Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật thiên cổ anh hùng của văn hóa Thần truyền 5000 năm
[ChanhKien.org]
Trì hoãn chiến tranh
Năm 1932, Tưởng Giới Thạch trong bài diễn thuyết tại trường Sỹ quan Lục quân đã dự đoán: “Theo tôi thấy thì vào khoảng năm 1936… E rằng đại chiến thế giới lần hai sẽ bắt đầu…” “Vào thời điểm cuộc đại chiến lần này bùng nổ, cũng chính là thời khắc then chốt cho sự tồn vong của Trung Quốc chúng ta.” (“Con đường Phục hưng Trung Quốc”, 1932).
Sau trận Bắc phạt, Tưởng Giới Thạch liền mời cố vấn quân sự người Đức đến Trung Quốc huấn luyện quân đội, sáng lập ngành công nghiệp quân sự, đặt ra chiến lược quốc phòng, thậm chí tham gia chiến tranh. Cuối cùng Trưởng đoàn cố vấn – Thượng tướng Falkenhausen trước khi hết nhiệm kỳ đã giúp Tưởng Công lập ra chiến lược kháng Nhật, cũng đã tham gia chiến dịch Tùng Hỗ (Thượng Hải) và chiến dịch Đài Nhi Trang.
Trong khoảng thời gian “Mười năm hoàng kim” từ Bắc phạt đến kháng Nhật, kinh tế Trung Quốc có sự phát triển nhảy vọt. Tưởng Công đã nói trong “Vận mệnh của Trung Quốc”: “Trong mười năm này, Chính phủ quốc dân ở trong tình cảnh hiểm nguy ngậm đắng nuốt cay, run rẩy lo sợ, ăn bữa nay lo bữa mai, nhưng vẫn có thể thúc đẩy phát triển kinh tế quốc dân, giảm dần chi phí nhập khẩu hàng tiêu dùng, mà các công cụ máy móc nhập khẩu thì lại dần dần tăng lên, đủ để thấy được sự phát triển của các ngành công nông nghiệp và khai thác ở trong nước. Mà thành tích hiển lộ rõ nhất là các chính sách về giao thông và tài chính.” “Chúng ta hôm nay kháng chiến, khiến cho quân sự và kinh tế có thể đứng ở thế không bị thất bại, thực sự là nhờ chính sách này vậy.”
Dù vậy, năm 1937, tổng sản lượng công nghiệp của Nhật Bản gấp 4,5 lần Trung Quốc (tức 6 tỷ USD so với 1,4 tỷ USD của Trung Quốc), tổng sản lượng sắt thép gấp 145 lần Trung Quốc (5,8 triệu tấn so với 40 nghìn tấn), tổng sản lượng than đá gấp 4 lần (50,7 triệu tấn so với 12,6 triệu tấn), sản lượng dầu mỏ gấp 130 lần (169 triệu tấn so với 1,31 triệu tấn), sản lượng đồng gấp 125 lần (87 nghìn tấn so với 0,7 nghìn tấn). Quân Nhật còn có năng lực sản xuất máy bay hằng năm là 1.580 chiếc, các loại pháo hạng nặng là 744 chiếc, xe tăng 330 chiếc, ô tô 9.500 chiếc, đồng thời có năng lực chế tạo tàu thuyền với tải trọng 470.000 tấn và tàu chiến với tải trọng 60.000 tấn, còn Trung Quốc thì lại không có năng lực sản xuất vũ khí hạng nặng. Theo thống kê của chuyên gia quân sự Mỹ đương thời: hỏa lực của sư đoàn hạng A của Nhật Bản gấp ba đến bốn lần quân đoàn Trung ương, và ít nhất gấp hơn sáu lần các đội quân phiệt hỗn tạp tại địa phương.
Theo hồi ức của Tôn Nguyên Lương, một vị tướng lĩnh của quân Quốc Dân tham gia trận chiến ở Tùng Hỗ (Thượng Hải): “Một sư đoàn của quân Nhật có hơn 5.000 con ngựa, 500 chiếc xe hơi, mỗi người một cây súng trường; nhưng mỗi sư đoàn của quân Quốc Dân chỉ có 3.800 cây súng trường, vừa thiếu xe tăng, lại không có sự phối hợp giữa lục – không quân, các sư đoàn gần như không có đại bác. Binh sĩ của chúng ta thường khi ra đến chiến trường thấy xe tăng của quân địch, mới hiểu được trong thiên hạ lại có loại vũ khí mới kiểu này. Chiến sự vừa mới bắt đầu thì lại phát hiện binh lính bị thương thiếu thốn y sĩ lẫn thuốc men, lực lượng vận động khắp cả nước được ba triệu đến năm triệu người, thế nhưng chỉ có một triệu khẩu súng trường, hơn nữa 300 tấn nguyên liệu thô mà nhà máy sản xuất vũ khí cần dùng hàng tháng để chế tạo vũ khí và đạn đạo lại phải phụ thuộc máy bay Mỹ chuyển tới bằng đường hàng không. Đạn chế tạo xong trung bình mỗi binh sĩ được phát bốn viên, bao gồm cả đạn súng máy. Lúc Tướng quân Stilwell nhậm chức tùy viên quân sự Hoa Kỳ tại Trung Quốc, từng tận mắt chứng kiến, vào năm 1938 trong chiến dịch Đức An Giang Tây có một đoàn quân thế này, cả đoàn chỉ có bốn khẩu súng máy hạng nhẹ (theo biên chế cần phải có 100 khẩu), mỗi khẩu chỉ có 200 viên đạn, bắn 10 phút là hết. Đoàn quân này đã chiến đấu ác liệt với quân Nhật suốt hai ngày đêm, tử vong 600 người, bị thương 500 người, còn lại 400 người nghe lệnh rút lui. Sau khi cuộc chiến Triều Tiên nổ ra, tôi đã kinh doanh ở Nhật Bản nhiều năm, đọc hết các văn kiện và lịch sử chiến tranh của quân đội Nhật Bản, họ đã ghi chép rằng thi thể của quân Quốc Dân nằm rải rác trên trận địa là nhiều gấp hơn 20 lần quân Nhật Bản.”
Đối mặt với dã tâm bành trướng của Nhật Bản, thái độ của người dân trong nước phân thành hai phe: “Một phe thì chán chường, muốn được an nhàn dưới ách thống trị của Nhật, đề xướng thuyết “bất chiến” (không đánh Nhật). Còn một phe thì quá khích, mượn cớ ngoại giao để tạo xung đột nội bộ, họ đã đề xướng thuyết “thúc chiến” (thôi thúc chiến tranh). Bọn họ đã quên đi sự kiện lịch sử hòa nghị (đàm phán hòa bình) hồi cuối thời Tống, từng suýt đẩy dân tộc vào cảnh diệt vong. Bọn họ lại cũng không biết sự kiện “thúc chiến” cuối thời Minh, từng gây ra tổn thương nghiêm trọng cho binh lính vùng biên cương, dẫn đến thảm trạng thất bại mất nước không thể cứu vãn” (Vận mệnh của Trung Quốc).
Tưởng Giới Thạch cổ vũ người trong nước: “Hiện tại những quốc gia có tư cách độc lập trên địa cầu chỉ có ba nước: một là Trung Quốc chúng ta, thứ hai là nước Mỹ, và thứ ba là nước Nga. Mà trong ba quốc gia này, nước có dân số đông nhất lại là Trung Quốc chúng ta, cho nên nếu Trung Quốc chúng ta thật sự có thể thống nhất, tự cường, thì không chỉ không quốc gia nào dám xâm lược Trung Quốc, mà hơn nữa sẽ không có một quốc gia nào dám không tôn kính Trung Quốc.” (Tuần lễ tưởng niệm Thủ tướng tại trường Quân sự vào ngày 2/5/1932).
Năm 1934, Tưởng Giới Thạch nói trong buổi thuyết giảng cho đoàn huấn luyện Sĩ quan Lư Sơn rằng: “Lúc tôi ở Nhật Bản, thường hay đàm luận về vấn đề chính trị quốc tế cùng các tướng lĩnh của họ, họ nói một cách thực thà rằng: Hiệp ước bất quá chỉ là một trang giấy, xé đi là xong. Bởi vậy có thể thấy được bọn họ từ trước đến nay đều không có coi trọng tín nghĩa, hiệp ước nào cũng chẳng xem ra gì, trước nay vẫn chủ trương cường quyền, sùng bái vũ lực, lúc nào cũng chuẩn bị sẵn sàng tác chiến với nước đối địch.” “Chúng ta tưởng nhớ lại thời kỳ 15 năm Dân Quốc, Đại tướng Tanaka của họ, luôn phán đoán quân cách mạng Quốc Dân của chúng ta, nội trong vòng nửa năm nhất định sẽ tự tàn sát lẫn nhau, tất yếu sẽ tự thất bại.” Người Nhật Bản “trước nay luôn nhận định quân nhân Trung Quốc chúng ta sẽ chẳng ra trò trống gì”. “Nên biết rằng chúng ta là đồng bào dân tộc Trung Hoa, là con cháu Viêm Hoàng, có một thiên chất ưu tú đặc biệt, bất luận khó khăn ra sao, nguy hiểm thế nào, dù có khó khăn nghiêm trọng đến đâu, kẻ địch có lớn mạnh đến mức nào, chúng ta đều nhất định có phương pháp đánh bại chúng.” (Trích trong Chống ngoại xâm cùng phục hưng dân tộc, năm 1934).
Tháng 01/1936, Tưởng Giới Thạch trong buổi diễn thuyết động viên tại Nam Kinh, đã vạch trần chiến lược của Nhật Bản: “Chính trong nội bộ người Nhật cũng không ngại mà công khai rằng, chỉ cần đả đảo Tưởng Giới Thạch tiêu diệt Quốc Dân đảng, Trung Quốc sẽ bị chia năm xẻ bảy hỗn loạn không dứt”. “Nhật Bản hà tất gì lại xem Quốc Dân đảng và Tưởng Giới Thạch tôi đây như là cái đinh trong mắt vậy? Nguyên nhân căn bản gốc rễ, chính là họ vốn có một chính sách truyền thống để xâm lược Trung Quốc, mà Quốc Dân đảng Trung Quốc chúng ta cũng lại có một chính sách truyền thống để cứu lấy Trung Quốc, chính sách truyền thống của đôi bên vừa hay lại đối chọi gay gắt, xung khắc tuyệt đối.” “Bọn họ không xem người Trung Quốc như con người, không xem Trung Quốc như một quốc gia, họ đã nhìn thấu rằng Trung Quốc tuy có 400 triệu người, nhưng trên thực tế lại không có ai [làm được gì];… Bọn họ cho rằng Đảng cách mạng tuyệt đối không có cách nào có thể khởi sắc lên được, lời thề xuất quân Bắc phạt, chỉ như trò cười. Sau này khi quân cách mạng chúng ta một mạch đánh thẳng tới Vũ Hán, chiếm lĩnh Nam Kinh, Thượng Hải, họ vô cùng ngạc nhiên, không biết Đảng cách mạng từ trong đống đổ nát đã làm thế nào mà bỗng nhiên có thể từ Quảng Đông đánh được đến lưu vực sông Trường Giang!”. (“Đường lối quan trọng để Chính phủ và Nhân dân cùng cứu nước”, năm 1936).
“Trước tháng Sáu năm ngoái, quốc gia chúng ta có thể nói là không còn nền tảng, ăn bữa hôm lo bữa mai, còn Nhật Bản chỉ trong một tháng có thể tiêu diệt toàn bộ Trung Quốc chúng ta! Nhưng từ sau tháng Sáu năm ngoái, bởi vì chúng ta đã thống nhất ba tỉnh Xuyên Điền Kiềm (tức ba tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam, và Quý Châu), những nền tảng cuối cùng cho sự tồn vong quốc gia, từ nay đã ổn định”. (“Đường lối quan trọng để Chính phủ và Nhân dân cùng cứu nước”, năm 1936). Tưởng Giới Thạch nói với người dân cả nước, Đại Tây Nam là bảo địa đắc thắng để khắc chế địch. Sự thật sau này hoàn toàn đã chứng thực được luận thuật của ông.
Trong nhật ký của mình ngày 21/08/1935, Tưởng Công đã tiên đoán viễn cảnh quan hệ Nhật – Trung: “(1) Đối với Trung Quốc họ sẽ không chiến mà phục. (2) Đối với Trung Quốc chỉ có thể phân hóa để uy hiếp, tạo ra thổ phỉ Hán gian, khiến chúng làm nhiễu loạn, chứ không thể dùng vũ lực thật sự chinh phục Trung Quốc. (3) Cuối cùng là dùng binh tiến công. (4) Trung Quốc kháng cự lại. (5) Bị quốc tế can thiệp và dẫn đến chiến tranh thế giới. (6) Nước Nhật nổ ra nội loạn và cách mạng. (7) Giặc Oa (chỉ Nhật Bản) sẽ bị thất bại trong vòng 10 năm.” Ngoại trừ điều thứ 6, thì tất cả đều đã đúng!
Tháng 11/1935, Tưởng Công đã tuyên bố trong đại hội toàn quốc lần thứ 5 của Quốc Dân đảng: “Hòa bình chưa tới thời kỳ tuyệt vọng hết mức, quyết không từ bỏ hòa bình, hy sinh chưa tới giây phút cuối cùng, quyết không xem nhẹ hy sinh.” Mục tiêu của Tưởng Giới Thạch là trì hoãn chiến tranh bùng nổ, tranh thủ thời gian, chuẩn bị cho thời cơ cuối cùng.
(Còn tiếp)
Dịch và chỉnh lý từ:
https://www.epochtimes.com/gb/16/12/17/n8601942.htm
https://w3.etviet.com/thien-co-anh-hung-tuong-gioi-thach-ky-12-tri-hoan-chien-tranh_241363.html