Tác giả: Tổ nghiên cứu Nhân vật Thiên cổ anh hùng của văn hóa Thần truyền huy hoàng 5000 năm
[ChanhKien.org]
Sau sự biến Huyền Vũ Môn, Thái Tông nắm giữ triều chính. Ngày mùng 08 tháng 08 năm Vũ Đức thứ chín (năm 626), vị Thiên tử đầu tiên của đế quốc Đại Đường là Lý Uyên chính thức hạ chiếu, nhường ngôi cho Thái Tông. Thái Tông khẩn thiết từ chối không nhận, dâng lên tờ “Trần nhượng thiện vị biểu”. Cao Tổ lại ban tờ chiếu do chính tay ông viết một lần nữa khẳng định việc nhường ngôi cho Thái Tông. Thái Tông không dám từ chối thêm, bèn tiếp nhận đế vị.
Chương 1: Thuở đầu Trinh Quán
Đại xá thiên hạ
Ngày mùng 09 tháng 08, Thế Dân đăng cơ làm đế tại Điện Hiển Đức ở Đông Cung. Cùng ngày hôm đó, Ngài ban lệnh đại xá thiên hạ, miễn thuế ruộng và sưu thuế trong hai năm cho vùng Quan Nội cùng sáu châu: Bồ, Nhuế, Ngu, Thái, Thiểm, Đỉnh; đồng thời miễn tạp dịch một năm cho tất cả các châu còn lại.
Thái Tông – “Tức vị Đại xá Chiếu” (Chiếu đại xá khi lên ngôi):
“Duy thiên vi đại, thất chính sở dĩ thụ thì; duy ích phụng thiên, tam tài vu thị dục vật. Cố năng di luân vũ trụ, kinh vĩ càn khôn, đại tí sinh linh, xiển dương hồng liệt. Ngã Đại Đường đản ưng gia vận, tái hiệp xương kỳ, phi thụ long đồ, triệu khai phượng kỷ. Thái thượng hoàng tuẫn tề tác thánh, duệ triết khâm minh, yểm hữu bát hoang, quang trạch tứ biểu. Lao lung hiên hạo, khóa niếp ân chu, kim kính phủ lâm, ngọc chúc hà bị. Nhiên nhi chí đức phất tể, thành công bất cư, cao tạ vạn bang, ủy tư trọng khí. Giao nhân khoáng điển, sĩ dân kiều chúc, khâm duy tông xã, nghĩa tồn hưởng hiến. Trẫm dĩ quả muội, thực ưng thống tự, từ bất hoạch miễn, thức toản hồng nghiệp. Linh mệnh ký trăn, dụng thăng bảo vị, quân lâm triệu thứ, kế quỹ bách vương. Nhược thiệp đại xuyên, võng tri du tể, phương tư lệnh triết, cộng khang trì đạo. Kim thiệu tộ y thủy, phụng đáp thiên hưu. Tư phu huệ trạch, bị vu lê hiến. Khả đại xá thiên hạ.”
Tạm dịch:
Chỉ có Trời là lớn nhất, vận hành thất chính (Mặt Trời, Mặt Trăng và năm vì sao lớn) để ban định thời tiết; chỉ có bậc quân chủ vâng mệnh Trời, thuận theo tam tài để nuôi dưỡng vạn vật. Cho nên mới có thể bao quát vũ trụ, ngang dọc càn khôn, che chở sinh linh, làm rạng rỡ đại nghiệp lớn lao. Đại Đường ta may mắn đón nhận vận hội tốt đẹp, lại đúng vào thời kỳ hưng thịnh, nhận được những điểm báo cát tường từ rồng phượng. Thái Thượng Hoàng thông tuệ thành Thánh, trí tuệ sáng suốt, làm chủ tám phương, soi rọi khắp bốn cõi. Công lao bao trùm cả Hiên Viên, Phục Hy, vượt qua nhà Ân, nhà Chu; đức độ như gương vàng soi thấu, như nến ngọc chiếu xa. Thế nhưng, bậc chí đức không màng tư lợi, thành công không quản công lao, Ngài muốn rời xa muôn phương, giao lại trọng khí (ngôi báu) này. Nghi lễ tế Trời đất là điển lễ lớn lao, quân dân đều mong mỏi, kính nghĩ đến tông miếu xã tắc, nghĩa trọng ở việc phụng thờ. Trẫm vốn đức mỏng tài hèn, nay kế thừa toàn bộ sự nghiệp, từ chối không được, bèn phải tiếp nối nghiệp lớn. Mệnh Trời đã định, nay lên ngôi báu, cai trị trăm họ, nối gót trăm vị minh quân đời trước. Việc này như băng qua sông lớn, chưa biết dùng cách chi để vượt qua, đành cậy nhờ vào các bậc hiền triết, cùng nhau trị đạo yên vui. Nay nối nghiệp thuở đầu, để báo đáp hồng ân của Trời, Trẫm muốn ban bố ân huệ đến tận lê dân. Nay đại xá thiên hạ.
Đại ý là: chỉ có Trời là vĩ đại nhất, Nhật – Nguyệt và Ngũ tinh vận hành là để ghi chép thiên thời, báo cho dân chúng biết. Chỉ có bậc quân chủ vâng mệnh Trời, thuận theo “Tam tài” mà nuôi dưỡng vạn vật. Nhờ đó mà có thể bao quát cả vũ trụ, cai trị cõi đất, ban phúc cho sinh linh và phát huy công nghiệp lẫy lừng. Đại Đường thuận theo mệnh Trời mà ra đời, rồng phượng hiện điềm lành. Thái Thượng Hoàng nhường ngôi báu lại cho ta. Nay là thuở đầu kế thừa đế vị, ban lệnh đại xá thiên hạ.
Nền tảng của quốc gia
Sau khi đăng cơ, Thái Tông bắt tay vào việc quy phạm thể chế, giáo hóa thần dân, mở ra một Đại Đường với trời mới, đất mới, con người mới và những chương sử mới. Trước tiên, Thái Tông ban chiếu chỉ nhắc nhở thần dân phải tuân theo đạo trị quốc, trọng đức hạnh, mưu cầu sự chân thực, tức là làm một người chân chính. Tháng 11 năm Võ Đức thứ chín, Thái Tông ban bố “Dụ Sùng Đốc Thật Chiếu” (Chiếu chỉ khuyên răn coi trọng thực thà ngay chính):
“Lập nhân chi đạo, viết nhân dữ nghĩa; vi quốc chi cơ, đức quy vu hậu, tự hữu Tùy ngự vũ, chính khắc hình phiền, thượng hoài sai trở chi tâm, hạ vô hòa sướng chi chí. Toại sử bằng hữu du hảo, khánh điếu bất thông, hương thổ liên quan, thỉnh vấn tư tuyệt. Chí hữu lý môn tương tiếp, trí hồ việt chi quai; hoạn nan tại thân, vong cứu tuất chi nghĩa. Phong đồi tục tệ, nhất chí vu thử, hóa dân dĩ đức, khởi tư chi vị. Trẫm toản lịch ưng tư, tư hoành chí đạo, nhân triệu dân chi sở lại, cầu vạn quốc chi hoan tâm. Phàm quyết thứ liêu, hàm sử tập mục, quân thần chi tế, kỳ vu vô ẩn, vĩnh ngôn tiền thất, đặc nghi đôn lệ. Tự kim nội ngoại quan nhân. Tu tương tồn vấn, vật trí nghi trở. Hữu ngộ cứu tật, đệ gia tuân vấn, vi doanh y liệu, tri kỳ tăng tổn, bất hạnh vật cố, cập tao ưu tuất. Tùy sự úy tỉnh, dĩ thân tình hảo, vụ tòng đốc thực, các tồn chu hậu. Triều đình vô câu kỵ chi tiết, giao du hữu cửu yếu chi hoan, tuân đạo nhi hành, suất lý bất việt. Tư tắc thượng hạ giao thái, phẩm vật hàm hanh, huệ chính sở gia, đạt vu tứ biểu, bố cáo thiên hạ, hàm tri Trẫm ý.”
Tạm dịch:
Đạo lập thân của con người, ấy là Nhân và Nghĩa; nền tảng của quốc gia, ấy là ở đức dày. Từ khi nhà Tùy cai trị thiên hạ, chính sách khắc nghiệt, hình phạt phiền nhiễu, kẻ trên thì mang lòng nghi kỵ, người dưới chẳng có chí hòa hợp. Khiến cho bạn bè bằng hữu không qua lại chúc mừng hay phúng viếng, người cùng quê làm quan cùng triều cũng tuyệt không hỏi han. Thậm chí hàng xóm sát vách mà xa cách như người Hồ với người Việt; khi hoạn nạn thân mình còn chẳng xong, quên mất nghĩa cứu trợ lẫn nhau. Phong tục suy đồi đến mức này, sao có thể gọi là giáo hóa dân bằng đức được? Trẫm kế thừa đại nghiệp, muốn làm rạng rỡ đạo trị quốc cao nhất, lấy việc tạo ra những điều dân chúng trông cậy để cầu mong sự vui mừng của muôn phương. Phàm là các quan lại, tất phải hòa thuận với nhau; quan hệ quân thần kỳ vọng ở chỗ không có gì che giấu. Luôn nhắc về lỗi lầm trước kia để đặc biệt khuyên răn, gắng gỏi. Từ nay về sau, quan viên trong ngoài phải thăm hỏi lẫn nhau, chớ để lòng nghi kỵ ngăn trở. Nếu có người đau ốm, phải thay nhau hỏi han, giúp đỡ thuốc thang, theo dõi bệnh tình nặng nhẹ. Chẳng may qua đời hoặc gặp chuyện ưu phiền, cần tùy sự mà an ủi, để bày tỏ tình thân ái. Cần phải thực tâm, giữ lòng hậu đãi. Triều đình không có sự câu thúc nghi kỵ, giao du giữ được tình bền, tuân theo đạo mà làm, hành xử không vượt quá khuôn phép. Có thế thì trên dưới mới thông suốt, vạn vật đều hanh thông, chính sách ân huệ ban ra sẽ thấu đến bốn phương. Nay bố cáo thiên hạ, cho thấu hiểu ý Trẫm.
Thiện đãi chúng sinh
Năm Vũ Đức thứ chín, Thái Tông ra lệnh thả chim ưng và chó săn trong vườn thượng uyển, bãi bỏ việc cống nạp từ các phương, nghe các quan trình bày về đạo trị quốc; chính lệnh ngắn gọn mà nghiêm túc, trong ngoài đều vui mừng khôn xiết. Tháng Tám năm đó, Thái Tông ban “Cung nữ Chiếu”: “Cung nữ chúng đa, u bí khả mẫn, nghi giản xuất chi, các quy thân thích, nhâm kỳ thích nhân.” Tạm dịch là: “Cung nữ đông đúc, bị giam hãm nơi thâm cung thật đáng thương xót, nên tinh giảm cho họ ra khỏi cung, cho về với người thân, tùy ý kết hôn.” (Tư Trị Thông Giám – Quyển 191). Năm Trinh Quán thứ hai, Thái Tông vì thiện đãi chúng sinh, lại hạ chiếu thu gom mai táng hài cốt của tướng sĩ và nhân dân tử nạn, để họ được hưởng sự an nghỉ.
“Thu mai hài cốt Chiếu” viết:
“Tùy vận tương tẫn, quần hung đỉnh phí, can qua bất tức, cơ cận tương nhưng, lưu huyết thành xuyên, bạo hài mãn dã. Trẫm vãng nhân quân lữ, chu lãm xuyên nguyên, mỗi sở lâm thị, dụng thương tâm lự. Tự chi ưng bảo mệnh, nghĩa thiết ai căng, tuy đạo tạ Cơ Văn, nhi tình thâm yểm cách. Chư hữu hài cốt bạo lộ giả, nghi lệnh sở tại quan ti, thu liễm mai ế, xưng Trẫm ý yên.”
Tạm dịch:
Vận nhà Tùy sắp hết, bọn hung ác nổi lên khắp nơi, chiến tranh liên miên không dứt, đói kém nối tiếp nhau, máu chảy thành sông, thi thể phơi đầy đồng nội. Trẫm trước kia vì việc quân, đi khắp sông núi, mỗi lần trông thấy cảnh ấy đều đau lòng lo nghĩ. Nay kính vâng mệnh lớn, lòng càng thiết tha thương xót. Dẫu đạo đức chưa thể sánh với Cơ Văn Vương, nhưng tình cảm muốn thu nhặt, chôn cất hài cốt lại vô cùng sâu nặng. Phàm nơi nào có hài cốt phơi ngoài lộ, phải sai quan sở tại thu liệm, chôn cất, để hợp với ý Trẫm.
Thái Tông lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu thành Trinh Quán. Trong “Cải nguyên Trinh Quán Chiếu” viết: “Trẫm hà quan phương sách, lịch tuyển tiền vương, Đại Đạo ký ẩn, chí công tư cách, mạc bất tư thụ phong thanh, dụng long đỉnh mệnh. Thái hoàng ưng lục thụ đồ, công thành trì định, bỉ thánh nhân chi dư sự, cố thiên hạ nhi yểu nhiên. Vĩnh ngôn tục luy, cao cư vật biểu. Viên dĩ đại bảo, phủ thụ vi cung. Tự túc phụng thần khí, cức di hôi luật, chúc tam chính tại đán, vạn quốc lai đình, trường thế chi thuật ký hoành, duy tân chi mệnh phương thủy, thể nguyên cư chính, kim tắc kỳ thì. Khả cải vũ đức thập niên vi Trinh Quán nguyên niên.”
Tạm dịch:
Trẫm xem nhiều sách xưa, tuyển chọn trong khắp các bậc đế vương đời trước, khi Đại Đạo đã ẩn, đạo chí công cũng bị thay đổi; không ai là không muốn gây dựng thanh danh, làm rạng mệnh Trời. Thái hoàng phụ nhận mệnh Trời, sự nghiệp đã thành bình định thiên hạ, coi những việc còn lại của bậc Thánh nhân chỉ là phần dư, nhìn thiên hạ mà buồn bã. Người thường nói thế tục mệt mỏi, ở địa vị cao vượt trên muôn vật. Vì thế mới đem ngôi báu trao xuống thân Trẫm. Từ khi kính cẩn tiếp nhận Thần khí, liền gấp rút đổi lịch pháp. Nay ba việc chính vừa bắt đầu, muôn nước về chầu; phép trị quốc lâu dài đã được mở rộng, mà mệnh lệnh đổi mới cũng vừa khởi. Giữ gốc, ở chính — nay chính là lúc. Có thể đổi năm thứ mười niên hiệu Vũ Đức thành năm đầu niên hiệu Trinh Quán.
Từ khi Hán Vũ Đế lần đầu sử dụng niên hiệu, các Hoàng đế đời sau thường dùng niên hiệu để biểu thị sứ mệnh “nhận mệnh ở Trời”, biểu thị công khai mong muốn an bang định quốc, cầu mong Trời ban phúc cho quốc thái dân an, xã tắc bền vững.
Trong Chu Dịch – Hệ từ truyện hạ có nói: “Đạo của Trời đất chính là Trinh Quán.” Thái Tông lấy “Trinh Quán” làm niên hiệu, nhằm thể hiện đạo lý của Trời đất và vũ trụ cho hậu thế. Khí độ quang minh chính đại, bao dung rộng lớn như biển chứa trăm sông ấy quả thực hợp với đạo Trời đất – vũ trụ; danh xưng ấy lưu truyền lâu dài qua các đời, nếu không phải đạo của Trời đất – vũ trụ thì không đủ để đặt tên.
Những năm đầu Trinh Quán, Ngụy Trưng khuyên Thái Tông thi hành vương đạo, lấy chính trị nhân đức, giáo hóa dân chúng coi trọng tu thân dưỡng đức; còn Phong Đức Di và một số người khác lại đề nghị dùng pháp luật nghiêm khắc và bá đạo để quản lý quốc gia. Thái Tông tiếp nhận ý kiến của Ngụy Trưng, bên trong theo Đạo, bên ngoài dùng Nho, thuận theo ý Trời và Đại Đạo mà quản lý đất nước, đồng thời giáo hóa toàn diện dân chúng. Nhờ đó thần dân Đại Đường trong mọi ngành nghề đều coi trọng đức hạnh, nói điều thiện, cầu sự chân thành, tu dưỡng tâm tính; ai cũng có thể thăng hoa đến mức tốt đẹp, trở thành người lương thiện. Chỉ trong vài năm ngắn ngủi, nhà Đường đã xuất hiện cảnh thái bình thịnh trị.
Tranh của Từ Trọng Hòa đời Minh: “Lâm Diêm Lập Bản họa Đường Thái Tông nạp gián đồ”, trước lưu giữ tại điện Nam Huân, Cố Cung Bắc Kinh, nay bảo tồn tại Bảo tàng Cố cung Đài Bắc. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng).
Chân dung Ngụy Trưng, do họa sĩ đời Thanh vẽ. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
Đường Thái Tông cùng quần thần bàn cách ngăn chặn trộm cướp. Một số đại thần xin thi hành pháp luật nghiêm khắc để cấm trừ. Thái Tông cười nói: “Dân sở dĩ làm trộm là vì sưu thuế nặng nề, lao dịch nhiều, quan lại tham lam vơ vét, đói rét bức bách thân mình, nên không còn rảnh để nghĩ đến liêm sỉ. Trẫm nên bỏ xa hoa, tiết kiệm chi phí, giảm sưu thuế và lao dịch, tuyển dùng quan lại thanh liêm, khiến dân ăn mặc dư dả, thì tự nhiên họ không làm trộm, cần gì phải dùng pháp luật nặng nề!” Ông còn thường nói với các cận thần: “Vua dựa vào nước, nước dựa vào dân. Bóc lột dân để phụng dưỡng vua chẳng khác nào cắt thịt mình để no bụng — bụng tuy no mà thân sẽ chết; vua giàu mà nước mất. Vì thế tai họa của bậc quân chủ không đến từ bên ngoài, mà thường phát sinh từ chính bản thân mình. Muốn xa hoa thì chi tiêu rộng, chi tiêu rộng thì thuế nặng, thuế nặng thì dân oán, dân oán thì nước nguy, nước nguy thì vua mất. Trẫm thường suy nghĩ điều này, nên không dám buông thả dục vọng”.
Trong 23 năm Trinh Quán huy hoàng, Thái Tông đã dẫn dắt chúng sinh triều Đường bước lên con đường chăm lo trị quốc, tạo nên cảnh tượng thịnh thế rực rỡ. Ông giảm sưu thuế, nới lỏng hình pháp; biết người mà dùng, khiêm tốn tiếp nhận lời can gián; chuyên tâm nghiên cứu kinh sử, rút kinh nghiệm thành bại của các triều trước; loại bỏ tiểu nhân, không nghe lời gièm pha; vua tôi đồng lòng hiệp lực trị quốc. Nhờ đó chính trị trong sáng, kinh tế phồn vinh, văn hóa hưng thịnh, xã hội ổn định, đời sống nhân dân sung túc, dân số tăng trưởng, tất cả đều thể hiện thành tựu rực rỡ của đế quốc Đại Đường về mặt văn trị.
Về võ công, triều Đường diệt Đông Đột Quyết, bình định Thổ Cốc Hồn, hòa hiếu với Thổ Phồn, uy phục Cao Xương, chinh phạt Cao Câu Ly, đánh bại Tiết Diên Đà; bốn phương thần phục, muôn nước đến chầu, chiến tích hiển hách ấy khiến thiên hạ đều biết đến sức mạnh của đế quốc Đại Đường.
Vì thế thời kỳ này được gọi là “Trinh Quán chi trị”, trở thành khuôn mẫu trị quốc cho các bậc đế vương đời sau, được các triều đại hết lời ca ngợi.
Bức “Bộ liễn đồ” của Diêm Lập Bản đời Đường miêu tả cảnh sứ giả Thổ Phồn Lộc Đông Tán (thứ ba từ trái sang) vào triều yết kiến Đường Thái Tông (ở giữa bên phải). Hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cố cung Bắc Kinh. (Ảnh thuộc sở hữu cộng đồng)
(Còn tiếp)
Dịch từ:


