pháp Tôn Tử). Hào kiệt cùng thời đồng loạt nổi lên, Nhưng nào có ai dám vung roi vượt mặt ông?
Lý Toản (Trích Hậu Hán Thư – Quyển 67, Đảng cố liệt truyện):
“Thì tương loạn hĩ, thiên hạ anh hùng vô quá Tào Tháo.”
Tạm dịch là:
Thời thế sắp loạn rồi, anh hùng trong thiên hạ không ai có thể vượt qua được Tào Tháo.
Lương Mậu (Trích Tam quốc chí – Ngụy thư – Lương Mậu truyện):
“Tào Công ưu quốc gia chi nguy bại, mẫn bách tính chi khổ độc, suất nghĩa binh vi thiên hạ tru tàn tặc, công cao nhi đức nghiễm, khả vị vô nhị hĩ.”
Tạm dịch là:
Tào Công lo nỗi nguy vong của quốc gia, thương xót nỗi thống khổ của trăm họ, dẫn nghĩa binh đi tiêu diệt lũ tàn tặc cho thiên hạ, công cao đức rộng, có thể nói là không có người thứ hai.
Thế tử Tôn Sở (Trích Tấn thư – Liệt truyện thứ 26):
“Thái Tổ thừa vận, thần vũ ứng kỳ, chinh thảo bạo loạn, khắc ninh khu hạ; hiệp kiến linh phù, thiên mệnh ký tập, toại khuếch hoằng cơ, yểm hữu Ngụy vực.”
Tạm dịch là:
Thái Tổ vâng theo vận số, dùng thần võ đáp ứng thời cơ, chinh phạt những kẻ bạo loạn, dẹp yên cõi Hoa Hạ; cùng xây điềm lành, thiên mệnh đã hội tụ, từ đó mở mang nền móng vĩ đại, bao la toàn bộ bờ cõi nước Ngụy.
Lục Cơ (Trích Điếu Ngụy Vũ Đế văn – Văn tế Ngụy Vũ Đế):
“Tiếp hoàng Hán chi mạt tự, trị vương đồ chi đa vi, trữ trọng uyên dĩ dục lân, phủ khánh vân nhi hà phi. Vận thần đạo dĩ tái đức, thừa linh phong nhi phiến uy. Tồi quần hùng nhi điện kích, cử kình địch kỳ như di. Chỉ bát cực dĩ viễn lược, tất tiễn yên nhi hậu tuy. Ly tam tài chi khuyết điển, khải thiên địa chi cấm vi. Cử tu võng chi tuyệt kỷ, nữu đại âm chi giải huy. Tảo vân vật dĩ trinh quan, yếu vạn đồ nhi lai quy. Phi đại đức dĩ hoành phúc, viên nhật nguyệt nhi tề huy. Tể nguyên công vu cửu hữu, cố cử thế chi sở thôi.”
Tạm dịch là:
Tiếp nối mạch cuối của nhà Hán rực rỡ, gặp lúc con đường làm Vương gặp nhiều trắc trở; (ông) như rồng ẩn nơi vực sâu nuôi dưỡng vây vẩy, đợi lúc cưỡi mây lành mà bay cao vạn dặm. Vận dụng đạo thần kỳ để tải đức, nương gió linh thiêng mà tỏa rộng uy nghiêm. Đánh tan quần hùng nhanh như điện xẹt, dẹp bỏ quân thù mạnh bạo nhẹ tựa hư không. Nhìn ra tám cõi với mưu lược sâu xa, quyết quét sạch loạn lạc rồi mới bình định. Chỉnh đốn những điển chương thiếu sót của Tam tài (Thiên – Địa – Nhân), mở ra cánh cửa cấm vi của Trời đất. Khôi phục lại kỷ cương đã đứt gãy, nối lại âm thanh đại nhạc đã tiêu tán. Quét sạch mây mù để nhìn thấy sự ngay chính, quy tụ muôn nẻo về một mối. Mang đức lớn bao phủ rộng khắp, sánh cùng nhật nguyệt tỏa sáng rạng ngời. Lập công đầu cứu giúp chín châu, thực là bậc mà cả thế gian đều tôn sùng.
Phan Nhạc (Trích Tây Chinh phú):
“Ngụy Vũ hách dĩ đình chấn, phụng nghĩa từ dĩ phạt bạn, bỉ tuy chúng kỳ yên dụng, cố chế thắng vu miếu toán.”
Tạm dịch là:
Ngụy Vũ Đế hiển hách như sấm sét kinh thiên, mang danh chính nghĩa để đánh dẹp quân phản loạn; kẻ địch kia dẫu đông thì có làm gì được, bởi chiến thắng vốn đã được toan tính từ mưu lược tại chốn miếu đường.
Vương Đạo (Trích Tấn thư – Liệt truyện thứ 35):
“Tích Ngụy Vũ, đạt chính chi chủ dã; tuân Văn Nhược, công thần chi tối dã.”
Tạm dịch là:
Xưa kia Ngụy Vũ Đế là bậc minh quân thông hiểu chính sự; còn Thôi Văn Nhược (Thôi Úc) chính là bậc công thần đứng đầu.
Bùi Tùng Chi (Trích chú giải Tam quốc chí – Ngụy chí – Vũ Đế kỷ):
“Ngụy Thái Tổ ky biến vô phương, lược bất thế xuất.”
Tạm dịch là:
Ngụy Thái Tổ cơ biến khôn lường, mưu lược xuất thế gian (hiếm có trên đời).
Vương Bột (Trích Tam Quốc luận):
“Ngụy Vũ dụng binh, phảng phật Tôn Ngô. Lâm địch chế kỳ, tiên hữu tang bại, cố năng đông cầm giảo Bố, bắc tẩu cường Viên, phá Hoàng Cân vu Thọ Trương, trảm khôi cố vu Xạ Khuyển. Viên qua bắc chỉ, Tháp Đốn huyền lô; ủng bái nam lâm, Lưu Tông thúc thủ.”
Tạm dịch là:
Ngụy Vũ Đế dùng binh, có thể sánh ngang với Tôn Vũ, Ngô Khởi. Khi đối mặt với quân thù thường dùng kỳ kế, rất ít khi bại trận. Bởi thế ông mới có thể phía Đông bắt sống Lữ Bố xảo quyệt, phía Bắc đánh đuổi Viên Thiệu hùng mạnh, dẹp tan quân Hoàng Cân tại Thọ Trương, chém Sĩ Cố ở Xạ Khuyển. Vung giáo chỉ hướng Bắc, thủ cấp của Tháp Đốn phải treo cao; phất cờ tiến xuống Nam, Lưu Tông phải khoanh tay đầu hàng.
Trương Thuyết (Trích Nghiệp Đô dẫn):
“Quân bất kiến Ngụy Vũ thảo sang tranh thiên lộc, quần hùng nhai tí tương trì trục. Trú huề tráng sĩ phá kiên trận, dạ tiếp từ nhân phú hoa ốc. Đô ấp liễu nhiễu Tây sơn dương, tang du hãn mạn chương Hà khúc. Thành quách vi khư nhân đại cải, đãn hữu Tây Viên minh nguyệt tại. Nghiệp bàng cao trủng đa quý thần, nga mi mạn lục cộng hôi trần. Thí thượng Đồng Đài ca vũ xử, duy hữu thu phong sầu sát nhân.”
Tạm dịch là:
Các vị chẳng thấy sao, thuở Ngụy Vũ sơ khai tranh thiên mệnh, Khắp quần hùng trừng mắt đuổi rượt nhau. Ngày sát cánh tráng sĩ phá những trận kiên cố. Đêm cùng bậc văn nhân vịnh gác hoa. Đô thành uốn lượn phía núi Tây, Dâu tằm bát ngát khúc sông Chương. Thành quách hóa gò hoang, người thay đổi, Chỉ còn trăng sáng chốn Tây Viên. Nghiệp Thành mộ cổ đầy quan quý, Mày ngài mắt phượng cũng tro bụi. Thử lên Đồng Đài nơi ca múa, Chỉ thấy gió thu sầu chết người.
Trương Đỉnh (Trích Nghiệp Thành dẫn):
“Quân bất kiến hán gia thất thống tam linh biến, ngụy vũ tranh hùng lục long chiến. Đãng hải thôn giang chế Trung Quốc, hồi thiên vận đấu ứng nam diện. Ẩn ẩn đô thành tử mạch khai, điều điều phân dã hoàng tinh kiến. Lưu niên bất trú chương hà thủy, minh nguyệt nga chung nghiệp quốc yến. Văn chương do nhập quản huyền tân, duy tọa không tiêu hồ thỏ trần. Khả tích vọng lăng ca vũ xử, tùng phong tứ diện mộ sầu nhân.”
Tạm dịch là:
Các vị chẳng thấy sao, nhà Hán mất ngôi điềm lạ xuất hiện, Ngụy Vũ tranh hùng trận chiến sáu rồng đánh nhau. Quét sạch biển khơi, nuốt trọn sông dài, trị vì Trung Quốc, Xoay chuyển càn khôn, ứng mệnh xưng vương. Thấp thoáng đô thành, đường tía mở ra, Thăm thẳm cõi trời, sao vàng chợt hiện. Năm tháng chẳng dừng theo dòng nước sông Chương, Trăng sáng bỗng tan sau buổi yến tiệc nước Nghiệp. Văn chương vẫn mới, vang cùng tiếng nhạc, Trướng cũ trống không, bụi phủ hang cáo thỏ. Đáng tiếc nơi múa hát nhìn về lăng mộ năm xưa, Gió thông bốn bề, sầu muộn lúc hoàng hôn.
Hà Khứ Phi (Trích Hà Tiến sĩ luận binh):
“Ngôn binh vô nhược Tôn Vũ, dụng binh vô nhược Hàn Tín, Tào Công. Vũ tuy dĩ binh vi thư, nhi bất thậm kiến vu kỳ sở tự dụng. Hàn Tín bất tự vi thư, Tào Công tuy vi nhi bất kiến vu hậu thế. Nhiên nhi truyện xưng nhị nhân giả chi học giai xuất vu vũ, thị dĩ năng thần vu dụng nhi bất cùng. Thiết thường cứu chi, vũ chi thập tam thiên, thiên hạ chi học thất giả sở thông tụng dã. Sử kỳ giai tri sở dĩ dụng chi, tắc thiên hạ thục bất vi hàn, tào dã? Dĩ Hàn, Tào vị hữu kế vu hậu thế, tắc phàm đắc vũ chi thư phục nhi độc chi giả, vị tất giai năng bạn vu chiến dã.”
Tạm dịch là:
Bàn về binh pháp không ai bằng Tôn Vũ, dùng binh không ai bằng Hàn Tín và Tào Công. Tôn Vũ tuy viết sách về binh pháp, nhưng không thấy nhiều minh chứng về việc tự mình cầm quân. Hàn Tín không tự viết sách, Tào Công tuy có viết nhưng hậu thế không được thấy (trọn vẹn). Tuy nhiên, người xưa truyền rằng cái học của hai người này đều xuất phát từ Tôn Vũ, nhờ đó mà có thể dùng binh biến hóa như thần, không bao giờ cạn kiệt. Từng nghiên cứu sâu và thấy rằng: mười ba thiên của Tôn Vũ là thứ mà kẻ học binh trong thiên hạ đều đọc thuộc lòng. Nếu ai cũng biết cách áp dụng chúng, thì thiên hạ chẳng phải ai cũng là Hàn Tín, Tào Tháo sao? Nhưng vì sau này không còn ai tiếp nối được như Hàn, Tào, nên mới biết rằng kẻ chỉ cầm sách Tôn Vũ lên đọc, chưa chắc đã có thể đảm đương được trận mạc thực tế.
Chân dung Ngụy Vũ Đế Tào Tháo. (Ảnh: Phạm vi công cộng)
Nhưng bắt đầu từ thời nhà Tấn, đã có một số người bắt đầu phỉ báng, thóa mạ Tào Tháo. Tôn Thịnh trong cuốn Dị đồng tạp ngữ đã viết lại lời phê của Hứa Thiệu dành cho Tào Tháo thành “gian hùng thời loạn”, và còn kể lại việc Tào Tháo giết cả nhà Lã Bá Sa với câu nói: “Ta thà phụ người, chứ không để người phụ ta!”. Qua sự tô vẽ của “Tam Quốc Diễn Nghĩa”, dù đa phần đều là hư cấu, nhưng đã hủy hoại hình ảnh anh hùng thực sự của Tào Tháo, biến ông trở thành hình tượng gian hùng tiêu cực nhất trong thiên hạ. Đối với việc Tào Tháo tấn công Đào Khiêm ở Từ Châu, Tôn Thịnh cũng chỉ trích rằng: “Lấy cớ trị tội Đào Khiêm mà tàn sát cả thuộc hạ và dân chúng của ông ta, thật là quá đáng”, cùng nhiều lời lẽ tương tự.
Tập Tạc Sỉ thời Đông Tấn trong cuốn Hán Tấn Xuân Thu là người đầu tiên gọi Tào Tháo là kẻ soán nghịch: “Vào thời Tam Quốc, nhà Thục vì là tông thất nên mới là chính thống; Ngụy Vũ dẫu được nhà Hán nhường ngôi cho nhà Tấn, thì vẫn bị coi là kẻ soán nghịch”. Thậm chí ông ta còn nói: “Tuyên Hoàng tổ khảo (Tư Mã Ý) từng lập công cho nhà Hán”, một sự bóp méo lịch sử trắng trợn.
Chịu ảnh hưởng từ Tôn Thịnh, Tập Tạc Sỉ và những người khác, từ thời Nam Bắc triều đến sau đời Đường, Tống, người ta bắt đầu chuyên tâm lựa chọn những câu chuyện mang tính chỉ trích, bôi nhọ hình tượng Tào Tháo để quảng bá rộng rãi. Điều này khiến cho hình ảnh anh hùng thực thụ của Tào Tháo ngày càng sa sút.
Lưu Nghĩa Khánh (nhà văn thời Nam triều Tống, cháu gọi Lưu Dụ – Tống Vũ Đế bằng bác) trong cuốn Thế thuyết tân ngữ đã nhìn nhận Tào Tháo là kẻ “giả quyệt” (dối trá và xảo quyệt).
Từ thời Ngũ Đại trở đi, các chính quyền an phận ở miền Nam mà đại diện là Nam Đường và Nam Tống, đã tự ví mình như Đông Ngô và Thục Hán thời Tam Quốc. Họ sáng tạo ra cái gọi là “Nam triều chính thống luận”, xem tất cả các chính quyền ở phương Bắc đều là “ngụy triều” và quân thù. Thêm vào đó, sự trỗi dậy của Trình Chu Lý học thời nhà Tống vốn đặc biệt coi trọng đạo quân thần và lễ giáo, đã biến việc đẩy hình tượng Tào Tháo về phía phản diện trở thành một nhu cầu chính trị của triều đình đương thời.
Tư Mã Quang thời nhà Tống khi biên soạn bộ Tư Trị Thông Giám đã đưa ra nhận định về Tào Tháo; ông không sử dụng cụm từ “anh hùng thời loạn” trong cuốn Hậu Hán Thư – Hứa Thiệu truyện, mà lại chọn dùng cụm từ “gian hùng thời loạn” của Tôn Thịnh.
Đến thời Nam Tống, thái độ thù ghét Tào Tháo càng trở nên gay gắt. Chu Hy khi soạn bộ Thông Giám Cương Mục, thà để trống một khoảng thời gian vài tháng cũng nhất quyết xóa bỏ niên hiệu Hoàng Sơ của nhà Ngụy để dùng niên hiệu Chương Vũ của Lưu Bị. Ông ta gọi thẳng Tào Tháo là kẻ “trộm cướp ngôi Vua”, và khinh miệt coi Tào Tháo như một tên giặc.
Từ thời Nguyên đến giai đoạn chuyển giao giữa đời Nguyên và đời Minh, số lượng vở tạp kịch lấy đề tài Tam Quốc trên sân khấu hý khúc lên tới hơn 60 loại. Đại bộ phận các tác phẩm này đều lấy Thục Hán làm trung tâm, mang tư tưởng tôn Lưu biếm Tào (tôn vinh Lưu Bị, hạ thấp Tào Tháo), ca ngợi họ Lưu và ức chế họ Tào. Suốt các triều đại Nguyên, Minh, Thanh, hình tượng Tào Tháo bị định hình là kẻ “gian hùng”; phàm là những điểm tốt của Tào Tháo, thảy đều không được đưa vào kịch bản.
Chỉ xin ghi lại một đoạn sử liệu nêu trên, để chính lại dư luận.
Trong tác phẩm: “Tam Quốc Chí – Thục chí – Gia Cát Lượng truyện”, bài “Long Trung đối” nổi tiếng hậu thế có ghi lại lời Gia Cát Lượng đáp lời Lưu Bị rằng: “Tào Tháo có thể đánh thắng Viên Thiệu, chuyển yếu thành mạnh, không chỉ do thiên thời mà còn nhờ vào mưu lược của con người vậy. Nay Tháo đã nắm trong tay quân đội cả triệu, khống chế Thiên tử để ra lệnh cho chư hầu, đây quả thực là lúc không thể tranh giành hơn thua với ông ta.” Gia Cát Lượng vốn là bậc quân sư của Lưu Bị, am tường thiên văn, hiểu rõ đại nghĩa. Bản thân phe mình không nắm giữ Thiên tử tức là đã mất đi cái “nghĩa” khi xuất quân, nên việc ông gọi Tào Tháo là “khống chế Thiên tử để ra lệnh cho chư hầu” vốn là lời của kẻ đối địch, không có gì lạ. Tuy nhiên, việc ông tán dương Tháo hội tụ đủ cả “thiên thời lẫn nhân mưu” thực chất lại chính là sự ngưỡng mộ của kẻ thù dành cho Tào Tháo vậy.
Mặt khác, “Tam Quốc Chí – Ngụy thư – Mao Giới truyện” chép: “Mao Giới nói với Thái Tổ (Tào Tháo) rằng: ‘Kẻ dùng binh có chính nghĩa sẽ thắng… nên phụng thờ Thiên tử để ra lệnh cho kẻ bất tuân’, Thái Tổ kính cẩn tiếp thu lời ấy.” Lại nữa, “Tam Quốc Chí – Ngụy thư – Giả Hủ truyện” ghi lời Giả Hủ nói: “Tào công phụng thờ Thiên tử để hiệu lệnh thiên hạ”. Cùng lúc đó, “Tam Quốc Chí – Ngụy thư – Viên Thiệu truyện” chép mưu sĩ Thư Thụ hiến kế cho Viên Thiệu rằng nên: “Khống chế Thiên tử để ra lệnh cho chư hầu, nuôi dưỡng quân mã để thảo phạt kẻ không quy phục”. “Khống chế” là uy hiếp, cưỡng chế; còn “Phụng thờ” là tôn trọng, tuân theo. Chỉ sai lệch một chữ mà đi chệch cả dặm. La Quán Trung trong “Tam Quốc Diễn Nghĩa” đã cố ý lấy cái “khống chế Thiên tử” của Viên Thiệu thay thế cho cái “phụng thờ Thiên tử” của Tào Tháo để gán lên mình Tào Tháo. Bôi nhọ một vĩ nhân, để lại cái hại cho con cháu trăm đời. “Tam Quốc Diễn Nghĩa” đã xấu xa hóa, gian hùng hóa Tào Tháo, nói ông là kẻ khát máu, tàn nhẫn, khắc họa ông thành hiện thân của sự nham hiểm, quỷ quyệt, gian trá và kẻ trộm cướp ngôi Vua, gây hiểu lầm nghiêm trọng cho hậu thế. Đó thực sự không phải là một Tào Tháo chân thực trong lịch sử!
(Còn tiếp)
Dịch từ:


